Thứ bảy, 15/8/2026

Điện thoại (024) 6287 3463

Đường dây nóng (024) 6287 3463

Liên hệ quảng cáo (+84)915.632.345

Thứ bảy, 15/8/2026
Hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước

Hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước

Sáng 12/8/2026, Hội đồng khoa học Kiểm toán nhà nước đã tổ chức nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước” do ThS. Đào Trọng Khánh (Kiểm toán nhà nước khu vực VIII) làm đồng chủ nhiệm. Hội đồng nghiệm thu do TS. Bùi Quốc Dũng, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Kiểm toán nhà nước làm Chủ tịch. TS Bùi Quốc Dũng, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu, đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn của đề tài Hoạt động kiểm toán môi trường ngày càng được các Cơ quan Kiểm toán tối cao sử dụng như một công cụ hữu hiệu nhằm đánh giá hiệu quả quản lý, sử dụng tài nguyên, kiểm soát ô nhiễm và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững. Nhận thức được vai trò ngày càng quan trọng của kiểm toán môi trường, thời gian qua, Kiểm toán nhà nước đã từng bước mở rộng phạm vi và nội dung kiểm toán. Giai đoạn 2018-2023, Kiểm toán nhà nước đã thực hiện hơn 40 cuộc kiểm toán có nội dung liên quan đến môi trường. Riêng năm 2024, Kiểm toán nhà nước đã triển khai nhiều cuộc kiểm toán chuyên đề như: quản lý, bảo vệ nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt; quản lý môi trường tại các khu kinh tế, khu công nghiệp; quản lý, sử dụng kinh phí bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu tại các bộ, ngành và địa phương. Thông qua hoạt động kiểm toán, Kiểm toán nhà nước đã phát hiện nhiều tồn tại, bất cập trong công tác quản lý môi trường, kiến nghị hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công dành cho bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, đại diện Ban đề tài - ThS Đào Trọng Khánh cho biết, mặc dù Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã quy định Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán trong lĩnh vực môi trường, nhưng Luật Kiểm toán nhà nước hiện hành chưa có quy định cụ thể về đối tượng, nội dung và phạm vi kiểm toán môi trường. Một số hoạt động có tác động trực tiếp đến môi trường của doanh nghiệp ngoài khu vực công chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng để đưa vào kế hoạch kiểm toán. Bên cạnh đó, hệ thống dữ liệu môi trường phục vụ kiểm toán còn phân tán, việc chia sẻ thông tin giữa các cơ quan quản lý và Kiểm toán nhà nước chưa thực sự đồng bộ. Ngoài ra, các quy định về kiểm toán môi trường trong khu vực doanh nghiệp, tiêu chuẩn chuyên môn và hướng dẫn kỹ thuật phục vụ hoạt động kiểm toán môi trường vẫn chưa được hoàn thiện. Trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện các cam kết quốc tế về phát triển bền vững, ứng phó biến đổi khí hậu và mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, yêu cầu đối với hoạt động kiểm toán môi trường ngày càng cao, đòi hỏi phải mở rộng phạm vi đánh giá đối với các vấn đề môi trường liên ngành, liên vùng và các mục tiêu phát triển bền vững. Nhóm nghiên cứu cho rằng, bên cạnh việc tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động kiểm toán môi trường, việc nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước trong giám sát, đánh giá hiệu quả chính sách môi trường, quản lý tài nguyên, sử dụng nguồn lực công cho bảo vệ môi trường và thực hiện các cam kết quốc tế là yêu cầu cấp thiết. Điều này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng quản trị môi trường quốc gia mà còn khẳng định vị thế của Kiểm toán nhà nước trong việc hỗ trợ Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện mục tiêu phát triển bền vững. Đề tài “Hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước” được thực hiện nhằm đề xuất định hướng, giải pháp hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường, đồng thời nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước trong giám sát việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công và nguồn lực công gắn với bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. ThS Đào Trọng Khánh đại diện Ban đề tài trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, đề tài đã hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề lý luận chung về môi trường, kiểm toán môi trường, cơ sở pháp lý kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước. Theo đó, kiểm toán môi trường được xác định là một lĩnh vực kiểm toán chuyên biệt, được thực hiện thông qua kiểm toán tài chính, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động. Đề tài đã phân tích, đánh giá thực trạng cơ sở pháp lý và thực tiễn triển khai kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước. Kết quả nghiên cứu cho thấy cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường ở Việt Nam đã từng bước được hình thành, nhất là khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 ghi nhận vai trò của Kiểm toán nhà nước trong lĩnh vực môi trường; đồng thời Kiểm toán nhà nước đã ban hành, cập nhật chuẩn mực, quy trình, hướng dẫn nghiệp vụ và triển khai nhiều cuộc kiểm toán có nội dung liên quan đến môi trường. Bên cạnh kết quả đạt được, đề tài cũng chỉ ra một số hạn chế, bất cập chủ yếu như: Luật Kiểm toán nhà nước chưa quy định cụ thể về đối tượng, phạm vi, nội dung, phương thức và tiêu chí kiểm toán môi trường; cơ chế tiếp cận, chia sẻ dữ liệu môi trường còn thiếu đồng bộ; thẩm quyền kiểm tra, đối chiếu đối với các chủ thể ngoài khu vực công có tác động đến môi trường còn chưa rõ; nguồn nhân lực chuyên sâu, hướng dẫn kỹ thuật và ứng dụng công nghệ còn hạn chế. Trên cơ sở đó, đề tài đã khẳng định vai trò của Kiểm toán nhà nước là công cụ giám sát độc lập, góp phần tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình, đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực công cho bảo vệ môi trường và hỗ trợ hoàn thiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường, tăng trưởng xanh, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Nhóm nghiên cứu cũng đã đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước, tập trung vào hoàn thiện Luật Kiểm toán nhà nước và pháp luật có liên quan; làm rõ phạm vi, đối tượng, thẩm quyền, quyền tiếp cận dữ liệu và trách nhiệm phối hợp; cập nhật hướng dẫn kiểm toán môi trường theo các chủ đề mới như khí nhà kính, thị trường các-bon, EPR, kinh tế tuần hoàn, tài chính xanh; đồng thời phát triển nguồn nhân lực, tăng cường sử dụng chuyên gia, ứng dụng công nghệ số và nâng cao hiệu lực thực hiện kiến nghị kiểm toán. Có thể khẳng định, việc hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường là yêu cầu cần thiết trong bối cảnh Việt Nam thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, tăng trưởng xanh và cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Việc hoàn thiện này không nhằm mở rộng Kiểm toán nhà nước thành cơ quan quản lý hay thanh tra môi trường, mà nhằm tạo hành lang pháp lý rõ ràng để Kiểm toán nhà nước thực hiện tốt chức năng kiểm toán độc lập trong lĩnh vực môi trường. Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật về kiểm toán môi trường ở Việt Nam, đồng thời đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng, hiệu lực và hiệu quả hoạt động kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước trong thời gian tới. Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn mà đề tài mang lại Nhận xét về kết quả nghiên cứu của đề tài, Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn mà đề tài mang lại. Đề tài đã nhận diện trúng các “nút thắt” pháp lý hiện nay cũng như thẳng thắn chỉ ra các khoảng trống pháp lý mang tính cốt lõi. Đặc biệt, Đề tài đã đưa ra được bộ 8 tiêu chí (trên giác độ tiếp cận là công cụ quản lý, kiểm soát môi trường) để phân tích, so sánh, phân biệt kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước với thanh tra môi trường, đánh giá tác động môi trường, quan trắc môi trường, kiểm toán nội bộ ISO14001. Đề tài nghiên cứu phản ánh thực tiễn pháp lý về kiểm toán môi trường hiện nay cũng như thực tiễn hoạt động kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước, giữa thực tiễn tác động công tác quản lý, bảo vệ môi trường từ hoạt động kiểm toán môi trường, đối sánh với vai trò kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước cần phải khẳng định; nêu được các nhân tố tác động đến kiểm toán môi trường ở Việt Nam; xây dựng ma trận so sánh một số tiêu chí để rút ra giá trị tham khảo kinh nghiệm quốc tế cho Kiểm toán nhà nước Việt Nam… Việc bổ sung bảng phân biệt kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước với thanh tra môi trường, đánh giá tác động môi trường, quan trắc môi trường và kiểm toán nội bộ theo ISO 14001 đã góp phần khắc phục tình trạng đồng nhất giữa các công cụ quản lý môi trường được phản biện kín chỉ ra. Đề tài đã đón đầu xu hướng công nghệ khi đưa các quy trình ứng dụng GIS, dữ liệu viễn thám, dữ liệu lớn (Big Data) và Trí tuệ nhân tạo (AI) vào việc thu thập bằng chứng kiểm toán xanh. Những đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường, đồng thời nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước có giá trị thực tiễn, với những nguyên tắc, giải pháp và lộ trình tương đối rõ ràng; có giá trị tham khảo thiết thực đối với định hướng phát triển kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước trong thời gian tới. Toàn cảnh buổi nghiệm thu Nhằm hoàn thiện đề tài, Hội đồng đề nghị Ban đề tài rà soát, biên tập lại một số nội dung kết cấu các mục; rà soát lại các kinh nghiệm quốc tế để gắn với nội dung nghiên cứu của đề tài. Ban đề tài nên tập trung vào các bất cập hiện tại của hoạt động kiểm toán môi trường và định hướng phát triển của Kiểm toán môi trường để đưa ra các giải pháp. Đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn cũng như công tác tổ chức nghiên cứu đề tài, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu - Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Bùi Quốc Dũng đề nghị Ban Đề tài khi tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý và xây dựng Chiến lược kiểm toán môi trường giai đoạn 5-10 năm tới, cần có cách tiếp cận toàn diện, phân định rõ giữa giải quyết bất cập hiện tại và định hướng tương lai. Theo đó, bên cạnh việc nhận diện, tháo gỡ những vướng mắc từ thực tiễn môi trường để kiến nghị hoàn thiện pháp luật, cần dự báo sớm những xu hướng mới của môi trường trên thế giới, nhất là các vấn đề về Net Zero, phát triển bền vững, các công cụ kinh tế môi trường. Chủ tịch Hội đồng cũng lưu ý yêu cầu mở rộng phạm vi, đối tượng và phương thức tiếp cận dữ liệu phục vụ môi trường, hướng tới cơ chế khai thác dữ liệu thường xuyên, liên tục, kết nối trực tiếp, thay vì chủ yếu tiếp cận theo từng cuộc kiểm toán.  Đề tài được Hội đồng nghiệm thu xếp loại Xuất sắc./.

Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán tổ chức khai giảng Khóa đào tạo bồi dưỡng chuyên đề “An toàn vốn và xếp hạng ngân hàng thương mại”

Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán tổ chức khai giảng Khóa đào tạo bồi dưỡng chuyên đề “An toàn vốn và xếp hạng ngân hàng thương mại”

Sáng ngày 31/7/2026, Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán tổ chức khai giảng Khóa đào tạo bồi dưỡng chuyên đề “An toàn vốn và xếp hạng ngân hàng thương mại”. Tới dự khai giảng Khóa đào tạo có ông Nguyễn Huy Hoàng - Phó Giám đốc Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán; Bà Phạm Thị Hồng Minh - Phó Giám đốc Trường Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam; ông Vũ Mạnh Hà - Phó Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin, Kiểm toán nhà nước cùng các giảng viên, học viên tham gia khóa đào tạo. Ông Nguyễn Huy Hoàng - Phó Giám đốc Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán phát biểu khai mạc Khóa đào tạo Tham dự khóa học, 85 học viên đến từ Kiểm toán nhà nước chuyên ngành VII, Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam và Cục Công nghệ thông tin, Kiểm toán nhà nước sẽ được các giảng viên của Kiểm toán nhà nước, Học viện Ngân hàng, Ngân hàng nhà nước, Ngân hàng Vietcombank truyền đạt các chuyên đề: Tổng quan các chuẩn mực và khung giám sát an toàn hoạt động ngân hàng và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam; Các quy định về tỷ lệ an toàn vốn, đánh giá chỉ số an toàn vốn và xếp hạng tổ chức tín dụng tại Việt Nam; Công tác tổ chức thực hiện các quy định về an toàn vốn tại ngân hàng thương mại và công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ về an toàn vốn của ngân hàng thương mại; Thực trạng công tác thanh tra, giám sát an toàn vốn đối với hệ thống các tổ chức tín dụng của Ngân hàng nhà nước và vai trò, trách nhiệm của Kiểm toán nhà nước. Toàn cảnh Lớp học Phát biểu khai giảng Khóa đào tạo, ông Nguyễn Huy Hoàng - Phó Giám đốc Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán cho biết, khóa học không đơn thuần là một khóa bồi dưỡng chuyên đề theo nghĩa thông thường. Đây là một công trình đào tạo được Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán chủ động thiết kế theo một triết lý riêng: một vấn đề lớn của nền kinh tế - an toàn vốn của hệ thống ngân hàng thương mại không thể được nhận thức đầy đủ nếu chỉ tiếp cận từ một góc độ chuyên môn đơn lẻ. Với vai trò là đơn vị chủ trì, Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán đã chủ động kết nối, mời gọi và tổ chức để có bốn góc nhìn cùng hội tụ trong một chương trình thống nhất: Góc nhìn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - tư duy hoạch định chính sách, các chuẩn mực quản lý, giám sát và định hướng điều hành nhằm bảo đảm an toàn của toàn hệ thống; Góc nhìn của Kiểm toán nhà nước - phương pháp đánh giá, cách tiếp cận kiểm toán, nhận diện rủi ro và những vấn đề đặt ra trong kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật và hiệu quả quản trị; Góc nhìn của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam - thực tiễn triển khai chuẩn mực an toàn vốn, quản trị rủi ro, xếp hạng tín dụng và vận hành hoạt động ngân hàng trong môi trường cạnh tranh, hội nhập; Góc nhìn của Học viện Ngân hàng - nền tảng lý luận, phương pháp nghiên cứu khoa học và các xu hướng phát triển của quản trị ngân hàng hiện đại trên thế giới. Bốn góc nhìn này, nếu đứng riêng lẻ, mỗi góc nhìn đều có giá trị, nhưng khi được Trường chủ động đặt cạnh nhau, trong cùng một chương trình, cùng một hội trường, để đối thoại và bổ sung cho nhau, thì giá trị mà khóa học mang lại không còn là phép cộng đơn giản của bốn bài giảng, mà là một bức tranh đầy đủ, nhiều chiều về an toàn vốn - từ quy định đến thực tiễn, từ chính sách đến vận hành, từ kiểm soát đến kiểm toán. Đây chính là dấu ấn riêng có của Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán trong cách tổ chức chương trình lần này, và cũng là định hướng chiến lược mà Trường đang kiên trì theo đuổi: xây dựng mô hình đào tạo liên ngành, lấy sự kết nối tri thức làm phương pháp cốt lõi. PGS.TS Phạm Thị Hoàng Anh - Phó Giám đốc Học viện Ngân hàng truyền đạt Chuyên đề 1 tới các học viên Ban tổ chức mong muốn, qua Khóa học giúp cho các học viên lĩnh hội thêm kiến thức, hiểu bản chất của rủi ro trong hoạt động ngân hàng - rủi ro đến từ đâu, được nhận diện như thế nào, được kiểm soát ra sao; đội ngũ kiểm toán viên nâng cao được năng lực đánh giá thực chất sức khỏe tài chính của một tổ chức tín dụng, thay vì chỉ dừng lại ở việc kiểm tra tuân thủ hình thức; đồng thời chuẩn bị sẵn sàng để chất lượng kiểm toán lĩnh vực ngân hàng tiếp tục được nâng lên, theo kịp tốc độ chuyển đổi số của chính đối tượng được kiểm toán.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý khoa học và đào tạo

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý khoa học và đào tạo

6 tháng đầu năm 2026, Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán (Trường) đã hoàn thành toàn diện các lĩnh vực công tác theo kế hoạch được giao, tích cực triển khai nhiệm vụ phát sinh, đáp ứng kịp thời các yêu cầu đặt ra của Kiểm toán nhà nước (KTNN). Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Bùi Quốc Dũng nhấn mạnh, thời gian tới, Trường không chỉ nâng cao chất lượng, hiệu quả mà còn phải đảm bảo tính khoa học và đồng bộ trong từng nhiệm vụ được giao. Chiều 29/6, Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán tổ chức Hội nghị Sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2026 và bàn giao nhiệm vụ Giám đốc Trường. Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Bùi Quốc Dũng tham dự và chỉ đạo Hội nghị. Cùng tham dự Hội nghị có lãnh đạo các đơn vị trực thuộc KTNN và các lãnh đạo, toàn thể viên chức, người lao động thuộc Trường. Báo cáo kết quả hoạt động trong 6 tháng đầu năm 2026, Phó Giám đốc Trường Hà Minh Tuấn cho biết: Trường đã tổ chức được 12 lớp đào tạo, bồi dưỡng, trong đó có 7 lớp bồi dưỡng kiến thức định giá tài sản được bổ sung mới theo chỉ đạo của lãnh đạo KTNN. Đây là nhiệm vụ mới phát sinh, được Trường tập trung triển khai trên phạm vi toàn Ngành, nhận được phản hồi rất tích cực và đánh giá cao của các các đơn vị cũng như kiểm toán viên. Ngoài ra, Trường hoàn thành tổ chức 35 lớp đào tạo cho đối tượng ngoài Ngành. Bên cạnh đó, Trường đã chủ trì soạn thảo, rà soát, sửa đổi 2 chương trình và 2 tài liệu đào tạo; xây dựng mới 3 chương trình, 1 tài liệu bồi dưỡng; biên soạn bài giảng thí điểm đổi mới phương pháp giảng dạy (mô phỏng tình huống kiểm toán thực tế); rà soát danh mục văn bản, tài liệu và hệ thống ngân hàng câu hỏi, đáp án phục vụ công tác đánh giá việc cập nhật kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ trong hoạt động kiểm toán của KTNN năm 2027. Quang cảnh Hội nghị. Trong tháng 01/2026, Trường thực hiện nhiệm vụ thường trực, chủ trì tổ chức thành công Kỳ đánh giá việc cập nhật kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ trong hoạt động kiểm toán của KTNN năm 2026 với 525 công chức, viên chức, kiểm toán viên tham dự, kết quả đạt 100%. Trong công tác nghiên cứu khoa học, Trường đã hoàn thành tổ chức nghiệm thu 4/4 đề tài cấp Cơ sở năm 2025; 4/8 đề tài cấp Bộ 2025 đã có sản phẩm và gửi thẩm định để chuẩn bị cho công tác nghiệm thu; 4/8 đề tài có bài báo đăng trên tạp chí, 2/8 đề tài đã tổ chức hội thảo. Công tác xuất bản Bản tin khoa học năm 2026 đang được triển khai đúng tiến độ, phát hành Bản tin khoa học quý I/2026 với chủ đề “Chuyển đổi xanh và phát triển bền vững” và chuẩn bị phát hành Bản tin khoa học quý II/2026 với chủ đề “Ứng dụng AI trong hoạt động kiểm toán”. Việc tiếp nhận, lưu trữ các đề tài nghiên cứu khoa học được thực hiện thường xuyên, đúng quy định. Phó Giám đốc Trường Hà Minh Tuấn thông tin thêm, hiện nay, Trường đã hoàn thành công tác chuẩn bị cho 3 tọa đàm trao đổi kiến thức về định giá tài sản, được tổ chức tại 3 địa điểm Hà Nội (02/7), Khánh Hòa và TP. Hồ Chí Minh. Ngoài ra, Trường cũng đang tích cực chuẩn bị việc tổ chức tọa đàm chia sẻ kinh nghiệm kiểm toán các Chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025. Trường cũng đang phối hợp với Cục Công nghệ thông tin cập nhật thường xuyên thông tin chi tiết, báo cáo tổng hợp và báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu của các đề tài trên phần mềm Quản lý đề tài khoa học; xây dựng tính năng kiểm tra đạo văn, đáp ứng được yêu cầu khai thác, tra cứu, tổng hợp và báo cáo; triển khai hướng dẫn các Ban đề tài đăng ký nhiệm vụ nghiên cứu khoa học năm 2027 trên phần mềm bảo đảm thống nhất và có hệ thống; ứng dụng AI trong khai thác, phân tích, tổng hợp kết quả đề tài nghiên cứu khoa học. Phó Giám đốc Trường Hà Minh Tuấn báo cáo kết quả hoạt động trong 6 tháng đầu năm 2026. Thời gian tới, Trường tập trung hoàn thành các nhiệm vụ được giao theo Kế hoạch hoạt động năm 2026, tập trung vào các nội dung: Tổ chức 71 lớp đào tạo bồi dưỡng (gồm 43 lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ kiểm toán; 18 lớp bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng trí tuệ nhân tạo AI; 10 lớp tập huấn, tọa đàm chia sẻ kinh nghiệm kiểm toán); tổ chức 1 lớp bồi dưỡng cho kiểm toán viên của KTNN Lào. Xây dựng kế hoạch tổ chức kỳ đánh giá việc cập nhật kiến thức của KTNN năm 2027; lịch giảng các lớp bồi dưỡng năm 2027; cập nhật phầm mềm quản lý đào tạo và dạy học trực tuyến (e-learning); xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng trung hạn giai đoạn 2027-2029 của KTNN. Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện rà soát, sửa đổi, xây dựng các chương trình, tài liệu để trình ban hành theo kế hoạch; rà soát, chỉnh sửa, cập nhật danh mục văn bản và ngân hàng câu hỏi, đáp án của Kỳ đánh giá chuyên môn, nghiệp vụ kiểm toán hàng năm; biên soạn, chỉnh sửa, hoàn thiện trình ban hành Kế hoạch hoạt động Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán giai đoạn 2026-2030. Đối với hoạt động nghiên cứu khoa học, Trưởng tổ chức nghiệm thu các đề tài năm 2025; ký Hợp đồng nghiên cứu khoa học với các Ban chủ nhiệm đề tài năm 2026; xây dựng Kế hoạch khoa học công nghệ năm 2027 của KTNN đảm bảo theo đúng tiến độ; tổ chức thẩm định, xét duyệt đề cương thuyết minh đề tài khoa học và hội thảo khoa học năm 2026 theo kế hoạch. Đặc biệt, Trường tích cực phối hợp với Cục Công nghệ thông tin đưa vào sử dụng phiên bản thí điểm ứng dụng AI trong khai thác, phân tích, tổng hợp kết quả đề tài nghiên cứu khoa học gắn với yêu cầu hiện đại hóa hoạt động của KTNN. Trường tổ chức Hội nghị bàn giao nhiệm vụ Giám đốc Trường.  Ghi nhận và đánh giá cao nỗ lực của Trường trong 6 tháng qua, đặc biệt là việc tổ chức 7 lớp đào tạo và 3 tọa đàm về định giá tài sản theo yêu cầu của lãnh đạo KTNN, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Bùi Quốc Dũng nhấn mạnh, thời gian tới, Trường không chỉ nâng cao chất lượng, hiệu quả mà còn phải đảm bảo tính khoa học và đồng bộ trong từng nhiệm vụ được giao. Theo đó, 71 lớp đào tạo bồi dưỡng trong 6 tháng tới là khối lượng lớn, vì vậy, cần rà soát kế hoạch chi tiết; tập trung nghiên cứu xây dựng ngay kế hoạch đào tạo cho kiểm toán viên KTNN Lào (tổ chức tại cơ sở TP. Hồ Chí Minh). Đồng thời, nghiên cứu xây dựng kế hoạch tổ chức Kỳ đánh giá chuyên môn, nghiệp vụ kiểm toán năm 2027 với các yêu cầu mới như: nâng tỷ lệ câu hỏi bí mật lên mức 30 - 40% (các năm trước 15 - 20%), số lượng đăng ký tham dự kỳ thi tăng gấp đôi, công tác tổ chức phải chặt chẽ, bài bản hơn, chuẩn bị tốt về cơ sở vật chất... Hoàn thành việc xây dựng kế hoạch trong đầu tháng 7/2026. Đối với việc tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức cho các cán bộ địa phương sau khi triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, Trường đã tiến hành khảo sát tại 27/34 địa phương, số còn lại tiếp tục thực hiện, trong đó lưu ý việc thu thập ý kiến thực tiễn của các địa phương, phân loại từng nhóm vấn đề. Thời gian tới, Trường chủ động phối hợp với KTNN các khu vực để tiếp nhận thông tin của địa phương, tổng hợp và thảo luận với Vụ Tổng hợp để đối chiếu với các cuộc kiểm toán, từ đó hình thành các chuyên đề phù hợp, giúp các địa phương thực hiện tốt công tác quản lý tài chính, kế toán, quản lý tài chính công, tài sản công. Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Bùi Quốc Dũng tặng hoa chúc mừng tân Giám đốc Trường Đặng Thế Bình (bên phải) và tân Kiểm toán trưởng KTNN khu vực III Vương Nguyên Lượng (bên trái). Liên quan đến việc ứng dụng công nghệ thông tin, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Bùi Quốc Dũng yêu cầu Trường nghiên cứu, phối hợp chặt chẽ với Cục Công nghệ thông tin trong việc đặt ra các yêu cầu, đề bài cho các phần mềm, ứng dụng AI và triển khai thử nghiệm tính năng, đào tạo trực tuyến e-learning. Việc xây dựng thành công phần mềm đã là một bước tiến rất đáng ghi nhận, giai đoạn tiếp theo là Trường cần sử dụng các phần mềm hiệu quả, tối ưu hóa cho người sử dụng, ban hành quy chế, hướng dẫn cho các đơn vị trong Ngành, Hội đồng khoa học KTNN và các Ban đề tài sử dụng, tra cứu... Chiều cùng ngày, Trường đã tổ chức Hội nghị bàn giao nhiệm vụ Giám đốc Trường nhằm thực hiện việc bàn giao, tiếp nhận nhiệm vụ theo quy định; bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo liên tục, thống nhất trong công tác quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ của đơn vị./.

Hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước

Hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước

Sáng 12/8/2026, Hội đồng khoa học Kiểm toán nhà nước đã tổ chức nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước” do ThS. Đào Trọng Khánh (Kiểm toán nhà nước khu vực VIII) làm đồng chủ nhiệm. Hội đồng nghiệm thu do TS. Bùi Quốc Dũng, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Kiểm toán nhà nước làm Chủ tịch. TS Bùi Quốc Dũng, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu, đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn của đề tài Hoạt động kiểm toán môi trường ngày càng được các Cơ quan Kiểm toán tối cao sử dụng như một công cụ hữu hiệu nhằm đánh giá hiệu quả quản lý, sử dụng tài nguyên, kiểm soát ô nhiễm và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững. Nhận thức được vai trò ngày càng quan trọng của kiểm toán môi trường, thời gian qua, Kiểm toán nhà nước đã từng bước mở rộng phạm vi và nội dung kiểm toán. Giai đoạn 2018-2023, Kiểm toán nhà nước đã thực hiện hơn 40 cuộc kiểm toán có nội dung liên quan đến môi trường. Riêng năm 2024, Kiểm toán nhà nước đã triển khai nhiều cuộc kiểm toán chuyên đề như: quản lý, bảo vệ nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt; quản lý môi trường tại các khu kinh tế, khu công nghiệp; quản lý, sử dụng kinh phí bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu tại các bộ, ngành và địa phương. Thông qua hoạt động kiểm toán, Kiểm toán nhà nước đã phát hiện nhiều tồn tại, bất cập trong công tác quản lý môi trường, kiến nghị hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công dành cho bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, đại diện Ban đề tài - ThS Đào Trọng Khánh cho biết, mặc dù Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã quy định Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán trong lĩnh vực môi trường, nhưng Luật Kiểm toán nhà nước hiện hành chưa có quy định cụ thể về đối tượng, nội dung và phạm vi kiểm toán môi trường. Một số hoạt động có tác động trực tiếp đến môi trường của doanh nghiệp ngoài khu vực công chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng để đưa vào kế hoạch kiểm toán. Bên cạnh đó, hệ thống dữ liệu môi trường phục vụ kiểm toán còn phân tán, việc chia sẻ thông tin giữa các cơ quan quản lý và Kiểm toán nhà nước chưa thực sự đồng bộ. Ngoài ra, các quy định về kiểm toán môi trường trong khu vực doanh nghiệp, tiêu chuẩn chuyên môn và hướng dẫn kỹ thuật phục vụ hoạt động kiểm toán môi trường vẫn chưa được hoàn thiện. Trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện các cam kết quốc tế về phát triển bền vững, ứng phó biến đổi khí hậu và mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, yêu cầu đối với hoạt động kiểm toán môi trường ngày càng cao, đòi hỏi phải mở rộng phạm vi đánh giá đối với các vấn đề môi trường liên ngành, liên vùng và các mục tiêu phát triển bền vững. Nhóm nghiên cứu cho rằng, bên cạnh việc tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động kiểm toán môi trường, việc nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước trong giám sát, đánh giá hiệu quả chính sách môi trường, quản lý tài nguyên, sử dụng nguồn lực công cho bảo vệ môi trường và thực hiện các cam kết quốc tế là yêu cầu cấp thiết. Điều này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng quản trị môi trường quốc gia mà còn khẳng định vị thế của Kiểm toán nhà nước trong việc hỗ trợ Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện mục tiêu phát triển bền vững. Đề tài “Hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước” được thực hiện nhằm đề xuất định hướng, giải pháp hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường, đồng thời nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước trong giám sát việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công và nguồn lực công gắn với bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. ThS Đào Trọng Khánh đại diện Ban đề tài trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, đề tài đã hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề lý luận chung về môi trường, kiểm toán môi trường, cơ sở pháp lý kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước. Theo đó, kiểm toán môi trường được xác định là một lĩnh vực kiểm toán chuyên biệt, được thực hiện thông qua kiểm toán tài chính, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động. Đề tài đã phân tích, đánh giá thực trạng cơ sở pháp lý và thực tiễn triển khai kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước. Kết quả nghiên cứu cho thấy cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường ở Việt Nam đã từng bước được hình thành, nhất là khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 ghi nhận vai trò của Kiểm toán nhà nước trong lĩnh vực môi trường; đồng thời Kiểm toán nhà nước đã ban hành, cập nhật chuẩn mực, quy trình, hướng dẫn nghiệp vụ và triển khai nhiều cuộc kiểm toán có nội dung liên quan đến môi trường. Bên cạnh kết quả đạt được, đề tài cũng chỉ ra một số hạn chế, bất cập chủ yếu như: Luật Kiểm toán nhà nước chưa quy định cụ thể về đối tượng, phạm vi, nội dung, phương thức và tiêu chí kiểm toán môi trường; cơ chế tiếp cận, chia sẻ dữ liệu môi trường còn thiếu đồng bộ; thẩm quyền kiểm tra, đối chiếu đối với các chủ thể ngoài khu vực công có tác động đến môi trường còn chưa rõ; nguồn nhân lực chuyên sâu, hướng dẫn kỹ thuật và ứng dụng công nghệ còn hạn chế. Trên cơ sở đó, đề tài đã khẳng định vai trò của Kiểm toán nhà nước là công cụ giám sát độc lập, góp phần tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình, đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực công cho bảo vệ môi trường và hỗ trợ hoàn thiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường, tăng trưởng xanh, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Nhóm nghiên cứu cũng đã đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước, tập trung vào hoàn thiện Luật Kiểm toán nhà nước và pháp luật có liên quan; làm rõ phạm vi, đối tượng, thẩm quyền, quyền tiếp cận dữ liệu và trách nhiệm phối hợp; cập nhật hướng dẫn kiểm toán môi trường theo các chủ đề mới như khí nhà kính, thị trường các-bon, EPR, kinh tế tuần hoàn, tài chính xanh; đồng thời phát triển nguồn nhân lực, tăng cường sử dụng chuyên gia, ứng dụng công nghệ số và nâng cao hiệu lực thực hiện kiến nghị kiểm toán. Có thể khẳng định, việc hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường là yêu cầu cần thiết trong bối cảnh Việt Nam thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, tăng trưởng xanh và cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Việc hoàn thiện này không nhằm mở rộng Kiểm toán nhà nước thành cơ quan quản lý hay thanh tra môi trường, mà nhằm tạo hành lang pháp lý rõ ràng để Kiểm toán nhà nước thực hiện tốt chức năng kiểm toán độc lập trong lĩnh vực môi trường. Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật về kiểm toán môi trường ở Việt Nam, đồng thời đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng, hiệu lực và hiệu quả hoạt động kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước trong thời gian tới. Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn mà đề tài mang lại Nhận xét về kết quả nghiên cứu của đề tài, Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn mà đề tài mang lại. Đề tài đã nhận diện trúng các “nút thắt” pháp lý hiện nay cũng như thẳng thắn chỉ ra các khoảng trống pháp lý mang tính cốt lõi. Đặc biệt, Đề tài đã đưa ra được bộ 8 tiêu chí (trên giác độ tiếp cận là công cụ quản lý, kiểm soát môi trường) để phân tích, so sánh, phân biệt kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước với thanh tra môi trường, đánh giá tác động môi trường, quan trắc môi trường, kiểm toán nội bộ ISO14001. Đề tài nghiên cứu phản ánh thực tiễn pháp lý về kiểm toán môi trường hiện nay cũng như thực tiễn hoạt động kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước, giữa thực tiễn tác động công tác quản lý, bảo vệ môi trường từ hoạt động kiểm toán môi trường, đối sánh với vai trò kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước cần phải khẳng định; nêu được các nhân tố tác động đến kiểm toán môi trường ở Việt Nam; xây dựng ma trận so sánh một số tiêu chí để rút ra giá trị tham khảo kinh nghiệm quốc tế cho Kiểm toán nhà nước Việt Nam… Việc bổ sung bảng phân biệt kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước với thanh tra môi trường, đánh giá tác động môi trường, quan trắc môi trường và kiểm toán nội bộ theo ISO 14001 đã góp phần khắc phục tình trạng đồng nhất giữa các công cụ quản lý môi trường được phản biện kín chỉ ra. Đề tài đã đón đầu xu hướng công nghệ khi đưa các quy trình ứng dụng GIS, dữ liệu viễn thám, dữ liệu lớn (Big Data) và Trí tuệ nhân tạo (AI) vào việc thu thập bằng chứng kiểm toán xanh. Những đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường, đồng thời nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước có giá trị thực tiễn, với những nguyên tắc, giải pháp và lộ trình tương đối rõ ràng; có giá trị tham khảo thiết thực đối với định hướng phát triển kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước trong thời gian tới. Toàn cảnh buổi nghiệm thu Nhằm hoàn thiện đề tài, Hội đồng đề nghị Ban đề tài rà soát, biên tập lại một số nội dung kết cấu các mục; rà soát lại các kinh nghiệm quốc tế để gắn với nội dung nghiên cứu của đề tài. Ban đề tài nên tập trung vào các bất cập hiện tại của hoạt động kiểm toán môi trường và định hướng phát triển của Kiểm toán môi trường để đưa ra các giải pháp. Đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn cũng như công tác tổ chức nghiên cứu đề tài, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu - Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Bùi Quốc Dũng đề nghị Ban Đề tài khi tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý và xây dựng Chiến lược kiểm toán môi trường giai đoạn 5-10 năm tới, cần có cách tiếp cận toàn diện, phân định rõ giữa giải quyết bất cập hiện tại và định hướng tương lai. Theo đó, bên cạnh việc nhận diện, tháo gỡ những vướng mắc từ thực tiễn môi trường để kiến nghị hoàn thiện pháp luật, cần dự báo sớm những xu hướng mới của môi trường trên thế giới, nhất là các vấn đề về Net Zero, phát triển bền vững, các công cụ kinh tế môi trường. Chủ tịch Hội đồng cũng lưu ý yêu cầu mở rộng phạm vi, đối tượng và phương thức tiếp cận dữ liệu phục vụ môi trường, hướng tới cơ chế khai thác dữ liệu thường xuyên, liên tục, kết nối trực tiếp, thay vì chủ yếu tiếp cận theo từng cuộc kiểm toán.  Đề tài được Hội đồng nghiệm thu xếp loại Xuất sắc./.

Kế toán điều tra tại Việt Nam: từ khung lý thuyết đến định hướng hoàn thiện thể chế

Kế toán điều tra tại Việt Nam: từ khung lý thuyết đến định hướng hoàn thiện thể chế

Bài viết hệ thống hóa cơ sở lý luận của kế toán điều tra, làm rõ ranh giới giữa kế toán điều tra và kiểm toán, đồng thời phân tích phương pháp nghiệp vụ chủ yếu và thực trạng thể chế liên quan tại Việt Nam. Trên cơ sở tổng hợp tài liệu, phân tích quy phạm pháp luật và đối chiếu với thông lệ nghề nghiệp quốc tế, kết quả cho thấy kế toán điều tra không nên được hiểu thuần túy như một hoạt động “hậu kiểm” nhằm hỗ trợ tố tụng, mà cần được nhìn nhận như một cấu phần của quản trị rủi ro gian lận, quản trị tuân thủ và bảo đảm tính liêm chính của thông tin tài chính. Việt Nam đã có nền tảng pháp lý nhất định thông qua quy định về việc giám định tư pháp trong lĩnh vực tài chính, song vẫn còn khoảng cách đáng kể so với thông lệ quốc tế về chuẩn năng lực, quy trình xử lý chứng cứ số, mức độ chấp nhận kết quả điều tra độc lập và cơ chế phối hợp liên ngành. Từ đó, bài viết đề xuất ba nhóm giải pháp gồm: hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho chứng cứ và giao dịch số; phát triển nguồn nhân lực chuyên sâu gắn với chứng chỉ nghề nghiệp và đầu tư hạ tầng dữ liệu, công nghệ phân tích phục vụ phát hiện gian lận theo hướng chủ động. Từ khóa: Kế toán điều tra; gian lận tài chính; giám định tư pháp; kiểm toán; chứng cứ số. Forensic accounting in Vietnam: From theoretical framework to institutional refinement This paper systematizes the theoretical basis of forensic accounting, distinguishing it from auditing and analyzing the main professional skills as well as current institutional status in Vietnam. Based on a synthesis of documents, analysis of legal norms, and comparison with international professional practices this paper suggest forensic accounting should be viewed not merely as "post-audit" litigation support but as a component of fraud risk management and financial integrity. Despite an existing legal foundation for judicial expertise in the financial sector, there is still significant gaps with international standards regarding competency standards, digital evidence procedures and interdisciplinary coordination. Therefore, the article proposes three groups of solutions: perfecting the legal framework for digital evidence and transactions; developing specialized human resources linked to professional certifications; and investing in data infrastructure and analytical technology to proactively detect fraud. Keywords: Forensic accounting; financial fraud; judicial expertise; auditing; digital evidence. JEL classification: M41, M42, K42 https://doi.org/10.65771/ati-jas.04202607 1. Đặt vấn đề Trong bối cảnh số hóa hoạt động kinh doanh, mở rộng giao dịch xuyên biên giới và gia tăng mức độ tinh vi của tội phạm kinh tế, yêu cầu về các công cụ phát hiện, chứng minh và xử lý gian lận tài chính ngày càng trở nên cấp bách. Những vụ việc thao túng báo cáo tài chính, chuyển giá, biển thủ nội bộ, che giấu tài sản hoặc hợp thức hóa dòng tiền bất hợp pháp cho thấy giới hạn của các cơ chế kiểm soát truyền thống khi phải đối diện với hành vi có chủ đích, được tổ chức bài bản và thường có sự hỗ trợ của công nghệ. Trong hệ thống công cụ đó, kế toán điều tra nổi lên như một lĩnh vực liên ngành kết nối kế toán, kiểm toán, pháp lý, điều tra và phân tích dữ liệu. Khác với hoạt động bảo đảm thông thường vốn tập trung vào mức độ trung thực, hợp lý của báo cáo tài chính, kế toán điều tra hướng đến tái cấu trúc sự kiện, truy vết dòng tiền, xác lập mối liên hệ giữa bằng chứng và hành vi, từ đó hỗ trợ giải quyết tranh chấp hoặc xử lý trách nhiệm pháp lý. Ở Việt Nam, thuật ngữ “kế toán điều tra” chưa được thể chế hóa một cách đầy đủ như một nghề nghiệp độc lập, nhưng nội hàm của nó đã xuất hiện trong thực tiễn giám định tư pháp về tài chính, kế toán, kiểm toán và trong hoạt động xác minh nội bộ của doanh nghiệp. Vì vậy, việc hệ thống hóa khung lý luận, đánh giá thực trạng triển khai và đề xuất định hướng phát triển là cần thiết cả về phương diện học thuật lẫn thực tiễn quản lý. 2. Mục tiêu, câu hỏi và phương pháp nghiên cứu Bài viết hướng tới ba mục tiêu: (i) làm rõ bản chất, phạm vi và nền tảng lý thuyết của kế toán điều tra; (ii) phân tích sự khác biệt giữa kế toán điều tra với kiểm toán truyền thống và các kỹ thuật nghiệp vụ chủ yếu; (iii) đánh giá thực trạng thể chế tại Việt Nam và đề xuất định hướng hoàn thiện. Từ đó, nghiên cứu đặt ra ba câu hỏi: (1) Kế toán điều tra được hình thành trên những cơ sở lý thuyết và yêu cầu nghề nghiệp nào? (2) Những điểm khác biệt cốt lõi giữa kế toán điều tra và kiểm toán truyền thống là gì? (3) Việt Nam cần hoàn thiện những điều kiện nào để phát triển kế toán điều tra theo hướng chuyên nghiệp, có khả năng hỗ trợ quản trị và tố tụng? Về phương pháp, nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính với ba kỹ thuật chủ đạo: tổng quan tài liệu học thuật và nghề nghiệp; phân tích quy phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam; và đối chiếu, so sánh với một số chuẩn mực, thông lệ nghề nghiệp quốc tế. Cách tiếp cận này phù hợp với mục tiêu xây dựng khung khái niệm, đánh giá thể chế và đề xuất hàm ý chính sách cho bối cảnh Việt Nam. 3. Cơ sở lý luận về kế toán điều tra Kế toán điều tra thường được hiểu là quá trình thu thập, phân tích, diễn giải và trình bày bằng chứng tài chính hoặc phi tài chính có liên quan nhằm phục vụ giải quyết tranh chấp, xử lý gian lận hoặc hỗ trợ tố tụng. Tính chất cốt lõi của lĩnh vực này là định hướng bằng chứng và khả năng đưa kết quả chuyên môn đến ngưỡng chấp nhận trước cơ quan có thẩm quyền hoặc trước các bên tranh chấp. Nếu kiểm toán nhấn mạnh “đảm bảo hợp lý”, thì kế toán điều tra nhấn mạnh “sự thật có thể chứng minh”. Vì vậy, đầu ra của kế toán điều tra không chỉ là phát hiện sai lệch, mà còn bao gồm việc giải thích cơ chế gian lận, xác lập động cơ, cách thức thực hiện, quy mô thiệt hại, chủ thể liên quan và chuỗi bằng chứng hỗ trợ cho kết luận chuyên môn. Sự phát triển của kế toán điều tra gắn liền với nhu cầu kiểm soát gian lận trong nền kinh tế hiện đại. Trong môi trường kinh doanh dựa trên dữ liệu, bằng chứng không còn giới hạn ở sổ sách và chứng từ giấy mà mở rộng sang log hệ thống, siêu dữ liệu tệp, email, tin nhắn, dữ liệu thiết bị, giao dịch điện tử và các dấu vết số khác. Điều này khiến kế toán điều tra ngày càng mang đậm tính liên ngành và đòi hỏi năng lực công nghệ rõ nét hơn trước. 3.1. Các học thuyết nền tảng trong nhận diện gian lận Các mô hình giải thích gian lận giúp nhà nghiên cứu và người thực hành di chuyển từ quan sát hiện tượng sang lý giải căn nguyên hành vi. Trong khuôn khổ bài viết này, bốn nền tảng thường được viện dẫn gồm tam giác gian lận, kim cương gian lận, lý thuyết đại diện và lý thuyết thể chế. Trong thực hành, không nên tuyệt đối hóa bất kỳ mô hình nào. Các học thuyết chỉ có giá trị như khung suy luận để xây dựng giả thuyết điều tra, lựa chọn nguồn bằng chứng và diễn giải bối cảnh phát sinh gian lận. Đặc biệt, đối với các vụ việc có yếu tố tổ chức hoặc công nghệ, việc kết hợp góc nhìn hành vi với góc nhìn thể chế sẽ cho kết quả thuyết phục hơn so với việc chỉ tập trung vào biến động số liệu. 3.2. Ranh giới giữa kế toán điều tra và kiểm toán truyền thống Kế toán điều tra (Forensic Accounting - FA) là một lĩnh vực chuyên sâu kết hợp kiến thức kế toán, kỹ năng kiểm toán, kỹ thuật điều tra và kiến thức pháp luật nhằm phát hiện, điều tra và phòng ngừa gian lận cùng các sai phạm tài chính. Khác với kiểm toán truyền thống, kế toán điều tra không chỉ dừng ở việc xác định tính tuân thủ mà còn chủ động phát hiện các hành vi gian lận tài chính, xác định mức độ thiệt hại và thu thập bằng chứng phục vụ các thủ tục pháp lý. Điểm khác biệt cốt lõi là kế toán điều tra không dừng lại ở việc chỉ ra sự hiện diện của sai lệch trọng yếu, mà hướng tới chứng minh mối liên hệ giữa bằng chứng và ý chí thực hiện hành vi. Bởi vậy, ngoài chứng từ kế toán, người làm kế toán điều tra còn phải khai thác dữ liệu ngoại vi như email, quyền truy cập hệ thống, lịch sử chỉnh sửa tệp, nhật ký phê duyệt, cấu trúc sở hữu có liên quan và các giao dịch qua bên thứ ba. 4. Phương pháp tiếp cận và kỹ thuật nghiệp vụ hiện đại Quy trình kế toán điều tra thường bắt đầu từ giai đoạn xác lập predication, tức là xác định có căn cứ hợp lý để nghi ngờ gian lận hoặc vi phạm hay không. Sau đó là các bước lập giả thuyết, xác định nguồn dữ liệu, bảo toàn bằng chứng, phân tích giao dịch, phỏng vấn đối tượng liên quan, lượng hóa thiệt hại và lập báo cáo điều tra. Việc thiết kế quy trình không chỉ nhằm phát hiện gian lận mà còn phải bảo đảm khả năng sử dụng kết quả về sau trong giải quyết tranh chấp hoặc tố tụng. Trong môi trường số, bộ công cụ nghiệp vụ của kế toán điều tra đã mở rộng đáng kể. Thay vì chỉ sử dụng chọn mẫu truyền thống, nhiều cuộc điều tra áp dụng kiểm tra toàn bộ tập dữ liệu kết hợp với kỹ thuật phân tầng rủi ro, phát hiện ngoại lệ và đối chiếu chéo nguồn dữ liệu. - Phân tích dữ liệu toàn bộ tập (full-population testing): sử dụng các công cụ phân tích để quét toàn bộ nhật ký giao dịch, đối soát dữ liệu chủ và nhận diện mẫu bất thường. - Phân tích siêu dữ liệu và chứng cứ số: kiểm tra thời điểm tạo lập, sửa đổi, thiết bị truy cập, quyền người dùng, lịch sử phê duyệt để làm rõ khả năng giả mạo hoặc can thiệp hồ sơ. - Kỹ thuật thống kê và phân tích định lượng: vận dụng định luật Benford, so sánh hệ số quy mô tương đối, phân tích ngoại lệ, phân tích mạng giao dịch và liên kết đối tượng. - Truy vết tài sản và dòng tiền: tái dựng lộ trình tiền, xác định tài khoản trung gian, chủ thể hưởng lợi cuối cùng và tài sản chuyển dịch qua nhiều lớp giao dịch. - Phỏng vấn điều tra: thiết kế trình tự phỏng vấn theo mức độ liên quan của đối tượng, kết hợp tâm lý học hành vi với chiến lược đối chiếu chứng cứ. Tuy nhiên, công nghệ không thay thế vai trò phán đoán chuyên môn. Dữ liệu chỉ cung cấp tín hiệu; còn việc chuyển tín hiệu thành chứng cứ có giá trị đòi hỏi hiểu biết về quy trình nghiệp vụ, pháp lý chứng cứ, động cơ hành vi và bối cảnh tổ chức. Đây là lý do kế toán điều tra ngày càng được xem là nghề nghiệp có sự kết hợp giữa tài chính, pháp lý và khoa học dữ liệu. 5. Thực trạng thể chế và khả năng triển khai tại Việt Nam Ở Việt Nam, nội hàm về kế toán điều tra hiện nay được phản ánh thông qua hoạt động giám định tư pháp trong lĩnh vực tài chính - kế toán. Khung pháp lý điều chỉnh lĩnh vực này đã được hoàn thiện theo hướng đồng bộ và cập nhật với việc ban hành Luật Giám định tư pháp 2025, trên cơ sở kế thừa và phát triển từ Luật Giám định tư pháp 2012 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp 2020. Theo quy định của pháp luật hiện hành, giám định tư pháp là hoạt động do người giám định thực hiện, sử dụng kiến thức chuyên môn cùng với phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật và nghiệp vụ để đưa ra kết luận chuyên môn về những vấn đề có liên quan đến hoạt động tố tụng hoặc theo yêu cầu giám định theo quy định của pháp luật. Trong lĩnh vực tài chính, hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành, tiêu biểu là Thông tư 40/2022/TT-BTC và các văn bản sửa đổi, bổ sung (nếu có) nhằm bảo đảm sự phù hợp với Luật Giám định tư pháp 2025, đã góp phần cụ thể hóa phạm vi giám định, tiêu chuẩn chuyên môn, cũng như quy trình và phương thức thực hiện. Nhìn chung, khuôn khổ pháp lý điều chỉnh các hoạt động hỗ trợ điều tra, xác minh và đưa ra kết luận chuyên môn trong lĩnh vực tài chính - kế toán đã được thiết lập theo hướng tương đối đầy đủ, thống nhất và tiệm cận thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, xét trên phương diện học thuật và thực tiễn nghề nghiệp, thuật ngữ “kế toán điều tra” (forensic accounting) hiện vẫn chưa được chính thức ghi nhận như một lĩnh vực chuyên môn độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Các hoạt động có bản chất tương đồng chủ yếu đang được thực hiện phân tán dưới danh nghĩa giám định tư pháp, kiểm toán, thanh tra và điều tra tài chính. Điều này cho thấy khoảng trống nhất định trong việc định danh, chuẩn hóa và phát triển một lĩnh vực chuyên môn có tính liên ngành, tích hợp giữa kế toán, kiểm toán và pháp luật nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác phòng, chống gian lận và tội phạm kinh tế. Dưới góc độ thực thi, kế toán điều tra ở Việt Nam đang xuất hiện dưới ba hình thức chính: (i) hỗ trợ cơ quan tiến hành tố tụng trong các vụ án kinh tế, tham nhũng, thuế, chứng khoán, ngân hàng; (ii) hoạt động xác minh nội bộ, điều tra tuân thủ hoặc chống gian lận trong doanh nghiệp, tổ chức tín dụng; và (iii) hỗ trợ giải quyết tranh chấp dân sự, thương mại, lao động, hôn nhân gia đình liên quan đến tài sản và nghĩa vụ tài chính. Khoảng cách giữa Việt Nam và thông lệ quốc tế thể hiện ở bốn khía cạnh: Thứ nhất, chưa có bộ chuẩn năng lực nghề nghiệp đủ rõ cho vai trò kế toán điều tra; thứ hai, cơ chế phối hợp giữa chuyên gia tài chính, chuyên gia công nghệ và cơ quan tố tụng chưa thật sự đồng bộ; thứ ba, năng lực xử lý giao dịch trên nền tảng số, tài sản mã hóa và chứng cứ điện tử còn chưa đồng đều giữa các chủ thể thực thi; thứ tư, doanh nghiệp Việt Nam nói chung vẫn thiên về xử lý hậu quả hơn là xây dựng năng lực điều tra nội bộ và quản trị gian lận theo hướng phòng ngừa. 6. Thảo luận thách thức và định hướng phát triển 6.1. Những thách thức nổi bật Thách thức thứ nhất là vấn đề nhận thức. Không ít doanh nghiệp vẫn xem điều tra gian lận là hoạt động chỉ cần triển khai khi đã phát sinh vụ việc nghiêm trọng, trong khi giá trị lớn nhất của kế toán điều tra lại nằm ở khả năng thiết kế kiểm soát, nhận diện sớm tín hiệu bất thường và củng cố văn hóa tuân thủ. Thách thức thứ hai là tốc độ biến đổi công nghệ. Giao dịch trên nền tảng điện tử, điện toán đám mây, hệ sinh thái thanh toán đa lớp và tài sản số làm thay đổi bản chất bằng chứng, phương thức che giấu và nhịp độ dịch chuyển tài sản. Nếu thiếu công cụ phân tích dữ liệu, điều tra viên rất dễ bỏ sót chuỗi giao dịch hoặc không chứng minh được liên kết giữa các chủ thể. Thách thức thứ ba là chất lượng nguồn nhân lực. Kế toán điều tra đòi hỏi khả năng tích hợp ba nhóm năng lực: tài chính - kế toán; pháp lý - chứng cứ; và dữ liệu - công nghệ. Sự thiếu hụt nhân lực có đủ 3 nhóm nhân lực này khiến nhiều cuộc xác minh dừng ở mức phát hiện sai lệch, chưa đạt tới ngưỡng điều tra có khả năng bảo vệ trước phản biện pháp lý. 6.2. Hàm ý chính sách và giải pháp Một là, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý theo hướng ghi nhận rõ hơn vai trò của hoạt động điều tra tài chính độc lập, chuẩn hóa yêu cầu đối với chứng cứ số và có hướng dẫn xử lý đối với các giao dịch tài sản số, giao dịch xuyên biên giới, ủy quyền điện tử và các cấu trúc sở hữu phức tạp. Hai là, phát triển hệ sinh thái đào tạo và chứng chỉ nghề nghiệp. Việt Nam cần xây dựng chương trình đào tạo liên ngành ở bậc đại học, sau đại học và bồi dưỡng chuyên môn ngắn hạn cho đội ngũ kế toán, kiểm toán, luật sư, điều tra viên và cán bộ tuân thủ. Việc tham chiếu các chứng chỉ nghề nghiệp quốc tế nên được coi là giải pháp chuyển tiếp để nâng chuẩn năng lực thực hành. Ba là, đầu tư hạ tầng công nghệ phục vụ điều tra. Các tổ chức có rủi ro gian lận cao cần tăng cường kho dữ liệu tập trung, cơ chế lưu vết nghiệp vụ, cảnh báo giao dịch bất thường, công cụ phân tích mạng quan hệ và kỹ thuật phân tích log, qua đó chuyển dần từ mô hình phản ứng sau sự cố sang mô hình dự báo và phòng ngừa. Bốn là, tăng cường quản trị doanh nghiệp và cơ chế phối hợp liên ngành. Kế toán điều tra chỉ phát huy hiệu quả khi gắn với hệ thống tố cáo nội bộ, bảo vệ người tố cáo, kiểm soát xung đột lợi ích, giám sát của hội đồng quản trị/ban kiểm soát và cơ chế phối hợp giữa doanh nghiệp, kiểm toán, luật sư, cơ quan quản lý và cơ quan tiến hành tố tụng. Kết luận Kế toán điều tra là một lĩnh vực có giá trị học thuật và ứng dụng cao trong bối cảnh nền kinh tế vận hành ngày càng dựa vào dữ liệu, công nghệ và các cấu trúc giao dịch phức tạp. Cốt lõi của lĩnh vực này không chỉ là kiểm tra số liệu, mà là tái dựng sự kiện tài chính theo chuẩn bằng chứng có thể chấp nhận trong quản trị hoặc trước pháp luật. Đối với Việt Nam, mặc dù chế định giám định tư pháp trong lĩnh vực tài chính đã tạo ra nền tảng pháp lý quan trọng, nhưng để hình thành một hệ sinh thái kế toán điều tra thực sự chuyên nghiệp vẫn cần những bước tiến về thể chế, nhân lực và công nghệ. Vì vậy, cần xem kế toán điều tra như một mắt xích của quản trị rủi ro gian lận và bảo đảm liêm chính tài chính, thay vì chỉ là công cụ xử lý sau vi phạm. Ý nghĩa thực tiễn của bài viết là gợi mở một lộ trình chuyển đổi từ “phản ứng” sang “phòng ngừa chủ động”, trong đó vai trò của dữ liệu, chứng cứ số và năng lực liên ngành trở thành điều kiện quyết định. Đây cũng là hướng đi phù hợp để tăng cường chất lượng quản trị doanh nghiệp và hiệu quả phòng, chống gian lận trong nền kinh tế Việt Nam. Tài liệu tham khảo 1. American Institute of Certified Public Accountants. (2026). Forensic services. AICPA & CIMA; 2. Association of Certified Fraud Examiners. (2024). Occupational fraud 2024: A report to the nations. ACFE; 3. Bộ Tài chính. (2022). Thông tư 40/2022/TT-BTC ngày 24/6/2022 quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tài chính; 4. Cressey, D. R. (1953). Other people’s money: A study in the social psychology of embezzlement. Free Press; 5. Quốc hội. (2012). Luật Giám định tư pháp 2012 số 13/2012/QH13 ngày 20/6/2012; 6. Quốc hội. (2020). Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp 2020 số 56/2020/ QH14 ngày 10/6/2020; 7. Quốc hội. (2025). Luật Giám định tư pháp 2025 số 105/2025/QH15; 8. Trần, K. L., & Lê, V. B. X. (2024). A systematic review on emerging trends, future directions of forensic accounting, and its contribution to Vietnam. Proceedings of 4th International Conference on Research in Management Technovation. Springer; 9. Wolfe, D. T., & Hermanson, D. R. (2004). The fraud diamond: Considering the four elements of fraud. The CPA Journal, 74(12), 38–42. Ngày nhận bài: 26/02/2026 Ngày biên tập: 03/3/2026 Ngày duyệt đăng: 07/4/2026 Tác giả: Nguyễn Diệu Linh Học viện Ngân hàng Email: linhnv@hvnh.edu.vn Nguyễn Thị Lê Thanh Học viện Ngân hàng (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, số tháng 4/2026)

Để tăng cường tính độc lập tự chủ và sức chống chịu của nền kinh tế trong bối cảnh hiện nay

Để tăng cường tính độc lập tự chủ và sức chống chịu của nền kinh tế trong bối cảnh hiện nay

Độc lập, tự chủ là là giữ vững chủ quyền và năng lực tự quyết định mọi hoạt động của quốc gia - dân tộc về đối nội, đối ngoại, nhất là lựa chọn con đường, mô hình phát triển, chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại theo lợi ích cao nhất của quốc gia và ý chí của người dân, không phụ thuộc vào bất cứ thế lực nào từ bên ngoài; trong đó, độc lập, tự chủ về kinh tế là nền tảng vật chất cơ bản để giữ vững độc lập, tự chủ về chính trị và tăng cường độc lập, tự chủ của quốc gia… Từ khoá: Lực lượng sản xuất mới; nền kinh tế; độc lập; tự chủ; phát triển; hội nhập; đất nước. 1. Điểm nhấn bối cảnh thế giới hiện nay Thế giới đương đại đang chứng kiến những biến chuyển nhanh chóng, phức tạp và khó lường của tình hình địa chính trị, kinh tế và môi trường khu vực và toàn cầu, trước mắt và lâu dài; đồng thời, tác động lan toả mạnh mẽ đến tất cả các nước dù thuộc chế độ chính trị xã hội nào và có trình độ phát triển cao hay thấp ra sao..., trong đó có Việt Nam, với một số động thái nổi bật sau: Thứ nhất, gia tăng cạnh tranh địa chính trị và tái cấu trúc trật tự kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế mới theo hướng đa cực đa trung tâm. Nổi bật trong số đó là xu hướng gia tăng cạnh tranh chiến lược giữa các nước và nhóm nước Mỹ, EU - Nga - Trung Quốc, Ấn Độ; kéo theo dự gia tăng chi phí gắn với chạy đua quân sự và chạy đua công nghệ cao phục vụ chiến tranh tổng lực cả về quân sự, kinh tế, truyền thông, thông tin và tâm lý. Hệ thống đa phương bị thách thức ngày càng lớn, nhưng vẫn được phần đông các nước trong cộng đồng quốc tế coi trọng. Cách mạng công nghiệp 4.0 làm trầm trọng hơn xu hướng phân mảng, chia rẽ, nhất là chia rẽ số giữa các nước, các nhóm nước, gây ra những tác động lâu dài đối với cục diện thế giới và khu vực. Toàn cầu hóa hội nhập quốc tế vẫn tiếp diễn, dù chậm lại; các hoạt động vận tải, di chuyển vật chất toàn cầu suy giảm, nhường chỗ cho những phương cách, lĩnh vực toàn cầu hoá phi vật chất. Thương mại toàn cầu tiếp tục tăng, còn đầu tư quốc tế có thể giảm so với trước và được cấu trúc lại theo hướng gia tăng tính bền vững của các chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu và hướng vào các lĩnh vực xanh, lĩnh vực số; sự cân bằng ngày càng đậm nét hơn giữa tự do hóa, mở cửa với tự cường; giữa hội nhập sâu rộng, toàn diện với tự chủ chiến lược; giữa tham gia cuộc chơi chung với nâng cao khả năng chống chịu bên trong từng quốc gia, từng nền kinh tế. Tính bền vững, bao trùm được quan tâm hơn; chuyển đổi số và kinh tế số trở thành xu thế lớn; tiến trình khu vực hóa được đẩy nhanh hơn. Đồng thời, sẽ tiếp tục gia tăng sự phân mảnh công nghệ và tái cơ cấu các chuỗi cung ứng kinh tế thế giới theo hướng chuyển dịch chuỗi sản xuất vào các thị trường quốc gia cùng phe nhóm và đồng minh, bạn bè hoặc trở lại trong nước. Tình trạng chạy đua, đối kháng về khoa học - công nghệ, đối kháng về kinh tế, cạnh tranh tài nguyên, cạnh tranh nguồn nhân lực chất lượng cao, chạy đua bảo vệ sở hữu trí tuệ... giữa các nước ngày càng gay gắt. Xu hướng dân chủ hóa quan hệ quốc tế bị thách thức nghiêm trọng hơn bởi chính trị cường quyền, cạnh tranh nước lớn. Nhận thức chung về tầm quan trọng của chủ nghĩa đa phương, hệ thống đa phương và ngoại giao đa phương của đa số các nước được nâng lên cùng với “áp lực buộc phải chọn phe”. Các nước vừa và nhỏ càng coi trọng vai trò của luật pháp quốc tế trong bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc của mình. Ngoài ra, biến động khí hậu cực đoan và yêu cầu về bảo vệ môi trường và sức khoẻ người tiêu dùng cũng ngày càng cao, nghiêm ngặt và mở rộng hơn. Các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống ngày càng gia tăng và đan xen, cộng hưởng gây hậu quả nặng nề hơn cho mỗi quốc gia và toàn thế giới, cả hiện tại và tương lai. Về tổng thể, thế giới đang bước vào giai đoạn kinh tế tăng trưởng chậm lại và áp lực nợ công và rủi ro trên thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế, lạm phát, bất bình đẳng trong xã hội gia tăng so với 3 thập kỷ trước. Thứ hai, lực lượng sản xuất mới với những cấu thành mới và đặc tính mới đang đặt ra những nhận thức và yêu cầu mới về xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ của mỗi quốc gia. Một trong những đặc trưng thời đại hiện nay là sự xuất hiện các cấu trúc lực lượng sản xuất mới, bao gồm cả các yếu tố đầu vào (như vật liệu mới, năng lượng mới, robot hình người và công nghệ tự động mới, AI và dữ liệu…), không gian kinh tế (nền kinh tế số và không gian kinh tế số), đồng tiền số/ảo và thị trường mới (mua bán các yếu tố và thành phẩm kinh tế số…)… Đặc điểm nổi bật của lực lượng sản xuất mới này là ngày càng hoạt động theo chuỗi, kết nối thành hệ thống dây chuyền, vừa có tính khép kín, vừa mang tính mở cao. Các biến động về cung - cầu, giá cả và chu kỳ thị trường liên quan cũng có nhiều động thái mới lạ, nhanh chóng, khó lường và mạnh mẽ, lan toả rộng, với phạm vi ngày càng bao quát hơn cả vĩ mô và vi mô, trong nước và quốc tế. Không gian kinh tế và năng suất lao động tăng nhanh, song các ranh giới và chủ quyền quốc gia ngày càng bị mờ dần trước sức mạnh, sự phụ thuộc và sự độc quyền công nghệ. Các lợi thế so sánh truyền thống cạn dần hoặc giảm dần ý nghĩa, trong khi các thách thức và cả các cơ hội mới xuất hiện ngày càng nhiều. Đặc biệt, một quốc gia và tập đoàn, doanh nghiệp kinh doanh ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào các chuỗi cung ứng đầu vào, thị trường đầu ra và các đối tác công nghệ liên quan ngoài biên giới. Dữ liệu và thông tin, cũng như công nghệ và khả năng đổi mới, sáng tạo trở thành nguồn tài nguyên mới vô giá, ngày càng quyết định năng lực cạnh tranh hiệu quả của quốc gia và doanh nghiệp trong các hoạt động kinh tế mới, với nhiều sản phẩm và thị trường mới khó tính đúng tính đủ giá trị bằng tiền như các dạng kinh té vật chất truyền thống. Ngày càng nhiều ngành nghề truyền thống bị mất đi và xuất hiện những lĩnh vực, nghề nghiệp mới; cơ cấu lao động và yêu cầu giáo dục, đào tạo và đảm bảo an sinh xã hội cũng theo đó mà có sự chuyển dịch mới, sâu sắc. Trong bối cảnh đó, tính độc lập, tự chủ của quốc gia bị thách thức mạnh, thậm chí mất đi nhiều ý nghĩa nội hàm yêu cầu cũ, nhất là các quốc gia chậm thích ứng với chuyển đổi số, không có công nghệ nguồn và năng lực đổi mới, sáng tạo cao, thiếu phản ứng thị trường và chính sách nhanh nhạy và hiệu quả. Cách mạng công nghiệp 4.0 trong khi đem lại cơ hội học hỏi, gia tăng các loại hình việc làm mới, cơ hội “rượt đuổi và bắt kịp” cho những nước đi sau như Việt Nam, thì cũng làm tăng áp lực về và thách thức về nâng cao năng lực tham gia chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu, cơ hội thu hút FDI và đảm bảo an sinh xã hội cho lao động Việt Nam. Thứ ba, các tiêu chí đo lường sức mạnh quốc gia ngày càng dựa trên cộng hưởng sức mạnh nội lực kinh tế, quốc phòng và khả năng phản ứng chính sách, phản ứng thị trường thông minh và hiệu quả. Ngày nay sức mạnh của các nước thường được đo bằng: i, Sức mạnh cứng: sức mạnh kinh tế (quy mô GDP, khả năng cạnh tranh thị trường và sự lành mạnh tài chính), tiềm lực khoa học - công nghệ; sức mạnh quốc phòng (số lượng quân đội, chi tiêu quốc phòng, công nghiệp quốc phòng, mạng lưới đồng minh…); ii, Sức mạnh mềm (sức hấp dẫn về mô hình, hệ giá trị; số lượng đối tác, vị thế, ảnh hưởng trên thế giới…); iii, Sức mạnh thông minh (khả năng sử dụng các loại sức mạnh để đạt được mục tiêu quốc gia, sự đúng đắn của chính sách và hiệu quả triển khai chính sách, khả năng điều chỉnh, phản ứng khi khủng hoảng…). Tổng thể sức mạnh quốc gia ngày càng dựa trên cộng hưởng sức mạnh nội lực kinh tế, quốc phòng và khả năng phản ứng chính sách, phản ứng thị trường thông minh và hiệu quả. Sức mạnh quốc gia còn được đánh giá theo nhiều tiêu chí khác tuỳ góc nhìn của các tổ chức quốc tế, song độc lập, tự chủ và đảm bảo sức chống chịu cao của nền kinh tế luôn là tiêu chí trọng tâm hội tụ và đo lường sức mạnh kinh tế quốc gia cả hiện tại và tương lai. Thực tế thế giới hiện đại cho thấy, không có ngoại lệ không đổ vỡ và phá sản nào cho bất kỳ mô hình phát triển, nền kinh tế quốc gia và doanh nghiệp, cũng như mọi tỷ phú thế giới nào nếu không có nhận thức đúng và kịp thời phản ứng linh hoạt chính sách và thị trường trong một bối cảnh trong nước và quốc tế ngày càng nhiều biến động phức tạp và khó lường. Đặc biệt, sự thành công của mỗi quốc gia tỷ lệ thuận với năng lực và hiệu lực, hiệu quả xây dựng và vận hành cơ chế đảm bảo hài hoà lợi ích, hội tụ, lan toả và phát huy được tổng hợp sức mạnh, các nguồn lực trong nước và quốc tế cho các mục tiêu lựa chọn phù hợp với từng giai đoạn lịch sử và thực tiễn trong nước, quốc tế; giữ vững niềm tin chính trị, niềm tin chính sách, niềm tin đầu tư và tiêu dùng thị trường; củng cố sự đoàn kết và đồng thuận xã hội cao; chủ động bám sát tình hình, tăng năng lực thông tin, dự báo và linh hoạt các kịch bản ứng phó kịp thời. 2. Nhận diện nền kinh tế độc lập tự chủ và sức chống chịu nền kinh tế theo tinh thần văn kiện Đại hội Đảng Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), xác định: “xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng”. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, nêu rõ: “Phát huy nội lực và sức mạnh dân tộc là yếu tố quyết định, đồng thời tranh thủ ngoại lực và sức mạnh thời đại là yếu tố quan trọng để phát triển nhanh, bền vững và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ”. Giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và tích cực, chủ động hội nhập nhằm tạo dựng sức mạnh dân tộc; trong đó, nội lực là quyết định; tranh thủ yếu tố ngoại lực và thời đại có vai trò quan trọng. Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 01/4/2013 của Bộ Chính trị (khóa XI) về hội nhập quốc tế, chủ trương: hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế. Đại hội XII (năm 2016), xác định: “chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế quốc tế… kết hợp hiệu quả ngoại lực và nội lực, gắn hội nhập kinh tế quốc tế với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ”. Nghị quyết số 06-NQ/TW, ngày 05/11/2016 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, chủ trương: tăng cường khả năng tự chủ của nền kinh tế, mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững. Trong văn kiện Đại hội XIII, lần đầu tiên Đảng nêu rõ yêu cầu: Nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các tác động tiêu cực từ các biến động kinh tế thế giới; Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn bó mật thiết với giữ vững các cân đối lớn đi đôi với bảo đảm an ninh kinh tế; Đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác; Chủ động hoàn thiện hệ thống phòng vệ để bảo vệ doanh nghiệp và thị trường trong nước; Hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với những điều ước và cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết; Giữ vững độc lập, tự chủ trong việc xác định chủ trương, đường lối, chiến lược phát triển kinh tế đất nước; Phát triển doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh trở thành nòng cốt của kinh tế đất nước; Giữ vững các cân đối lớn, chú trọng bảo đảm an ninh kinh tế; Không ngừng tăng cường tiềm lực kinh tế quốc gia; Tăng cường đào tạo cán bộ… có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế…; Tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển đô thị; Phát triển kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới; Đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia; Phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Điểm mới trong định hướng, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế theo tinh thần Đại hội XIII là nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển phù hợp với nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại, hội nhập; phát triển đồng bộ và tạo ra sự liên kết giữa các khu vực, các vùng, các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất kinh doanh và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế; huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tạo động lực để phát triển kinh tế nhanh và bền vững; nâng cao chất lượng, hiệu quả quản trị cả ở cấp quốc gia và doanh nghiệp; tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và hoạt động của những lĩnh vực, mô hình kinh doanh mới; phát huy vai trò của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong tham gia hình thành và điều tiết các quan hệ kinh tế thị trường; phát triển doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh, nòng cốt của kinh tế đất nước; giữ vững các cân đối lớn, bảo đảm an ninh kinh tế; đẩy mạnh đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ kinh tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác. Đặc biệt, văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh yêu cầu “bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”. Điều đó là cần thiết, tạo sự linh hoạt và vận dụng hiệu quả nguyên tắc “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong chỉ đạo, điều hành thực tiễn của Đảng trước mọi biến động nhanh, khó lường của thế giới. Đây cũng là thông điệp khẳng định sự nhất quán trong nhận thức chính trị nói chung của Đảng ta về định hướng nội dung và mục tiêu con đường đổi mới, hội nhập của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới, phù hợp với thực tiễn trong nước và xu hướng chung trên thế giới. Đại hội XIII cũng phân định rõ hơn vai trò, nội dung, yêu cầu và các công cụ quản lý kinh tế của nhà nước trong phát triển và củng cố các quan hệ gắn kết giữa kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; lần đầu tiên mở rộng, nhấn mạnh và làm rõ hơn mối quan hệ chặt chẽ giữa Nhà nước, Thị trường và Xã hội, thay vì chỉ có quan hệ Nhà nước với Thị trường trong văn kiện các kỳ Đại hội trước đây… 3. Yêu cầu mới và giải pháp cần có để đảm bảo tính độc lập tự chủ và tăng sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới Để xây dựng thành công nền kinh tế độc lập, tự chủ trong bối cảnh trên, đòi hỏi Việt Nam tiếp tục coi trọng giải quyết một số vấn đề sau: Một là, tiếp tục đổi mới nhận thức, hoàn thiện nội dung yêu cầu mô hình kinh tế tự chủ, linh hoạt hoá vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước. Vai trò chủ đạo của kinh tế tư nhân và doanh nghiệp nhà nước cần điều chỉnh phù hợp với cơ chế thị trường và yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng, đầy đủ và thực chất của Việt Nam. Theo đó, thu hẹp dần cả về quy mô, tỷ trọng và phạm vi hoạt động, nhất là trong hoạt động kinh tế vì lợi nhuận, tập trung nắm chủ đạo một số lĩnh vực, ngành kinh tế chủ chốt và hoạt động do Nhà nước cần độc quyền thuộc lĩnh vực đảm bảo quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; chủ động giữ vững các cân đối cơ cấu lớn, liên ngành, cấp quốc gia và ở địa phương, địa bàn cần thiết; chủ động và trực tiếp đảm nhận đầu tư vào những dự án, địa bàn không hấp dẫn hoặc cần thiết để định hướng, mở rộng đầu tư phát triển từ các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước. Đồng thời, phương thức chủ đạo cũng mềm và tỷ lệ cũng linh hoạt hơn, chủ yếu tham gia dưới hình thức cổ phần và giảm tối đa việc Nhà nước tham gia trực tiếp vào hoạt động kinh tế thông qua các doanh nghiệp nhà nước, chuyển một số nhiệm vụ mà các bộ, ngành, cơ quan nhà nước không cần thiết phải thực hiện cho tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đảm nhận. Theo thống kê chung trên thế giới, ở các nước, Chính phủ chỉ giữ 20% vốn tại doanh nghiệp nhà nước và khu vực doanh nghiệp nhà nước chỉ chiếm khoảng 5%-20% GDP… Thứ hai, đề cao vai trò kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, vừa thu hút công nghệ từ bên ngoài, vừa tăng cường năng lực đổi mới, sáng tạo và tự chủ công nghệ trong nước. Việt Nam cần đồng bộ và đa dạng hoá nhiều giải pháp từ chính trị, đối ngoại đến các cơ chế, chính sách kinh tế - tài chính thích ứng bảo đảm lòng tin chiến lược từ đối tác, nhất là các “đối tác chiến lược toàn diện”, để nhận được đầu tư FDI vào các ngành công nghệ cao hoặc được mua công nghệ cao, cho phép Việt Nam tham gia các chuỗi cung ứng công nghệ cao “mang tính bạn bè” trong khu vực và trên phạm vi toàn cầu. Đồng thời, triển khai nhanh và hiệu quả thực chất các chủ trương, nhiệm vụ và giải pháp theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Do đó, phải sớm thể chế hoá chủ trương coi kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của đất nước về tăng trưởng GDP, tăng năng suất lao động, tạo công ăn việc làm; lực lượng tiên phong trong kỷ nguyên mới, lực lượng chủ lực, đi đầu trong ứng dụng công nghệ và đổi mới, sáng tạo trong tầm nhìn chung của đất nước. Nhà nước bên cạnh việc phải củng cố mạnh mẽ khu vực doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn kinh tế nhà nước, cần ưu tiên xây dựng các tập đoàn kinh tế tư nhân tầm cỡ khu vực và toàn cầu, có năng lực cạnh tranh quốc tế, có sứ mệnh dẫn dắt, hỗ trợ trở lại các doanh nghiệp nội địa khác cùng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời, phải có chính sách riêng trong việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển, cũng như thành phần kinh tế hộ gia đình và kinh tế hợp tác xã, khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp và phát triển mô hình hợp tác xã kiểu mới, hiệu quả; khuyến khích doanh nghiệp tư nhân nâng cao năng lực nghiên cứu và đổi mới công nghệ, tham gia các lĩnh vực chiến lược, phát triển cơ sở hạ tầng quan trọng, công nghệ cao, công nghiệp mũi nhọn, an ninh năng lượng và một số lĩnh vực đặc biệt trong các dự án quan trọng quốc gia; kiểm soát chặt chẽ tình trạng doanh nghiệp độc quyền và thao túng chính sách; bảo vệ hữu hiệu quyền tài sản, quyền sở hữu (trong đó có quyền sở hữu trí tuệ và tài sản vô hình), quyền tự do kinh doanh và bảo đảm thực thi hợp đồng của doanh nghiệp tư nhân; giảm thiểu rủi ro pháp lý, hạn chế tối đa tình trạng thay đổi chính sách đột ngột gây tổn thất cho doanh nghiệp; tạo lập cơ chế hỗ trợ và bảo vệ nhà đầu tư tư nhân, nhất là các doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo… Thứ ba, củng cố niềm tin chính trị, nỗ lực đột phá thể chế, tinh gọn và nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả bộ máy quản lý nhà nước và toàn hệ thống chính trị để tạo động lực mới cho phát triển kinh tế đất nước theo hướng độc lập, tự chủ. Động lực mới được cộng hưởng và gắn với kết quả trực tiếp và gián tiếp, trước mắt và lâu dài của quá trình tinh gọn bộ máy; củng cố lòng tin, cải thiện vị thế và sự hấp dẫn của môi trường đầu tư, khai thác hiệu quả cơ hội đầu tư mới và các nguồn lực tiềm năng cho phát triển cả vĩ mô và vi mô, trước mắt và lâu dài, trong nước và ngoài nước. Với tinh thần đó, trong quá trình xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ thời gian tới cần tiếp tục giữ vững độc lập, tự chủ trong việc xác định chủ trương, đường lối, chiến lược phát triển kinh tế đất nước; đẩy nhanh quá trình hoàn thiện thể chế, nhất là về hệ thống pháp luật phù hợp với những điều ước quốc tế và cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết; coi trọng duy trì sự ổn định và phát triển trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường, hội nhập quốc tế; thúc đẩy sự chuyển biến mạnh mẽ hơn về cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới động lực tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, tăng tính cạnh tranh chất lượng của nền kinh tế; tập trung tạo mọi điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, phát triển cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam gắn kết và lớn mạnh trở thành nòng cốt của kinh tế đất nước; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác, nhất là khi thị trường hay đối tác đó có sự biến động; thực hiện nhiều hình thức hội nhập kinh tế quốc tế với các lộ trình linh hoạt, phù hợp với điều kiện, mục tiêu của đất nước từng giai đoạn; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và tăng cường đổi mới sáng tạo, phát triển và từng bước làm chủ khoa học công nghệ đáp ứng yêu cầu cạnh tranh quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Đặc biệt, cần sớm hoàn thiện cơ chế kết hợp hài hoà Nhà nước - Thị truờng - Xã hội trong một mô hình Nhà nước kiểu mới; coi trọng tính đồng bộ và chú ý đến tính hai mặt của các giải pháp chính sách đa dạng hóa và phối hợp các nguồn lực trong nước và quốc tế; khả năng tăng cường dự báo, thông tin, bảo vệ người tiêu dùng và giữ vững lòng tin trên thị trường, củng cố uy tín quốc gia và niềm tin chiến lược quốc tế vào các đột phá thể chế Việt Nam có tính hội nhập cao và bền vững hơn, từng bước định hình một tầm nhìn mới, một thực tiễn mới và mở ra triển vọng phát triển mới trong toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội Việt Nam thời kỳ chuyển mình hội nhập cùng thế giới… Không ngừng hoàn thiện, củng cố nhận thức toàn diện, đầy đủ, sâu sắc và tổ chức xây dựng hiệu quả mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, có sức chống chịu cao ở nước ta là biểu hiện và thước đo sự thành công bản lĩnh, trí tuệ về Đổi mới và Cách mạng của Đảng. Đồng thời, đó cũng là quá trình tạo lập và hiện thực hóa các mục tiêu, động lực và cơ chế để gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường, phát huy dân chủ, sáng tạo và bảo vệ quyền con người, quyền công dân và để người dân được hưởng thụ ngày càng nhiều hơn thành quả của công cuộc đổi mới; để giữ vững được ổn định chính trị và kinh tế, củng cố đồng thuận và đoàn kết xã hội, không ngừng cải thiện các quan hệ và vị thế quốc tế, xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam phát triển nhanh, bền vững hơn trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng và toàn diện hơn… Tài liệu tham khảo: 1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, H. 2011, tr. 102; 2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, H. 2016, tr. 111; 3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021; 4. Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; 5. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân; 6.https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/824082/quan-diem-moi-ve-xaydung-nen-kinh-te-viet-nam-doc-lap%2C-tu-chu-trong-van-kien-dai-hoi-xiii-cua-dang.aspx#. Tác giả: PGS.TS Ngô Thanh Hoàng, Ủy viên Hội đồng tư vấn kinh tế, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TS Nguyễn Minh Phong, Báo Nhân dân (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, số tháng 2/2026)

Petrolimex ra mắt Ứng dụng Petrolimex 2.0 và Thẻ đồng thương hiệu với BIDV-Visa

Ứng dụng Petrolimex 2.0 và Bộ thẻ đồng thương hiệu Petrolimex - BIDV - Visa cùng ra mắt sẽ mang đến trải nghiệm số và nhiều tiện ích dành cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Hà Nội, ngày 12/8/2026 - Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) chính thức ra mắt ứng dụng Petrolimex 2.0 – nền tảng dịch vụ số thế hệ mới được nâng cấp toàn diện về giao diện, trải nghiệm người dùng và hệ thống tính năng. Việc kết hợp ứng dụng Petrolimex 2.0 cùng Bộ thẻ Petrolimex Pay đánh dấu bước tiến quan trọng trong hệ sinh thái chuyển đổi số, nâng cao trải nghiệm số và mang lại nhiều tiện ích mới cho khách hàng. Bộ thẻ đồng thương hiệu Petrolimex - BIDV - Visa (Bộ thẻ Petrolimex Pay) là sản phẩm hợp tác giữa Petrolimex, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) và Tổ chức thẻ Visa cũng được ra mắt đồng thời cùng với Ứng dụng Petrolimex 2.0, gồm đầy đủ các dòng thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Bộ thẻ Petrolimex Pay đánh dấu quan hệ hợp tác chiến lược giữa các thương hiệu hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng và năng lượng, đồng thời góp phần thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt. (các đại biểu thực hiện nghi thức ra mắt sản phẩm tại sự kiện)   Ứng dụng Petrolimex 2.0 – Nền tảng dịch vụ số kết nối khách hàng với hệ sinh thái Petrolimex Ứng dụng Petrolimex 2.0 được phát triển theo định hướng trở thành nền tảng dịch vụ số thống nhất của Petrolimex, kết nối khách hàng với hệ sinh thái sản phẩm và dịch vụ của Petrolimex trên toàn quốc, mang đến hành trình và trải nghiệm số toàn diện. Trên một nền tảng thống nhất, khách hàng có thể tạo đơn hàng đổ nhiên liệu, tích hợp thanh toán không dùng tiền mặt để mua xăng dầu trên toàn bộ hệ thống cửa hàng xăng dầu Petrolimex; theo dõi chi phí mua xăng dầu theo thời gian thực; quản lý tập trung các giao dịch và hóa đơn điện tử; mua và sử dụng e-voucher Petrolimex; định vị và tìm kiếm cửa hàng xăng dầu; theo dõi lịch sử giá bán lẻ xăng dầu và các tiện ích hỗ trợ khác. Các tính năng của ứng dụng sẽ góp phần hỗ trợ khách hàng nâng cao hiệu quả quản trị và kiểm soát chi phí vận hành. Thẻ Petrolimex Pay - Giải pháp thanh toán hiện đại, quản lý chi tiêu hiệu quả  Bộ thẻ Petrolimex Pay được thiết kế đáp ứng đa dạng nhu cầu của từng phân khúc khách hàng   Khi sở hữu thẻ Petrolimex Pay, khách hàng được hưởng đồng thời các ưu đãi từ BIDV, Visa và hệ sinh thái Petrolimex. Chủ thẻ tín dụng được hưởng thời gian miễn lãi tối đa 45 ngày khi thanh toán đầy đủ dư nợ đúng hạn.  Đối với khách hàng cá nhân, bộ thẻ hướng tới những người thường xuyên sử dụng phương tiện cá nhân, có nhu cầu mua xăng dầu định kỳ, mua sắm trực tuyến và thanh toán không dùng tiền mặt, trong đó có các tài xế công nghệ và khách hàng mong muốn gia tăng lợi ích từ các khoản chi tiêu hàng ngày.  Chủ thẻ cá nhân được tích điểm 1% giá trị giao dịch khi mua xăng dầu tại Petrolimex và 2% đối với giao dịch mua sắm trực tuyến bằng thẻ tín dụng, với tổng giá trị tích điểm lên đến 250.000 Petrolimex ID/tháng (tương đương 250.000 đồng/tháng). Khách hàng mở thẻ được miễn phí thường niên năm đầu và miễn phí phát hành thẻ vật lý theo điều kiện chương trình. Toàn bộ điểm thưởng được ghi nhận trên hệ thống Petrolimex ID (PLX ID), giúp khách hàng thuận tiện tích lũy và sử dụng trong hệ sinh thái Petrolimex và các đối tác liên kết. Đối với khách hàng doanh nghiệp, bộ thẻ là giải pháp hỗ trợ quản lý chi phí nhiên liệu và vận hành, phù hợp với các doanh nghiệp trong lĩnh vực vận tải, logistics, xây dựng, sản xuất, dịch vụ và các đơn vị sở hữu đội xe. Với các tiện ích thanh toán tập trung, quản lý hạn mức chi tiêu theo từng phương tiện hoặc lái xe, theo dõi giao dịch mua nhiên liệu theo thời gian thực, thanh toán công nợ và tra cứu, lưu trữ hóa đơn điện tử, bộ thẻ góp phần nâng cao hiệu quả quản trị chi phí và dòng tiền. Bên cạnh các tiện ích quản lý, chủ thẻ tín dụng doanh nghiệp được tích điểm 1,5% khi mua xăng dầu tại Petrolimex và 2% đối với chi tiêu tại nhà hàng, khách sạn bằng thẻ tín dụng. Khách hàng được miễn phí thường niên năm đầu tiên; miễn phí thường niên các năm tiếp theo nếu đạt doanh số giao dịch từ 50 triệu đồng/năm trở lên. Đặc biệt, Petrolimex dành thêm ưu đãi miễn phí thường niên năm thứ hai và thứ ba đối với chủ thẻ doanh nghiệp có doanh số giao dịch chỉ từ 5 triệu đồng/năm. Đối với khách hàng sử dụng thẻ ghi nợ doanh nghiệp được miễn phí phát hành thẻ vật lý và miễn phí thường niên trọn đời theo chính sách ưu đãi hiện hành. Phát biểu tại lễ ra mắt, ông Phạm Văn Thanh, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Petrolimex chia sẻ: "Petrolimex đang triển khai đồng bộ định hướng “3 chuyển đổi”: chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và chuyển đổi văn hóa – tổ chức; tất cả cùng hướng đến những kết quả rất cụ thể: khách hàng được phục vụ tốt hơn, đối tác có thêm cơ hội cùng phát triển, Petrolimex vận hành hiệu quả hơn và chúng tôi đóng góp tích cực hơn cho xã hội. Trong hệ sinh thái số năng lượng thông minh của mình, một trong những ưu tiên của Petrolimex là xây dựng nền tảng khách hàng số, kết nối ngày càng liền mạch giữa mạng lưới cửa hàng rộng khắp với không gian số. Ứng dụng Petrolimex là cửa ngõ số kết nối khách hàng với hệ sinh thái số Petrolimex; Thẻ đồng thương hiệu Petrolimex – BIDV – Visa là một công cụ quan trọng để hiện thực hóa kết nối đó trong các giao dịch hằng ngày, gắn thanh toán với quyền lợi và tạo nền tảng để phát triển chương trình khách hàng thân thiết ngày càng sâu hơn. Ứng dụng và Thẻ được kết nối định hướng mong muốn của Petrolimex là đồng hành sâu hơn với hoạt động sản xuất, kinh doanh và cuộc sống của khách hàng; đáp ứng tốt nhu cầu hôm nay và cùng chuẩn bị cho những nhu cầu của ngày mai. Việc ba thương hiệu cùng phát triển Thẻ đồng thương hiệu hôm nay là một minh chứng cụ thể cho tinh thần Hợp lực: mỗi bên phát huy tốt nhất thế mạnh của mình để cùng tạo ra một hành trình giá trị tốt hơn cho khách hàng. Tôi trân trọng cảm ơn BIDV và Visa đã tin tưởng và đồng hành cùng Petrolimex. Chúng tôi kỳ vọng từ sự kết nối của ba bên hôm nay, hợp tác sẽ tiếp tục được mở rộng sang những dịch vụ và giải pháp mới, đồng thời thu hút thêm nhiều đối tác cùng tham gia vào hệ sinh thái trong tương lai.” Quét mã QR để cài đặt app Petrolimex 2.0 tại đây: Đăng ký Thẻ Petrolimex Pay tại đây: https://www.petrolimex.com.vn/petrolimexcard hoặc tại các Chi nhánh/Phòng giao dịch của BIDV trên toàn quốc hoặc trên ứng dụng BIDV SmartBanking. THÔNG TIN VỀ PETROLIMEX Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) là doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ lực trong việc đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia trong 70 năm phát triển. Hàng năm, Petrolimex luôn là doanh nghiệp có doanh thu và nộp ngân sách nằm trong nhóm các doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam. Không dừng ở đó, Petrolimex đang quyết tâm vươn mình trở thành Tập đoàn công nghệ và năng lượng hàng đầu khu vực trong kỷ nguyên số với 3 định hướng chiến lược quan trọng là chuyển đổi số, chuyển dịch xanh và chuyển đổi mô hình kinh doanh trong đó chuyển đổi số được xác định là nền tảng có tính dẫn dắt chiến lược phát triển. Địa chỉ: Số 1 Khâm Thiên, Phường Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội Website: https://www.petrolimex.com.vn/petrolimexcard Email: gianglnt@petrolimex.com.vn  Hotline: 1900 2828 THÔNG TIN VỀ BIDV Được thành lập năm 1957, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) là một trong những ngân hàng thương mại lâu đời và có quy mô tổng tài sản lớn nhất Việt Nam. Tính đến hết tháng 6/2026, tổng tài sản BIDV đạt 3,38 triệu tỷ đồng, dư nợ tín dụng đạt 2,45 triệu tỷ đồng. Với hơn 69 năm hoạt động, BIDV giữ vai trò chủ lực, chủ đạo trong hệ thống ngân hàng, cung cấp đa dạng sản phẩm, dịch vụ tài chính - ngân hàng cho khách hàng cá nhân, doanh nghiệp và các định chế tài chính. BIDV đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển ngân hàng số, thanh toán không dùng tiền mặt và tài chính xanh. Với mạng lưới hoạt động rộng khắp cùng hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngày càng đa dạng, BIDV không ngừng đổi mới, mang đến các giải pháp tài chính hiện đại, an toàn, thuận tiện, đồng hành cùng khách hàng và đóng góp vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Địa chỉ: Tháp BIDV, số 194 Trần Quang Khải, phường Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội Hotline Khách hàng cá nhân: 1900.9247; Khách hàng doanh nghiệp: 1900.9248. Website: www.bidv.com.vn. THÔNG TIN VỀ VISA Visa (NYSE: V) là công ty công nghệ thanh toán điện tử hàng đầu thế giới, hiện đang thực hiện xử lý giao dịch thanh toán giữa người tiêu dùng, doanh nghiệp, tổ chức tài chính và cơ quan chính phủ tại hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Với sứ mệnh kết nối thế giới thông qua mạng lưới thanh toán an toàn và đáng tin cậy, Visa đang từng bước thúc đẩy sự phát triển của mỗi doanh nghiệp, cá nhân dù đến từ bất cứ nơi đâu, và khả năng tiếp cận tài chính là nền tảng vững chắc cho tương lai của sự lưu chuyển tiền tệ. Để biết thêm thông tin chi tiết, vui lòng truy cập website Visa.com

Agribank đồng hành cùng tỉnh Lạng Sơn ra mắt Trạm dịch vụ công số: Ứng dụng công nghệ trong cải cách hành chính, xây dựng thế hệ “công dân số”

Ngày 27/7/2026, tại Ủy ban nhân dân phường Đông Kinh, Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn phối hợp cùng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) tổ chức Lễ khai trương mô hình Trạm dịch vụ công số. Sự kiện đánh dấu một cột mốc quan trọng trong lộ trình hiện đại hóa hành chính công của tỉnh, đồng thời khẳng định vị thế tiên phong của Agribank trong việc đồng hành cùng Chính phủ và các địa phương thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, xây dựng chính phủ số, xã hội số và kinh tế số. Tham dự buổi lễ có đồng chí Đại tá Trần Hồng Phú - Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (C06) - Bộ Công an; đồng chí Vi Thị Hoa - Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước khu vực 5 - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Về phía tỉnh Lạng Sơn có đồng chí Hoàng Quốc Khánh - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy; đồng chí Nguyễn Cảnh Toàn - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; đồng chí Dương Xuân Huyên - Ủy viên Ban thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh; đồng chí Nguyễn Quốc Khánh - Ủy viên Ban thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy; đồng chí Đoàn Thanh Sơn - Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; đồng chí Phùng Quang Hội - Ủy viên Ban thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Đảng ủy phường Đông Kinh; đồng chí Nguyễn Quang Huy - Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ; đồng chí Thượng tá Nguyễn Hữu Đức - Phó Giám đốc Công an tỉnh. Về phía Agribank có sự tham dự của đồng chí Tô Huy Vũ - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng thành viên; các đồng chí thành viên Hội đồng thành viên: Trần Văn Dũng, Nguyễn Minh Phương, Nguyễn Thị Thảo, Từ Thị Kim Thanh, Phạm Đức Tuấn; các đồng chí Phó Tổng Giám đốc; Thành viên Ban Kiểm soát; Lãnh đạo các Ban, Trung tâm, Đơn vị tại Trụ sở chính và lãnh đạo Agribank Chi nhánh Lạng Sơn. Tham dự sự kiện còn có các đồng chí thành viên Ban Chỉ đạo phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 tỉnh; các đồng chí Lãnh đạo các sở, ban, ngành tỉnh, Ngân hàng nhà nước chi nhánh khu vực 5, Đảng ủy, Ủy ban nhân dân các xã, phường và Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh, cấp xã; các đơn vị phối hợp triển khai; cùng hơn 150 đại biểu khách mời. Đồng chí Tô Huy Vũ - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng thành viên Agribank phát biểu tại buổi lễ Hiện thực hóa Đề án 06 của Chính phủ, đưa tiện ích số đến gần hơn với người dân vùng cao Trạm dịch vụ công số do Agribank tài trợ là giải pháp ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ nhận dạng thông minh tiên tiến, giúp tự động hóa quy trình cấp bản sao số và thực hiện dịch vụ công trực tuyến. Việc tài trợ và đưa vào vận hành 10 Trạm dịch vụ công số tại Lạng Sơn thể hiện tinh thần quyết tâm của Agribank trong việc triển khai Đề án 06 của Chính phủ (Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia). Trạm Dịch vụ công số đi vào vận hành giúp đơn giản hóa quy trình giải quyết thủ tục hành chính tại cơ sở. Với hệ thống trang thiết bị hiện đại, tích hợp công nghệ xác thực định danh điện tử qua căn cước công dân gắn chip và ứng dụng VNeID, người dân có thể tự nộp hồ sơ, tra cứu tiến độ xử lý thủ tục hành chính công ngay tại Trạm, hoàn toàn chủ động thực hiện các dịch vụ công trực tuyến, tra cứu thông tin và tiếp cận các dịch vụ ngân hàng số an toàn, thuận tiện, bảo mật, minh bạch. Mô hình không chỉ giúp tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại cho bà con nhân dân mà còn đóng vai trò như một điểm kết nối, nâng cao kỹ năng số cho cộng đồng, từng bước hình thành thế hệ “công dân số” tại địa phương; đồng thời là cầu nối trực tiếp giúp chính quyền địa phương nâng cao chỉ số cải cách hành chính, tạo đà phát triển bền vững cho nền kinh tế số. Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Đại tá Trần Hồng Phú - Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ Công an đánh giá việc ra mắt Hệ thống Trạm dịch vụ công số ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử VNeID tại tỉnh Lạng Sơn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiến trình chuyển đổi số phục vụ người dân và doanh nghiệp. Là mô hình tiêu biểu của Hệ sinh thái Kiosk đa tiện ích do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội chủ trì phối hợp với các đơn vị liên quan triển khai thực hiện, Trạm dịch vụ công số không chỉ là giải pháp góp phần giảm tải cho đội ngũ cán bộ tại các Trung tâm Phục vụ hành chính công mà còn tạo điều kiện để người dân tiếp cận các dịch vụ công nhanh chóng, thuận tiện, minh bạch và hiện đại hơn. Đại tá Trần Hồng Phú khẳng định: Với vai trò là đơn vị quản lý, vận hành hệ thống dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử quốc gia, Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội bảo đảm mọi giao dịch được thực hiện trên các mô hình Kiosk đều đáp ứng nguyên tắc: Đúng người - Đúng dữ liệu - Đúng quy trình - Đúng pháp luật. Đây là nền tảng cốt lõi để xây dựng niềm tin số, bảo đảm an ninh, an toàn thông tin và thúc đẩy phát triển các dịch vụ số phục vụ người dân. Đại tá Trần Hồng Phú - Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ Công an phát biểu tại buổi lễ “Lạng Sơn là địa phương đầu tiên tại khu vực miền núi phía Bắc triển khai đồng bộ 10 Trạm dịch vụ công số. Điều này thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của tỉnh trong việc tiên phong ứng dụng công nghệ số vào cải cách hành chính, đồng thời khẳng định vai trò tiên phong của tỉnh Lạng Sơn trong xây dựng chính quyền số, đô thị thông minh và phát triển kinh tế số tại khu vực miền núi phía Bắc” - Đại tá Trần Hồng Phú nhấn mạnh. Bước đi chiến lược, phù hợp vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế - xã hội tỉnh Lạng Sơn Lộ trình đưa Trạm dịch vụ công số đến với các vùng miền cả nước là minh chứng sinh động cho năng lực công nghệ và tinh thần phụng sự của Agribank. Trước khi cập bến Lạng Sơn, mô hình này đã khẳng định hiệu quả vượt trội với: 51 Trạm dịch vụ công số được đi vào vận hành ổn định tại 5 tỉnh/thành phố trọng điểm (Hà Nội, Thanh Hóa, Quảng Ninh, Ninh Bình, Đà Nẵng); hơn 60.000 lượt người dân đã tiếp cận, trải nghiệm và sử dụng thành thạo các dịch vụ công trực tuyến cũng như dịch vụ tài chính hiện đại. Kết quả này không chỉ chứng minh hiệu quả của mô hình, mà còn tiếp tục nâng cao hình ảnh, vị thế thương hiệu Agribank - Ngân hàng vì cộng đồng, quyết tâm, chủ động đem giải pháp công nghệ hiện đại phục vụ Nhân dân cả nước. Lạng Sơn là địa phương có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong không gian phát triển và an ninh quốc phòng của đất nước. Đây không chỉ là cửa ngõ quốc tế, cầu nối kinh tế huyết mạch kết nối giao thương giữa Việt Nam, các nước ASEAN với thị trường Trung Quốc rộng lớn; mà còn là điểm sáng thúc đẩy phát triển kinh tế cửa khẩu, du lịch và dịch vụ logistics phía Bắc. Đồng thời, đây cũng là tỉnh có truyền thống đổi mới mạnh mẽ, liên tục nhiều năm liền khẳng định vị thế vững chắc trong Top 10 bảng xếp hạng Chuyển đổi số (DTI) toàn quốc, thể hiện tinh thần chủ động, nhạy bén và tiên phong trong việc đón đầu các mô hình công nghệ mới. Việc Agribank tiếp tục đồng hành, tài trợ 10 Trạm dịch vụ công số tại tỉnh Lạng Sơn là bước đi đúng đắn - đúng lúc, đúng chỗ và trúng nhu cầu, phù hợp hoàn hảo với đặc thù kinh tế - xã hội của địa phương. Báo cáo kết quả công tác phối hợp triển khai Trạm dịch vụ công số, đồng chí Nguyễn Quang Huy - Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lạng Sơn cho biết: Sau khi triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, với hệ thống mạng lưới gồm Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh và 65 Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã, phường, áp lực và nhu cầu giải quyết thủ tục hành chính trực tuyến, số hóa hồ sơ tại cơ sở là vô cùng lớn. Bình quân mỗi tháng cấp xã phát sinh khoảng 8.600 hồ sơ thủ tục hành chính, đi kèm nhu cầu thực tế của người dân mong muốn được tiếp cận, giải quyết thủ tục trên môi trường điện tử ngoài giờ hành chính một cách thuận tiện. Trước yêu cầu cấp thiết đó, bám sát chỉ đạo tại Kế hoạch số 265/KH-UBND ngày 06/7/2026 của Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Khoa học và Công nghệ đã phát huy vai trò đầu mối tham mưu, chủ trì phối hợp chặt chẽ với Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Công an tỉnh, Agribank Chi nhánh Lạng Sơn, VNPT Lạng Sơn và Công ty Cổ phần Đầu tư và Kỹ thuật Công nghệ Phương Đông để khẩn trương triển khai đồng bộ các nhiệm vụ theo đúng lộ trình đề ra. 10 Kiosk thông minh phục vụ thí điểm đã hoàn tất công tác tập kết và cấu hình hệ thống. Sở Khoa học và công nghệ tỉnh Lạng Sơn đã đưa vào vận hành thử nghiệm 01 Trạm dịch vụ công số trực tiếp tại Trung tâm Phục vụ hành chính công phường Đông Kinh để phục vụ đại biểu, nhân dân trải nghiệm và tập huấn thực tế. Xác định an toàn thông tin là yếu tố cốt lõi, dưới sự phối hợp thẩm định và rà quét bảo mật chuyên sâu của Công an tỉnh, hệ thống đã hoàn tất quy trình kết nối Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và tích hợp định danh điện tử VNeID, bảo đảm an ninh mạng trước khi vận hành. Mô hình Trạm dịch vụ công số là sự kết hợp của 03 yếu tố tại một điểm phục vụ duy nhất: Hành chính - Pháp lý - Tài chính. Tại đây, nhiều quy trình được chuẩn hóa, nhiều thủ tục được rút ngắn từ 10 - 15 phút xuống còn 3 - 5 phút. Trong đó, người dân vừa có thể tiếp cận dịch vụ hành chính công hiện đại, xác thực thông tin, được cấp bản sao số tài liệu điện tử có giá trị pháp lý, tra cứu tình trạng hồ sơ; vừa sử dụng các dịch vụ tài chính - ngân hàng thiết yếu, thanh toán không dùng tiền mặt một cách thuận tiện, an toàn. Việc đưa vào vận hành 10 Trạm dịch vụ công số giúp hợp nhất dữ liệu dân cư, định danh số, thủ tục trực tuyến với hạ tầng thanh toán không tiền mặt. Hệ thống này sẽ phủ sóng toàn diện từ các địa bàn đô thị trung tâm như các phường: Đông Kinh, Kỳ Lừa, Tam Thanh, Lương Văn Tri, cho đến các xã như Lộc Bình, Thất Khê, Na Sầm, Bắc Sơn, Chi Lăng và Hữu Lũng. Tại buổi lễ, đồng chí Đoàn Thanh Sơn - Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã bày tỏ lời cảm ơn trân trọng đối với Agribank cùng các cơ quan, đơn vị liên quan. Đồng chí khẳng định, kết quả hôm nay là sự phối hợp, đồng hành trách nhiệm giữa chính quyền tỉnh Lạng Sơn với Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ Công an; Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam; Công ty Cổ phần Đầu tư và Kỹ thuật công nghệ Phương Đông cùng các cơ quan, đơn vị liên quan. Đồng chí Đoàn Thanh Sơn - Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn phát biểu tại buổi lễ  “10 Trạm dịch vụ công số là nguồn lực thiết thực, thể hiện tinh thần trách nhiệm xã hội và sự đồng hành của Agribank đối với công cuộc cải cách hành chính, chuyển đổi số của địa phương. Tôi tin tưởng rằng, với quyết tâm của cả hệ thống chính trị, sự đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp và sự tham gia tích cực của người dân, mô hình Trạm dịch vụ công số sẽ được vận hành hiệu quả, góp phần xây dựng nền hành chính tỉnh Lạng Sơn chuyên nghiệp, hiện đại, công khai, minh bạch, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ” - đồng chí Đoàn Thanh Sơn nhấn mạnh. Kiến tạo tương lai số - Lấy người dân làm trung tâm phục vụ Là Ngân hàng thương mại nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong nền kinh tế, Agribank luôn tiên phong đi đầu trong việc triển khai các chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước. Cụ thể hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Đề án 06 của Chính phủ, việc kết nối dữ liệu dân cư, định danh điện tử, dịch vụ công trực tuyến và thanh toán không dùng tiền mặt đang từng bước kiến tạo nên một phương thức quản trị hiện đại, minh bạch, với triết lý cốt lõi là lấy người dân làm trung tâm của mọi sự phát triển. Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Tô Huy Vũ - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng thành viên Agribank nhấn mạnh: Agribank rất vinh dự được đồng hành cùng tỉnh Lạng Sơn tổ chức Lễ khai trương mô hình Trạm dịch vụ công số trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. Đây không chỉ là một sự kiện mang ý nghĩa thiết thực, đóng góp trực tiếp vào tiến trình cải cách hành chính và chuyển đổi số của tỉnh; mà còn là một dấu mốc trên hành trình đưa dịch vụ công, dịch vụ tài chính - ngân hàng cùng các tiện ích số tiên tiến đến gần hơn, phục vụ tốt hơn cho người dân và cộng đồng doanh nghiệp. Đồng chí Tô Huy Vũ - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng thành viên Agribank trao tặng 10 Trạm dịch vụ công số cho tỉnh Lạng Sơn “Trong giai đoạn tới, Agribank cam kết sẽ phối hợp chặt chẽ, toàn diện với Ủy ban nhân dân, Công an tỉnh, Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội và Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh để đảm bảo hệ thống luôn vận hành an toàn, ổn định và thông suốt. Chúng tôi sẽ không ngừng chuẩn hóa quy trình theo hướng tối giản, dễ tiếp cận, dễ sử dụng. Agribank xác định sẽ lấy phản hồi thực tế của người dân làm thước đo cho thành công của dự án. Từ nền tảng thí điểm này, chúng tôi sẽ từng bước hoàn thiện để sẵn sàng nhân rộng trên toàn địa bàn tỉnh, đồng thời đúc kết những bài học kinh nghiệm quý báu cho các địa phương khác trên cả nước” - đồng chí Tô Huy Vũ nói. Đồng chí Hoàng Quốc Khánh - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Lạng Sơn (ngoài cùng bên phải) và đồng chí Nguyễn Cảnh Toàn - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn (ngoài cùng bên trái) trao quà lưu niệm cho đồng chí Tô Huy Vũ - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng thành viên Agribank và đồng chí Đại tá Trần Hồng Phú - Phó Bí thư Đảng uỷ, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an Sự kiện khai trương mô hình Trạm dịch vụ công số tại Lạng Sơn một lần nữa khẳng định sự đồng lòng, quyết tâm của Agribank cùng Chính phủ, Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ Công an và chính quyền tỉnh trong việc hiện thực hóa Đề án 06 về chuyển đổi số quốc gia. Xác định việc đồng hành triển khai mô hình này không phải là một hoạt động tài trợ đơn thuần, mà là một bước đi cụ thể để Agribank thực hiện sứ mệnh của mình trong kỷ nguyên số, Agribank cam kết sẽ tiếp tục đồng hành bền bỉ cùng các địa phương trên cả nước, đưa những thành tựu của khoa học công nghệ hiện đại phục vụ trực tiếp và nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi người dân. Các đại biểu thực hiện nghi thức ra mắt Trạm dịch vụ công số trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn Các đại biểu đại diện các đơn vị chụp ảnh lưu niệm Các đại biểu trải nghiệm tiện ích tại Trạm dịch vụ công số

Agrigatou: Thay lời muốn nói - Gói trọn tri ân cùng thẻ Agribank JCB

Gắn liền với nhu cầu chi tiêu thực tế của khách hàng, từ mua sắm trực tuyến, ẩm thực đến các trải nghiệm quốc tế, từ ngày 15/7/2026 đến hết ngày 30/11/2026, Agribank triển khai chuỗi đặc quyền "Agrigatou" với mong muốn góp phần gia tăng giá trị cho từng giao dịch và mang đến nhiều lợi ích thiết thực trong hành trình tài chính của mỗi khách hàng sở hữu thẻ quốc tế Agribank JCB.   Theo đó, đối với khách hàng lần đầu phát hành thẻ tín dụng quốc tế Agribank JCB Ultimate (bao gồm cả thẻ chính và thẻ phụ), đồng thời có phát sinh giao dịch thanh toán hàng hóa, dịch vụ hợp lệ với tổng doanh số từ 3.000.000 VND trở lên sẽ được hoàn tiền lên đến 1.000.000 VND theo chương trình “Agribank JCB Ultimate – Tiêu 3 hoàn 1”. Khi sở hữu thẻ tín dụng quốc tế Agribank JCB, khách hàng sẽ được tận hưởng loạt ưu đãi hấp dẫn trong chương trình “Agrigatou! Thay lời muốn nói - Gói trọn tri ân” tại Shopee và AEON. Chương trình áp dụng ưu đãi giảm giá trực tiếp và tặng quà giá trị cho chủ thẻ khi thực hiện giao dịch thanh toán bằng thẻ tín dụng quốc tế Agribank JCB tại Sàn thương mại điện tử Shopee như ngày thường hay ngày đặc biệt (08/8, 09/9, 10/10 và 11/11) giảm ngay từ 50.000 VND đến 200.000 VND cho 01 đơn hàng. Ngoài ra, chủ thẻ Agribank JCB còn nhận ưu đãi giảm ngay 60.000 VND trên ShopeeFood. Tại hệ thống AEON trên toàn quốc, chủ thẻ Agribank JCB nhận ngay phiếu quà tặng mua sắm trị giá 200.000 VND khi thanh toán trực tiếp từ 1.000.000 VND trở lên tại Trung tâm Bách hóa tổng hợp và Siêu thị AEON. Song song với đó, khách hàng còn được hoàn 10% tổng giá trị thanh toán trong tháng (tối đa 500.000 VND) đối với các giao dịch thanh toán hàng hóa, dịch vụ hợp lệ tại các đơn vị chấp nhận thanh toán ở nước ngoài khi tham gia chương trình “Agribank JCB - Chi tiêu toàn cầu - Trải nghiệm bản sắc Á Đông”.Thông qua chương trình, Agribank và JCB mong muốn gửi lời tri ân tới khách hàng đã luôn tin tưởng đồng hành, đồng thời tiếp tục mở rộng hệ sinh thái ưu đãi thông qua hợp tác với các đối tác uy tín trong nước và quốc tế, mang đến những giải pháp thanh toán hiện đại, an toàn và tiện lợi, gia tăng giá trị sử dụng cho các sản phẩm thẻ cũng như nâng cao trải nghiệm của khách hàng trong bối cảnh thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng phát triển. Để được biết thêm thông tin chi tiết về chương trình, Quý khách vui lòng truy cập website: agribank.com.vn hoặc liên hệ Tổng đài chăm sóc, hỗ trợ kháchhàng: 1900558818/02432053205 hoặc tại các điểm giao dịch của Agribank trên toàn quốc.

Xây dựng đề cương thực hiện kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương

Chủ nhiệm: Ths. Nguyễn Khắc Chí và TS. Cù Hoàng Diệu Thư ký: Ths. Nguyễn Mạnh Cường Thành viên chính: Ths. Hoàng Liên Sơn                                 Ths. Nguyễn Thị Thu Hà Đơn vị thực hiện: Kiểm toán nhà nước Khu vực VII Sự cần thiết phải nghiên cứu Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Kiểm toán nhà nước khi kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách địa phương là thực hiện kiểm toán nợ chính quyền địa phương, trên cơ sở đó ngăn ngừa được các rủi ro phát sinh, từ đó đề ra các biện pháp quản lý nợ chính quyền địa phương một cách tốt hơn. Kiểm toán nhà nước Việt Nam đã trải qua gần 30 năm hoạt động, nhưng đến nay kiểm toán nợ chính quyền địa phương vẫn còn nhiều hạn chế. Trên thực tế, Kiểm toán nhà nước chưa thực hiện một cuộc kiểm toán độc lập đối với các khoản nợ chính quyền địa phương. Hằng năm, Kiểm toán nhà nước đã thực hiện cuộc kiểm toán nợ công, trong đó cũng đề cập đến nợ chính quyền địa phương; tuy nhiên cũng chưa đầy đủ và cụ thể. Bên cạnh đó, các cuộc kiểm toán quyết toán ngân sách nhà nước tại các địa phương cũng có đề cập đến các khoản vay, nợ chính quyền theo những quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Quản lý nợ công nhưng mới ở những nội dung hết sức đơn giản. Vì vậy việc nghiên cứu đề tài: “Xây dựng đề cương kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương” là hết sức cấp thiết. Mục tiêu nghiên cứu - Làm rõ cơ sở lý luận về nợ chính quyền địa phương; tình hình về vay, nợ chính quyền địa phương và kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương ở Việt Mam; - Đánh giá thực trạng kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương ở Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế; - Xây dựng đề cương kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương (bao gồm nội dung, trình tự các tiêu chí và phương thức tổ chức kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương). Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được chia làm 3 chương: Chương 1. Lý luận cơ bản về nợ chính quyền địa phương và kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương Đề tài trình bày về nợ chính quyền địa phương và cơ chế quản lý nợ chính quyền địa phương trong đó có các khái niệm cơ bản; phân loại nợ chính quyền địa phương; Sự khác nhau giữa nợ công, nợ chính phủ, nợ quốc gia, nợ chính quyền địa phương. Đề tài liệt kê một số chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán nợ gồm: Chỉ tiêu an toàn nợ công; Kế hoạch vay, trả nợ công và kế hoạch vay, trả nợ của chính quyền địa phương; Bảo đảm khả năng trả nợ công và nợ chính quyền địa phương. Đề tài tài trình bày một số rủi ro trong việc quản lý nợ chính quyền địa phương; cơ sở lý luận về kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương; mối liên hệ giữa quản lý, kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương với tính bền vững của ngân sách nhà nước tại địa phương. Bên cạnh đó đề tài tổng hợp số liệu và cơ cấu nợ công các năm 2017, 2018 và 2019 theo báo cáo của Bộ Tài chính. Chương 2. Thực trạng kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương ở Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế Đề tài khái quát thực trạng kiểm toán nợ công của Kiểm toán nhà nước (những kết quả đạt được, chỉ ra các tồn tại hạn chế và nguyên nhân của các tồn tại hạn chế. Đề tài trình bày thực trạng kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương của Kiểm toán nhà nước trong đó khái quát tình hình tổ chức thực hiện kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương của Kiểm toán nhà nước trong những năm qua; đánh giá thực trạng kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương của Kiểm toán nhà nước trong thời gian qua và chỉ ra các tồn tại, hạn chế; phân tích nguyên nhân của các tồn tại hạn chế. Bên cạnh đó, đề tài còn tổng hợp kinh nghiệm quốc tế về kiểm toán nợ của INTOSAI Chương 3. Xây dựng đề cương kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương tại Việt Nam Đề tài trình bày xu hướng quản lý nợ chính quyền địa phương ở Việt Nam trong tương lai; định hướng hoàn thiện kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương của Kiểm toán nhà nước. Đề cương kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương cần được xây dựng trên cơ sở cụ thể hóa các bước trong Hướng dẫn kiểm toán hoạt động và Hướng dẫn kiểm toán công tác quản lý nợ công. Trong đó những nội dung chính bao gồm: + Mục tiêu kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương; + Nội dung và tiêu chí kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương; + Trình tự kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương; + Xây dựng phương thức tổ chức kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương; Ngoài ra, đề tài còn đề xuất một số kiến nghị những điều kiện cần thiết để nâng cao chất lượng kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương./.

Quản lý, điều hành ngân sách địa phương - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện thông qua hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Hữu Hiểu và Ths. Đỗ Xuân Long Thư ký: Ths. Trịnh Thị Na     Thành viên chính: TS. Lê Đình Thăng                                Ths. Trương Khánh Hưng Đơn vị chủ trì: Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán  Sự cần thiết nghiên cứu đề tài Ngân sách nhà nước Việt Nam được quản lý thống nhất, gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Quản lý, điều hành ngân sách địa phương gắn với các cấp chính quyền địa phương, nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với ngân sách trung ương và ngân sách nhà nước. Công tác quản lý, điều hành ngân sách địa phương thời gian qua luôn được cải tiến và đạt nhiều kết quả tích cực góp phần lành mạnh tài chính quốc gia. Kiểm toán ngân sách nhà nước, trong đó có kiểm toán ngân sách địa phương là nhiệm vụ chủ yếu của Kiểm toán nhà nước. Thông qua hoạt động kiểm toán ngân sách địa phương, Kiểm toán nhà nước cung cấp thông tin cho Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân nơi kiểm toán và các cơ quan khác để phục vụ công tác quản lý, điều hành ngân sách địa phương. Những năm qua, Kiểm toán nhà nước đã thực hiện kiểm toán ngân sách địa phương với quy mô bao phủ tương đối rộng, qua kiểm toán đã phát hiện nhiều bất cập trong quản lý, điều hành ngân sách của các cấp chính quyền địa phương, từ đó Kiểm toán nhà nước kiến nghị hoàn thiện. Điều này đặt ra sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài. Mục tiêu nghiên cứu - Hệ thống hóa kiến thức lý luận về quản lý, điều hành ngân sách địa phương và vai trò của Kiểm toán nhà nước đối với quản lý, điều hành ngân sách địa phương. - Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động kiểm toán đánh giá công tác quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước. - Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động kiểm toán đánh giá công tác quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước. Nội dung đề tài: Ngoài phần Mở đầu, Mục lục, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài thể hiện ở 3 chương: Chương 1. Lý luận chung về quản lý, điều hành ngân sách địa phương Đề tài nêu tổng quan về quản lý, điều hành ngân sách địa phương. Trong đó đề cập đến các khái niệm, các yếu tố tác động đến quản lý, điều hành ngân sách địa phương (như hệ thống văn bản; tổ chức bộ máy; phân cấp quản lý; năng lực quản lý điều hành của chính quyền địa phương; hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra ngân sách địa phương). Đề tài khái quát vai trò của Kiểm toán nhà nước đối với công tác quản lý, điều hành ngân sách địa phương gồm 5 vai trò. Bên cạnh đó, đề tài còn nêu những nội dung chủ yếu đánh giá công tác quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước. Chương 2. Thực trạng công tác đánh giá việc quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước Đề tài khái quát một số kết quả chủ yếu trong quản lý, điều hành ngân sách địa phương được đánh giá thông qua hoạt động kiểm toán đồng thời chỉ ra hạn chế trong quản lý, điều hành ngân sách địa phương được đánh giá thông qua hoạt động kiểm toán và nguyên nhân cơ bản. Đó là việc phân cấp quản lý thu, chi ngân sách còn chưa hợp lý; công tác lập, quyết định, giao dự toán ngân sách nhà nước còn một số bất cập; quá trình chấp hành ngân sách nhà nước còn bộc lộ nhiều lỗi, sai sót ảnh hưởng đến kỷ luật tài khóa; công tác quyết toán ngân sách địa phương tại nhiều nơi còn mang tính hình thức, tính bền vững của ngân sách địa phương chưa được chú trọng. Đề tài còn phân tích nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến các bất cập nêu trên. Bên cạnh đó, đề tài trình bày chi tiết thực trạng công tác đánh giá việc quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước đồng thời chỉ ra 8 hạn chế cơ bản và phân tích nguyên nhân của các hạn chế đó. Chương 3. Giải pháp hoàn thiện công tác đánh giá việc quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước Đề tài trình bày 4 định hướng công tác đánh giá việc quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước. Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất 6 nhóm giải pháp hoàn thiện công tác đánh giá việc quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước gồm: cơ cấu nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách địa phương; Hoàn thiện việc phân cấp ngân sách địa phương; hoàn thiện công tác lập và quyết định dự toán ngân sách địa phương; hoàn thiện công tác tổ chức quản lý thu ngân sách nhà nước; hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách địa phương; hoàn thiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách địa phương; hoàn thiện công tác phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương./.

Quy trình kiểm toán quản lý và xử lý nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp

Chủ nhiệm: Ths. Đinh Văn Dũng và TS. Lê Doãn Hoài Thư ký: Ths. Nguyễn Ngọc Duyên Thành viên chính: Ths. Nguyễn Viết Hãnh                                 Ths. Vũ Đức Nam Đơn vị thực hiện: Kiểm toán nhà nước chuyên ngành III Sự cần thiết nghiên cứu đề tài Nước thải công nghiệp chứa nhiều chất ô nhiễm, xả thải ra môi trường khi chưa được xử lý gây ô nhiễm nước mặt, nước ngầm, gây ô nhiễm đất và ảnh hưởng tới sức khỏe người dân. Hầu hết các doanh nghiệp sản xuất trong ngành khai thác, công nghiệp chế biến thực phẩm, chế biến đồ uống, thuốc lá, giả da… đều sử dụng hóa chất độc hại, việc tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường còn mang tính hình thức, công tác bảo vệ môi trường chưa được quan tâm đúng mức, gây ra rò rỉ các hóa chất độc hại, xâm nhập vào môi trường gây ô nhiễm nguồn nước mà chưa có giải pháp ngăn chặn hiệu quả. Kiểm toán nhà nước đã thực hiện nhiều cuộc kiểm toán môi trường chuyên đề về hoạt động quản lý và bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp, khu kinh tế nhằm giúp Quốc hội và Chính phủ kiểm tra và giám sát công tác quản lý và bảo vệ môi trường của các cơ quan quản lý nhà nước. Tuy nhiên, kiểm toán môi trường mới xây dựng hướng dẫn/quy trình kiểm toán môi trường chung mà chưa có quy trình kiểm toán môi trường cho từng lĩnh vực cụ thể, đặc biệt là quy trình kiểm toán môi trường đối với công tác quản lý và xử lý nước thải khu công nghiệp. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Quy trình kiểm toán quản lý và xử lý nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp” là hết sức cần thiết. Mục tiêu nghiên cứu - Khái quát hóa cơ sở lý luận, hệ thống cơ cấu tổ chức, cơ chế chính sách, hành lang pháp lý liên quan đến công tác quản lý và xử lý nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp Việt Nam; - Phân tích thực trạng và hoạt động kiểm toán công tác quản lý và xử lý nước thải của Kiểm toán nhà nước và bài học kinh nghiệm của một số nước trên thế giới từ đó đưa ra cách xác định mục tiêu, nội dung và tiêu chí kiểm toán; - Xây dựng quy trình kiểm toán công tác quản lý và xử lý nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp. Nội dung nghiên cứu: Ngoài phần Mở đầu và kết luận, đề tài kết cấu thành 3 chương. Chương 1. Cơ sở lý luận về nước thải công nghiệp và kiểm toán nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp Đề tài trình bày những vấn đề cơ bản về nước thải công nghiệp, khái niệm, phân loại và cơ sở nhận biết về nước thải công nghiệp, các tác động của nước thải công nghiệp đến môi trường, đời sống kinh tế xã hội và sức khỏe của con người; công tác quản lý nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp. Bên cạnh đó, đề tài khái quát vai trò và vị thế của Kiểm toán nhà nước trong công tác bảo vệ môi trường; các khái niệm cơ bản về kiểm toán môi trường và kiểm toán nước thải công nghiệp; những chủ đề, khía cạnh cơ bản về kiểm toán môi trường và kiểm toán nước thải công nghiệp. Chương 2. Thực trạng công tác kiểm toán nước thải công nghiệp tại Việt Nam và một số nước trên thế giới Đề tài khái quát thực trạng kiểm toán liên quan đến hoạt động quản lý và xử lý nước thải ở Việt Nam, trong đó có thực trạng kiểm toán công tác quản lý và xử lý nước thải công nghiệp trên thế giới và tại Việt Nam. Đề tài đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng một số cuộc kiểm toán liên quan đến công tác quản lý và xử lý nước thải công nghiệp trên thế giới như cuộc kiểm toán nước thải khu công nghiệp của Trung Quốc, kiểm toán nước thải công nghiệp của Canada, kiểm toán nước thải công nghiệp của GAO. Trên cơ sở đó, đề tài rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Chương 3. Quy trình kiểm toán công tác quản lý và xử lý nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp. Đề tài khái quát quy trình kiểm toán, phương pháp xây dựng quy trình kiểm toán, nguyên tắc xây dựng quy trình kiểm toán. Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất quy trình kiểm toán công tác quản lý và xử lý nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp (từ khâu chuẩn bị kiểm toán; thực hiện kiểm toán; lập và gửi báo cáo kiểm toán; theo dõi, kiểm tra thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán). Bên cạnh đó, đề tài còn đề xuất các giải pháp và điều kiện thực hiện.