Thứ năm, 16/7/2026

Điện thoại (024) 6287 3463

Đường dây nóng (024) 6287 3463

Liên hệ quảng cáo (+84)915.632.345

Thứ năm, 16/7/2026
Khai giảng các lớp bồi dưỡng kiến thức cho Kiểm toán viên nhà nước

Khai giảng các lớp bồi dưỡng kiến thức cho Kiểm toán viên nhà nước

Thực hiện Kế hoạch đào tạo bồi dưỡng năm 2027, Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán đã khai giảng các lớp bồi dưỡng kiến thức cho công chức, Kiểm toán viên đến từ các đơn vị trong toàn ngành. TS Vũ Thanh Hải, Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước chuyên ngành IV giảng dạy chuyên đề đầu tiên của Lớp Bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo quản lý cấp tổ trưởng tổ kiểm toán Theo đó, Lớp bồi dưỡng kỹ năng kiểm toán ngân sách nhà nước cấp độ 1 cho gần 40 học viên là các chuyên viên, kiểm toán viên đến từ các đơn vị trực thuộc Kiểm toán nhà nước. Chương trình bồi dưỡng kỹ năng kiểm toán ngân sách nhà nước thuộc Hệ thống Chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiểm toán viên của KTNN nhằm trang bị cho người học kiến thức và kỹ năng kiểm toán trong lĩnh vực ngân sách nhà nước. Chương trình đào tạo được chia thành 3 cấp độ (Cấp độ 1, Cấp độ 2 và Cấp độ 3), với 12 chuyên đề. Cấu thành trong mỗi cấp độ là các chuyên đề liên kết chặt chẽ với nhau về nội dung và mức độ yêu cầu đối với người học. Tổng thời lượng đào tạo là 120 tiết. Đối với Chương trình đào tạo Cấp độ 1, đối tượng học là công chức được phân công kiểm toán trong lĩnh vực ngân sách nhà nước có từ 1-3 năm kinh nghiệm và các đối tượng khác cần bồi dưỡng kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ kiểm toán lĩnh vực ngân sách nhà nước cấp độ cơ bản. Chương trình gồm 4 chuyên đề, thời lượng đào tạo là 40 tiết, với các nội dung trọng tâm: Kiến thức tổng quan về quy trình lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước; kế toán và quyết toán tình hình sử dụng kinh phí tại các đơn vị sử dụng ngân sách; kỹ năng kiểm toán tại các đơn vị dự toán ngân sách và kỹ năng kiểm toán tại các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước. ThS Huỳnh Hữu Thọ, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế chia sẻ kinh nghiệm kiểm toán ngân sách nhà nước Lớp bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo quản lý cấp tổ trưởng tổ kiểm toán hướng tới người học là các Kiểm toán viên nhà nước đáp ứng tiêu chuẩn Tổ trưởng tổ kiểm toán theo quy định của Luật Kiểm toán nhà nước và các đối tượng khác cần bồi dưỡng, bổ trợ kỹ năng lãnh đạo, quản lý trong lĩnh vực kiểm toán theo quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước. Khóa học nhằm trang bị cho người học một số kỹ năng lãnh đạo, quản lý như: kỹ năng tổ chức công việc, kỹ năng hướng dẫn, chỉ đạo nghề nghiệp cho Kiểm toán viên nhà nước; kỹ năng định hướng và kiểm soát sự tuân thủ đạo đức nghề nghiệp của Kiểm toán viên nhà nước; kỹ năng kiểm soát và đánh giá hiệu quả công việc; kinh nghiệm vận dụng kỹ năng mềm khi thực hiện nhiệm vụ. Khóa học bao gồm 28 tiết với 2 chuyên đề học tập: Một số kỹ năng lãnh đạo, quản lý của Tổ trưởng tổ kiểm toán và Vận dụng các kỹ năng mềm của Tổ trưởng tổ kiểm toán.

Kiểm toán nhà nước trao Quyết định điều động, bổ nhiệm lãnh đạo cấp Vụ

Kiểm toán nhà nước trao Quyết định điều động, bổ nhiệm lãnh đạo cấp Vụ

Thực hiện quy định về luân chuyển, điều động, định kỳ chuyển đổi vị trí công tác của công chức, viên chức Kiểm toán nhà nước, chiều 22/6, tại Hà Nội, Kiểm toán nhà nước tổ chức Hội nghị công bố và trao Quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước về công tác cán bộ. Tổng Kiểm toán nhà nước Nguyễn Hữu Nghĩa và các Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Hà Thị Mỹ Dung, Doãn Anh Thơ, Trần Minh Khương trao Quyết định điều động, bổ nhiệm cho 9 công chức lãnh đạo cấp Vụ được điều động, bổ nhiệm Hội nghị được tổ chức trực tiếp tại Trụ sở Kiểm toán nhà nước (116, Nguyễn Chánh, Hà Nội) và trực tuyến tới điểm cầu các KTNN khu vực: III, IV, VI, VIII, X, XI. Đồng chí Nguyễn Hữu Nghĩa - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Tổng Kiểm toán nhà nước - chủ trì Hội nghị. Dự Hội nghị có các đồng chí Phó Tổng Kiểm toán nhà nước: Hà Thị Mỹ Dung, Doãn Anh Thơ, Trần Minh Khương; lãnh đạo Vụ Tổ chức cán bộ; lãnh đạo cấp Vụ, cấp Phòng một số đơn vị trực thuộc Kiểm toán nhà nước. Tổng Kiểm toán nhà nước Nguyễn Hữu Nghĩa phát biểu tại Hội nghị Tại Hội nghị, thừa ủy quyền của Tổng Kiểm toán nhà nước, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ Đỗ Văn Tạo đã công bố các Quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước về việc điều động, bổ nhiệm đối với 9 công chức lãnh đạo cấp Vụ. Tổng Kiểm toán nhà nước Nguyễn Hữu Nghĩa và các Phó Tổng Kiểm toán nhà nước: Hà Thị Mỹ Dung, Doãn Anh Thơ, Trần Minh Khương đã trao Quyết định điều động, bổ nhiệm cho các đồng chí được điều động, bổ nhiệm. Thay mặt Ban Thường vụ Đảng ủy, lãnh đạo Kiểm toán nhà nước, Tổng Kiểm toán nhà nước Nguyễn Hữu Nghĩa trân trọng gửi lời chúc mừng tốt đẹp nhất tới 9 đồng chí nhận các Quyết định điều động, bổ nhiệm. “Tập thể Ban Thường vụ Đảng ủy thống nhất rất cao, đánh giá năng lực, trình độ, uy tín, đạo đức và khả năng đảm đương vị trí công tác mới của các đồng chí được trao Quyết định. Chúng tôi tin tưởng rằng, trên cương vị và địa bàn công tác mới, dù vẫn còn những khó khăn, thách thức, các đồng chí sẽ nhanh chóng thích nghi, phát huy năng lực, kinh nghiệm công tác, hoàn thành tốt và hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được Ban Thường vụ Đảng ủy và lãnh đạo Kiểm toán nhà nước giao phó.” - Tổng Kiểm toán nhà nước nhấn mạnh. Các đồng chí lãnh đạo Kiểm toán nhà nước tham dự Hội nghị Theo Tổng Kiểm toán nhà nước, thời gian tới, nhiệm vụ của ngành Kiểm toán nhà nước hết sức nặng nề. Toàn Ngành làm sao vừa đẩy mạnh đổi mới, vừa phát triển để theo kịp được tiến trình phát triển của đất nước trong giai đoạn mới, nhất là trong việc thực hiện tốc độ tăng trưởng hai con số và hai mục tiêu 100 năm mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV đã đề ra. Đồng thời, chúng ta phải làm sao xây dựng ngành Kiểm toán nhà nước thực sự là một công cụ hữu hiệu của Đảng, Nhà nước trong kiểm tra, kiểm soát việc quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn lực công, qua đó tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính - ngân sách, củng cố, phát triển nền tài chính quốc gia an toàn, lành mạnh, hiệu quả, bền vững, góp phần phát triển đất nước nhanh và bền vững hơn trong thời gian tới đây. Với tinh thần đó, Tổng Kiểm toán nhà nước đề nghị các đồng chí được điều động, bổ nhiệm quan tâm một số vấn đề sau: Một là, tiếp tục phát huy những kết quả, thành tích đã đạt, đặc biệt là những kinh nghiệm quý báu được tích lũy trong quá trình công tác, những cách làm hay, sáng tạo và hiệu quả đã được chứng minh qua thực tiễn tại các đơn vị mà các đồng chí từng công tác để tiếp tục phát huy ở cương vị mới, lĩnh vực mới, địa bàn mới, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. Hai là, quán triệt và thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước và của Ngành; tiếp tục tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống; nỗ lực hơn nữa cho công tác; luôn phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu, nhất là trong việc rèn luyện tư tưởng, đạo đức, chấp hành pháp luật, thực hiện các nhiệm vụ được giao. Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ Đỗ Văn Tạo công bố các Quyết định điều động, bổ nhiệm đối với 9 công chức lãnh đạo cấp Vụ Ba là, khẩn trương, chủ động tiếp cận các công việc, các nhiệm vụ nơi mình đến công tác, bám sát thực tiễn và chức năng nhiệm vụ các đơn vị để lãnh đạo, chỉ đạo một cách liên tục. Chúng ta phải kiên quyết không vì thay đổi người đứng đầu mà gián đoạn công việc, ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng và hiệu quả thực hiện các nhiệm vụ cũng như hoạt động của cơ quan, đơn vị. Lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị, đặc biệt là kế hoạch kiểm toán, chương trình công tác của các đơn vị năm 2026 với tinh thần quyết tâm, trách nhiệm cao nhất, đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, nỗ lực vượt qua những khó khăn, thách thức và hoàn thành tốt các nhiệm vụ trong chương trình, kế hoạch cũng như những nhiệm vụ đột xuất được lãnh đạo Kiểm toán nhà nước giao.  Bốn là, quan tâm đến việc giữ vững các nguyên tắc tổ chức Đảng, kỷ cương, kỷ luật trong Đảng; đổi mới phong cách, lề lối lãnh đạo sao cho khoa học, hiệu quả, năng động, sáng tạo và tăng cường đoàn kết nội bộ, trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt. Các đồng chí phải luôn nêu gương, đóng vai trò là hạt nhân đoàn kết trong nội bộ và là trung tâm tập hợp, quy tụ và phát huy sức mạnh tập thể trong cơ quan, đơn vị. Quan tâm đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với xây dựng cơ quan, đơn vị hoạt động hiệu lực, hiệu quả; kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, tha hóa quyền lực, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi trong các hoạt động kiểm toán.  Quang cảnh Hội nghị Năm là, củng cố và phát triển mối quan hệ tốt đẹp với các cấp ủy, chính quyền địa phương. Các đồng chí Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước khu vực là cầu nối giữa Kiểm toán nhà nước với cấp ủy, chính quyền địa phương; hết sức quan tâm xây dựng và củng cố mối quan hệ đó với tinh thần tôn trọng pháp luật, đồng hành, hỗ trợ địa phương phát triển. “Bên cạnh việc thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị được giao, các đồng chí cần chủ động hỗ trợ, đồng hành cùng cấp ủy, chính quyền địa phương tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt, trong bối cảnh triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cần phát huy vai trò hỗ trợ chuyên môn đối với đội ngũ cán bộ cấp cơ sở, góp phần nâng cao năng lực quản lý tài chính, ngân sách, đầu tư công và tài sản công ở địa phương, bảo đảm các nguồn lực được quản lý chặt chẽ, sử dụng hiệu quả, đúng quy định của pháp luật”- Tổng Kiểm toán nhà nước nhấn mạnh.  Đồng chí Huỳnh Ngọc Quang - tân Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước khu vực VIII - phát biểu nhận nhiệm vụ Thay mặt 9 công chức được điều động, bổ nhiệm, đồng chí Huỳnh Ngọc Quang - tân Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước khu vực VIII - bày tỏ đây là niềm vui, vinh dự lớn lao, đồng thời cũng là trách nhiệm hết sức nặng nề đối với cá nhân đồng chí.  “Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tập thể Ban Thường vụ Đảng ủy, đồng chí Bí thư Đảng ủy, Tổng Kiểm toán nhà nước, các đồng chí lãnh đạo Kiểm toán nhà nước đã quan tâm, tin tưởng giao nhiệm vụ. Cảm ơn tập thể Kiểm toán nhà nước khu vực III đã luôn đồng hành, giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao trong thời gian qua” - tân Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước khu vực VIII bày tỏ. Tân Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước khu vực VIII nhận thức sâu sắc rằng, nhiệm vụ được giao hôm nay không chỉ là sự ghi nhận của tổ chức đối với quá trình công tác của cá nhân, mà còn là yêu cầu, là kỳ vọng đối với việc tiếp tục phấn đấu, rèn luyện, cống hiến trong thời gian tới. “Trên cương vị mới, tôi xin hứa sẽ luôn giữ vững phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của người đảng viên; tuyệt đối trung thành với Đảng, với tổ chức, với Tổ quốc và Nhân dân; nghiêm túc chấp hành các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của cơ quan; không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn, bản lĩnh lãnh đạo, tinh thần trách nhiệm, phát huy dân chủ, giữ vững chuyên môn, trình độ, nguyên tắc tập trung dân chủ, đề cao công tác đoàn kết nội bộ, lắng nghe ý kiến của công chức, người lao động cùng tập thể lãnh đạo xây dựng Kiểm toán nhà nước khu vực VIII trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu quả” - tân Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước khu vực VIII khẳng định. Đồng chí Huỳnh Ngọc Quang nghiêm túc tiếp thu các ý kiến chỉ đạo của Tổng Kiểm toán nhà nước, các Phó Tổng Kiểm toán nhà nước và mong tiếp tục nhận được sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo của các đồng chí lãnh đạo; sự phối hợp, hỗ trợ của các đơn vị trực thuộc KTNN; đặc biệt là sự chia sẻ, đồng hành của toàn thể công chức, người lao động Kiểm toán nhà nước khu vực VIII để đồng chí hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. 9 đồng chí được điều động, bổ nhiệm gồm: 1. Đồng chí Nguyễn Hữu Phúc - Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước khu vực IV được điều động, bổ nhiệm giữ chức vụ Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước khu vực I. 2. Đồng chí Trần Hải Đông - Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước khu vực XI được điều động, bổ nhiệm giữ chức vụ Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước khu vực IV. 3. Đồng chí Ngô Minh Kiểm - Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước khu vực I được điều động, bổ nhiệm giữ chức vụ Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước khu vực VI. 4. Đồng chí Vương Nguyên Lượng - Giám đốc Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán được điều động, bổ nhiệm giữ chức vụ Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước khu vực III. 5. Đồng chí Huỳnh Ngọc Quang, Quyền Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước khu vực III được điều động, bổ nhiệm giữ chức vụ Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước khu vực VIII. 6. Đồng chí Vũ An Huy - Quyền Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước khu vực VI được điều động, bổ nhiệm giữ chức vụ Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước khu vực X. 7. Đồng chí Đoàn Huy Vinh - Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước khu vực X được điều động, bổ nhiệm giữ chức vụ Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước khu vực XI. 8. Đồng chí Đặng Thế Bình - Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước khu vực VIII được điều động, bổ nhiệm giữ chức vụ Giám đốc Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán. 9. Đồng chí Nguyễn Duy Dũng - Trưởng phòng, Vụ Tổng hợp được điều động, bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Chánh Văn phòng, Văn phòng Kiểm toán nhà nước.                                                                                                                                                                                                                (Theo https://baokiemtoan.vn)

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý khoa học và đào tạo

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý khoa học và đào tạo

6 tháng đầu năm 2026, Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán (Trường) đã hoàn thành toàn diện các lĩnh vực công tác theo kế hoạch được giao, tích cực triển khai nhiệm vụ phát sinh, đáp ứng kịp thời các yêu cầu đặt ra của Kiểm toán nhà nước (KTNN). Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Bùi Quốc Dũng nhấn mạnh, thời gian tới, Trường không chỉ nâng cao chất lượng, hiệu quả mà còn phải đảm bảo tính khoa học và đồng bộ trong từng nhiệm vụ được giao. Chiều 29/6, Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán tổ chức Hội nghị Sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2026 và bàn giao nhiệm vụ Giám đốc Trường. Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Bùi Quốc Dũng tham dự và chỉ đạo Hội nghị. Cùng tham dự Hội nghị có lãnh đạo các đơn vị trực thuộc KTNN và các lãnh đạo, toàn thể viên chức, người lao động thuộc Trường. Báo cáo kết quả hoạt động trong 6 tháng đầu năm 2026, Phó Giám đốc Trường Hà Minh Tuấn cho biết: Trường đã tổ chức được 12 lớp đào tạo, bồi dưỡng, trong đó có 7 lớp bồi dưỡng kiến thức định giá tài sản được bổ sung mới theo chỉ đạo của lãnh đạo KTNN. Đây là nhiệm vụ mới phát sinh, được Trường tập trung triển khai trên phạm vi toàn Ngành, nhận được phản hồi rất tích cực và đánh giá cao của các các đơn vị cũng như kiểm toán viên. Ngoài ra, Trường hoàn thành tổ chức 35 lớp đào tạo cho đối tượng ngoài Ngành. Bên cạnh đó, Trường đã chủ trì soạn thảo, rà soát, sửa đổi 2 chương trình và 2 tài liệu đào tạo; xây dựng mới 3 chương trình, 1 tài liệu bồi dưỡng; biên soạn bài giảng thí điểm đổi mới phương pháp giảng dạy (mô phỏng tình huống kiểm toán thực tế); rà soát danh mục văn bản, tài liệu và hệ thống ngân hàng câu hỏi, đáp án phục vụ công tác đánh giá việc cập nhật kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ trong hoạt động kiểm toán của KTNN năm 2027. Quang cảnh Hội nghị. Trong tháng 01/2026, Trường thực hiện nhiệm vụ thường trực, chủ trì tổ chức thành công Kỳ đánh giá việc cập nhật kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ trong hoạt động kiểm toán của KTNN năm 2026 với 525 công chức, viên chức, kiểm toán viên tham dự, kết quả đạt 100%. Trong công tác nghiên cứu khoa học, Trường đã hoàn thành tổ chức nghiệm thu 4/4 đề tài cấp Cơ sở năm 2025; 4/8 đề tài cấp Bộ 2025 đã có sản phẩm và gửi thẩm định để chuẩn bị cho công tác nghiệm thu; 4/8 đề tài có bài báo đăng trên tạp chí, 2/8 đề tài đã tổ chức hội thảo. Công tác xuất bản Bản tin khoa học năm 2026 đang được triển khai đúng tiến độ, phát hành Bản tin khoa học quý I/2026 với chủ đề “Chuyển đổi xanh và phát triển bền vững” và chuẩn bị phát hành Bản tin khoa học quý II/2026 với chủ đề “Ứng dụng AI trong hoạt động kiểm toán”. Việc tiếp nhận, lưu trữ các đề tài nghiên cứu khoa học được thực hiện thường xuyên, đúng quy định. Phó Giám đốc Trường Hà Minh Tuấn thông tin thêm, hiện nay, Trường đã hoàn thành công tác chuẩn bị cho 3 tọa đàm trao đổi kiến thức về định giá tài sản, được tổ chức tại 3 địa điểm Hà Nội (02/7), Khánh Hòa và TP. Hồ Chí Minh. Ngoài ra, Trường cũng đang tích cực chuẩn bị việc tổ chức tọa đàm chia sẻ kinh nghiệm kiểm toán các Chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025. Trường cũng đang phối hợp với Cục Công nghệ thông tin cập nhật thường xuyên thông tin chi tiết, báo cáo tổng hợp và báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu của các đề tài trên phần mềm Quản lý đề tài khoa học; xây dựng tính năng kiểm tra đạo văn, đáp ứng được yêu cầu khai thác, tra cứu, tổng hợp và báo cáo; triển khai hướng dẫn các Ban đề tài đăng ký nhiệm vụ nghiên cứu khoa học năm 2027 trên phần mềm bảo đảm thống nhất và có hệ thống; ứng dụng AI trong khai thác, phân tích, tổng hợp kết quả đề tài nghiên cứu khoa học. Phó Giám đốc Trường Hà Minh Tuấn báo cáo kết quả hoạt động trong 6 tháng đầu năm 2026. Thời gian tới, Trường tập trung hoàn thành các nhiệm vụ được giao theo Kế hoạch hoạt động năm 2026, tập trung vào các nội dung: Tổ chức 71 lớp đào tạo bồi dưỡng (gồm 43 lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ kiểm toán; 18 lớp bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng trí tuệ nhân tạo AI; 10 lớp tập huấn, tọa đàm chia sẻ kinh nghiệm kiểm toán); tổ chức 1 lớp bồi dưỡng cho kiểm toán viên của KTNN Lào. Xây dựng kế hoạch tổ chức kỳ đánh giá việc cập nhật kiến thức của KTNN năm 2027; lịch giảng các lớp bồi dưỡng năm 2027; cập nhật phầm mềm quản lý đào tạo và dạy học trực tuyến (e-learning); xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng trung hạn giai đoạn 2027-2029 của KTNN. Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện rà soát, sửa đổi, xây dựng các chương trình, tài liệu để trình ban hành theo kế hoạch; rà soát, chỉnh sửa, cập nhật danh mục văn bản và ngân hàng câu hỏi, đáp án của Kỳ đánh giá chuyên môn, nghiệp vụ kiểm toán hàng năm; biên soạn, chỉnh sửa, hoàn thiện trình ban hành Kế hoạch hoạt động Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán giai đoạn 2026-2030. Đối với hoạt động nghiên cứu khoa học, Trưởng tổ chức nghiệm thu các đề tài năm 2025; ký Hợp đồng nghiên cứu khoa học với các Ban chủ nhiệm đề tài năm 2026; xây dựng Kế hoạch khoa học công nghệ năm 2027 của KTNN đảm bảo theo đúng tiến độ; tổ chức thẩm định, xét duyệt đề cương thuyết minh đề tài khoa học và hội thảo khoa học năm 2026 theo kế hoạch. Đặc biệt, Trường tích cực phối hợp với Cục Công nghệ thông tin đưa vào sử dụng phiên bản thí điểm ứng dụng AI trong khai thác, phân tích, tổng hợp kết quả đề tài nghiên cứu khoa học gắn với yêu cầu hiện đại hóa hoạt động của KTNN. Trường tổ chức Hội nghị bàn giao nhiệm vụ Giám đốc Trường.  Ghi nhận và đánh giá cao nỗ lực của Trường trong 6 tháng qua, đặc biệt là việc tổ chức 7 lớp đào tạo và 3 tọa đàm về định giá tài sản theo yêu cầu của lãnh đạo KTNN, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Bùi Quốc Dũng nhấn mạnh, thời gian tới, Trường không chỉ nâng cao chất lượng, hiệu quả mà còn phải đảm bảo tính khoa học và đồng bộ trong từng nhiệm vụ được giao. Theo đó, 71 lớp đào tạo bồi dưỡng trong 6 tháng tới là khối lượng lớn, vì vậy, cần rà soát kế hoạch chi tiết; tập trung nghiên cứu xây dựng ngay kế hoạch đào tạo cho kiểm toán viên KTNN Lào (tổ chức tại cơ sở TP. Hồ Chí Minh). Đồng thời, nghiên cứu xây dựng kế hoạch tổ chức Kỳ đánh giá chuyên môn, nghiệp vụ kiểm toán năm 2027 với các yêu cầu mới như: nâng tỷ lệ câu hỏi bí mật lên mức 30 - 40% (các năm trước 15 - 20%), số lượng đăng ký tham dự kỳ thi tăng gấp đôi, công tác tổ chức phải chặt chẽ, bài bản hơn, chuẩn bị tốt về cơ sở vật chất... Hoàn thành việc xây dựng kế hoạch trong đầu tháng 7/2026. Đối với việc tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức cho các cán bộ địa phương sau khi triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, Trường đã tiến hành khảo sát tại 27/34 địa phương, số còn lại tiếp tục thực hiện, trong đó lưu ý việc thu thập ý kiến thực tiễn của các địa phương, phân loại từng nhóm vấn đề. Thời gian tới, Trường chủ động phối hợp với KTNN các khu vực để tiếp nhận thông tin của địa phương, tổng hợp và thảo luận với Vụ Tổng hợp để đối chiếu với các cuộc kiểm toán, từ đó hình thành các chuyên đề phù hợp, giúp các địa phương thực hiện tốt công tác quản lý tài chính, kế toán, quản lý tài chính công, tài sản công. Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Bùi Quốc Dũng tặng hoa chúc mừng tân Giám đốc Trường Đặng Thế Bình (bên phải) và tân Kiểm toán trưởng KTNN khu vực III Vương Nguyên Lượng (bên trái). Liên quan đến việc ứng dụng công nghệ thông tin, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Bùi Quốc Dũng yêu cầu Trường nghiên cứu, phối hợp chặt chẽ với Cục Công nghệ thông tin trong việc đặt ra các yêu cầu, đề bài cho các phần mềm, ứng dụng AI và triển khai thử nghiệm tính năng, đào tạo trực tuyến e-learning. Việc xây dựng thành công phần mềm đã là một bước tiến rất đáng ghi nhận, giai đoạn tiếp theo là Trường cần sử dụng các phần mềm hiệu quả, tối ưu hóa cho người sử dụng, ban hành quy chế, hướng dẫn cho các đơn vị trong Ngành, Hội đồng khoa học KTNN và các Ban đề tài sử dụng, tra cứu... Chiều cùng ngày, Trường đã tổ chức Hội nghị bàn giao nhiệm vụ Giám đốc Trường nhằm thực hiện việc bàn giao, tiếp nhận nhiệm vụ theo quy định; bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo liên tục, thống nhất trong công tác quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ của đơn vị./.

Khai giảng các lớp bồi dưỡng kiến thức cho Kiểm toán viên nhà nước

Khai giảng các lớp bồi dưỡng kiến thức cho Kiểm toán viên nhà nước

Thực hiện Kế hoạch đào tạo bồi dưỡng năm 2027, Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán đã khai giảng các lớp bồi dưỡng kiến thức cho công chức, Kiểm toán viên đến từ các đơn vị trong toàn ngành. TS Vũ Thanh Hải, Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước chuyên ngành IV giảng dạy chuyên đề đầu tiên của Lớp Bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo quản lý cấp tổ trưởng tổ kiểm toán Theo đó, Lớp bồi dưỡng kỹ năng kiểm toán ngân sách nhà nước cấp độ 1 cho gần 40 học viên là các chuyên viên, kiểm toán viên đến từ các đơn vị trực thuộc Kiểm toán nhà nước. Chương trình bồi dưỡng kỹ năng kiểm toán ngân sách nhà nước thuộc Hệ thống Chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiểm toán viên của KTNN nhằm trang bị cho người học kiến thức và kỹ năng kiểm toán trong lĩnh vực ngân sách nhà nước. Chương trình đào tạo được chia thành 3 cấp độ (Cấp độ 1, Cấp độ 2 và Cấp độ 3), với 12 chuyên đề. Cấu thành trong mỗi cấp độ là các chuyên đề liên kết chặt chẽ với nhau về nội dung và mức độ yêu cầu đối với người học. Tổng thời lượng đào tạo là 120 tiết. Đối với Chương trình đào tạo Cấp độ 1, đối tượng học là công chức được phân công kiểm toán trong lĩnh vực ngân sách nhà nước có từ 1-3 năm kinh nghiệm và các đối tượng khác cần bồi dưỡng kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ kiểm toán lĩnh vực ngân sách nhà nước cấp độ cơ bản. Chương trình gồm 4 chuyên đề, thời lượng đào tạo là 40 tiết, với các nội dung trọng tâm: Kiến thức tổng quan về quy trình lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước; kế toán và quyết toán tình hình sử dụng kinh phí tại các đơn vị sử dụng ngân sách; kỹ năng kiểm toán tại các đơn vị dự toán ngân sách và kỹ năng kiểm toán tại các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước. ThS Huỳnh Hữu Thọ, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế chia sẻ kinh nghiệm kiểm toán ngân sách nhà nước Lớp bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo quản lý cấp tổ trưởng tổ kiểm toán hướng tới người học là các Kiểm toán viên nhà nước đáp ứng tiêu chuẩn Tổ trưởng tổ kiểm toán theo quy định của Luật Kiểm toán nhà nước và các đối tượng khác cần bồi dưỡng, bổ trợ kỹ năng lãnh đạo, quản lý trong lĩnh vực kiểm toán theo quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước. Khóa học nhằm trang bị cho người học một số kỹ năng lãnh đạo, quản lý như: kỹ năng tổ chức công việc, kỹ năng hướng dẫn, chỉ đạo nghề nghiệp cho Kiểm toán viên nhà nước; kỹ năng định hướng và kiểm soát sự tuân thủ đạo đức nghề nghiệp của Kiểm toán viên nhà nước; kỹ năng kiểm soát và đánh giá hiệu quả công việc; kinh nghiệm vận dụng kỹ năng mềm khi thực hiện nhiệm vụ. Khóa học bao gồm 28 tiết với 2 chuyên đề học tập: Một số kỹ năng lãnh đạo, quản lý của Tổ trưởng tổ kiểm toán và Vận dụng các kỹ năng mềm của Tổ trưởng tổ kiểm toán.

Kế toán điều tra tại Việt Nam: từ khung lý thuyết đến định hướng hoàn thiện thể chế

Kế toán điều tra tại Việt Nam: từ khung lý thuyết đến định hướng hoàn thiện thể chế

Bài viết hệ thống hóa cơ sở lý luận của kế toán điều tra, làm rõ ranh giới giữa kế toán điều tra và kiểm toán, đồng thời phân tích phương pháp nghiệp vụ chủ yếu và thực trạng thể chế liên quan tại Việt Nam. Trên cơ sở tổng hợp tài liệu, phân tích quy phạm pháp luật và đối chiếu với thông lệ nghề nghiệp quốc tế, kết quả cho thấy kế toán điều tra không nên được hiểu thuần túy như một hoạt động “hậu kiểm” nhằm hỗ trợ tố tụng, mà cần được nhìn nhận như một cấu phần của quản trị rủi ro gian lận, quản trị tuân thủ và bảo đảm tính liêm chính của thông tin tài chính. Việt Nam đã có nền tảng pháp lý nhất định thông qua quy định về việc giám định tư pháp trong lĩnh vực tài chính, song vẫn còn khoảng cách đáng kể so với thông lệ quốc tế về chuẩn năng lực, quy trình xử lý chứng cứ số, mức độ chấp nhận kết quả điều tra độc lập và cơ chế phối hợp liên ngành. Từ đó, bài viết đề xuất ba nhóm giải pháp gồm: hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho chứng cứ và giao dịch số; phát triển nguồn nhân lực chuyên sâu gắn với chứng chỉ nghề nghiệp và đầu tư hạ tầng dữ liệu, công nghệ phân tích phục vụ phát hiện gian lận theo hướng chủ động. Từ khóa: Kế toán điều tra; gian lận tài chính; giám định tư pháp; kiểm toán; chứng cứ số. Forensic accounting in Vietnam: From theoretical framework to institutional refinement This paper systematizes the theoretical basis of forensic accounting, distinguishing it from auditing and analyzing the main professional skills as well as current institutional status in Vietnam. Based on a synthesis of documents, analysis of legal norms, and comparison with international professional practices this paper suggest forensic accounting should be viewed not merely as "post-audit" litigation support but as a component of fraud risk management and financial integrity. Despite an existing legal foundation for judicial expertise in the financial sector, there is still significant gaps with international standards regarding competency standards, digital evidence procedures and interdisciplinary coordination. Therefore, the article proposes three groups of solutions: perfecting the legal framework for digital evidence and transactions; developing specialized human resources linked to professional certifications; and investing in data infrastructure and analytical technology to proactively detect fraud. Keywords: Forensic accounting; financial fraud; judicial expertise; auditing; digital evidence. JEL classification: M41, M42, K42 https://doi.org/10.65771/ati-jas.04202607 1. Đặt vấn đề Trong bối cảnh số hóa hoạt động kinh doanh, mở rộng giao dịch xuyên biên giới và gia tăng mức độ tinh vi của tội phạm kinh tế, yêu cầu về các công cụ phát hiện, chứng minh và xử lý gian lận tài chính ngày càng trở nên cấp bách. Những vụ việc thao túng báo cáo tài chính, chuyển giá, biển thủ nội bộ, che giấu tài sản hoặc hợp thức hóa dòng tiền bất hợp pháp cho thấy giới hạn của các cơ chế kiểm soát truyền thống khi phải đối diện với hành vi có chủ đích, được tổ chức bài bản và thường có sự hỗ trợ của công nghệ. Trong hệ thống công cụ đó, kế toán điều tra nổi lên như một lĩnh vực liên ngành kết nối kế toán, kiểm toán, pháp lý, điều tra và phân tích dữ liệu. Khác với hoạt động bảo đảm thông thường vốn tập trung vào mức độ trung thực, hợp lý của báo cáo tài chính, kế toán điều tra hướng đến tái cấu trúc sự kiện, truy vết dòng tiền, xác lập mối liên hệ giữa bằng chứng và hành vi, từ đó hỗ trợ giải quyết tranh chấp hoặc xử lý trách nhiệm pháp lý. Ở Việt Nam, thuật ngữ “kế toán điều tra” chưa được thể chế hóa một cách đầy đủ như một nghề nghiệp độc lập, nhưng nội hàm của nó đã xuất hiện trong thực tiễn giám định tư pháp về tài chính, kế toán, kiểm toán và trong hoạt động xác minh nội bộ của doanh nghiệp. Vì vậy, việc hệ thống hóa khung lý luận, đánh giá thực trạng triển khai và đề xuất định hướng phát triển là cần thiết cả về phương diện học thuật lẫn thực tiễn quản lý. 2. Mục tiêu, câu hỏi và phương pháp nghiên cứu Bài viết hướng tới ba mục tiêu: (i) làm rõ bản chất, phạm vi và nền tảng lý thuyết của kế toán điều tra; (ii) phân tích sự khác biệt giữa kế toán điều tra với kiểm toán truyền thống và các kỹ thuật nghiệp vụ chủ yếu; (iii) đánh giá thực trạng thể chế tại Việt Nam và đề xuất định hướng hoàn thiện. Từ đó, nghiên cứu đặt ra ba câu hỏi: (1) Kế toán điều tra được hình thành trên những cơ sở lý thuyết và yêu cầu nghề nghiệp nào? (2) Những điểm khác biệt cốt lõi giữa kế toán điều tra và kiểm toán truyền thống là gì? (3) Việt Nam cần hoàn thiện những điều kiện nào để phát triển kế toán điều tra theo hướng chuyên nghiệp, có khả năng hỗ trợ quản trị và tố tụng? Về phương pháp, nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính với ba kỹ thuật chủ đạo: tổng quan tài liệu học thuật và nghề nghiệp; phân tích quy phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam; và đối chiếu, so sánh với một số chuẩn mực, thông lệ nghề nghiệp quốc tế. Cách tiếp cận này phù hợp với mục tiêu xây dựng khung khái niệm, đánh giá thể chế và đề xuất hàm ý chính sách cho bối cảnh Việt Nam. 3. Cơ sở lý luận về kế toán điều tra Kế toán điều tra thường được hiểu là quá trình thu thập, phân tích, diễn giải và trình bày bằng chứng tài chính hoặc phi tài chính có liên quan nhằm phục vụ giải quyết tranh chấp, xử lý gian lận hoặc hỗ trợ tố tụng. Tính chất cốt lõi của lĩnh vực này là định hướng bằng chứng và khả năng đưa kết quả chuyên môn đến ngưỡng chấp nhận trước cơ quan có thẩm quyền hoặc trước các bên tranh chấp. Nếu kiểm toán nhấn mạnh “đảm bảo hợp lý”, thì kế toán điều tra nhấn mạnh “sự thật có thể chứng minh”. Vì vậy, đầu ra của kế toán điều tra không chỉ là phát hiện sai lệch, mà còn bao gồm việc giải thích cơ chế gian lận, xác lập động cơ, cách thức thực hiện, quy mô thiệt hại, chủ thể liên quan và chuỗi bằng chứng hỗ trợ cho kết luận chuyên môn. Sự phát triển của kế toán điều tra gắn liền với nhu cầu kiểm soát gian lận trong nền kinh tế hiện đại. Trong môi trường kinh doanh dựa trên dữ liệu, bằng chứng không còn giới hạn ở sổ sách và chứng từ giấy mà mở rộng sang log hệ thống, siêu dữ liệu tệp, email, tin nhắn, dữ liệu thiết bị, giao dịch điện tử và các dấu vết số khác. Điều này khiến kế toán điều tra ngày càng mang đậm tính liên ngành và đòi hỏi năng lực công nghệ rõ nét hơn trước. 3.1. Các học thuyết nền tảng trong nhận diện gian lận Các mô hình giải thích gian lận giúp nhà nghiên cứu và người thực hành di chuyển từ quan sát hiện tượng sang lý giải căn nguyên hành vi. Trong khuôn khổ bài viết này, bốn nền tảng thường được viện dẫn gồm tam giác gian lận, kim cương gian lận, lý thuyết đại diện và lý thuyết thể chế. Trong thực hành, không nên tuyệt đối hóa bất kỳ mô hình nào. Các học thuyết chỉ có giá trị như khung suy luận để xây dựng giả thuyết điều tra, lựa chọn nguồn bằng chứng và diễn giải bối cảnh phát sinh gian lận. Đặc biệt, đối với các vụ việc có yếu tố tổ chức hoặc công nghệ, việc kết hợp góc nhìn hành vi với góc nhìn thể chế sẽ cho kết quả thuyết phục hơn so với việc chỉ tập trung vào biến động số liệu. 3.2. Ranh giới giữa kế toán điều tra và kiểm toán truyền thống Kế toán điều tra (Forensic Accounting - FA) là một lĩnh vực chuyên sâu kết hợp kiến thức kế toán, kỹ năng kiểm toán, kỹ thuật điều tra và kiến thức pháp luật nhằm phát hiện, điều tra và phòng ngừa gian lận cùng các sai phạm tài chính. Khác với kiểm toán truyền thống, kế toán điều tra không chỉ dừng ở việc xác định tính tuân thủ mà còn chủ động phát hiện các hành vi gian lận tài chính, xác định mức độ thiệt hại và thu thập bằng chứng phục vụ các thủ tục pháp lý. Điểm khác biệt cốt lõi là kế toán điều tra không dừng lại ở việc chỉ ra sự hiện diện của sai lệch trọng yếu, mà hướng tới chứng minh mối liên hệ giữa bằng chứng và ý chí thực hiện hành vi. Bởi vậy, ngoài chứng từ kế toán, người làm kế toán điều tra còn phải khai thác dữ liệu ngoại vi như email, quyền truy cập hệ thống, lịch sử chỉnh sửa tệp, nhật ký phê duyệt, cấu trúc sở hữu có liên quan và các giao dịch qua bên thứ ba. 4. Phương pháp tiếp cận và kỹ thuật nghiệp vụ hiện đại Quy trình kế toán điều tra thường bắt đầu từ giai đoạn xác lập predication, tức là xác định có căn cứ hợp lý để nghi ngờ gian lận hoặc vi phạm hay không. Sau đó là các bước lập giả thuyết, xác định nguồn dữ liệu, bảo toàn bằng chứng, phân tích giao dịch, phỏng vấn đối tượng liên quan, lượng hóa thiệt hại và lập báo cáo điều tra. Việc thiết kế quy trình không chỉ nhằm phát hiện gian lận mà còn phải bảo đảm khả năng sử dụng kết quả về sau trong giải quyết tranh chấp hoặc tố tụng. Trong môi trường số, bộ công cụ nghiệp vụ của kế toán điều tra đã mở rộng đáng kể. Thay vì chỉ sử dụng chọn mẫu truyền thống, nhiều cuộc điều tra áp dụng kiểm tra toàn bộ tập dữ liệu kết hợp với kỹ thuật phân tầng rủi ro, phát hiện ngoại lệ và đối chiếu chéo nguồn dữ liệu. - Phân tích dữ liệu toàn bộ tập (full-population testing): sử dụng các công cụ phân tích để quét toàn bộ nhật ký giao dịch, đối soát dữ liệu chủ và nhận diện mẫu bất thường. - Phân tích siêu dữ liệu và chứng cứ số: kiểm tra thời điểm tạo lập, sửa đổi, thiết bị truy cập, quyền người dùng, lịch sử phê duyệt để làm rõ khả năng giả mạo hoặc can thiệp hồ sơ. - Kỹ thuật thống kê và phân tích định lượng: vận dụng định luật Benford, so sánh hệ số quy mô tương đối, phân tích ngoại lệ, phân tích mạng giao dịch và liên kết đối tượng. - Truy vết tài sản và dòng tiền: tái dựng lộ trình tiền, xác định tài khoản trung gian, chủ thể hưởng lợi cuối cùng và tài sản chuyển dịch qua nhiều lớp giao dịch. - Phỏng vấn điều tra: thiết kế trình tự phỏng vấn theo mức độ liên quan của đối tượng, kết hợp tâm lý học hành vi với chiến lược đối chiếu chứng cứ. Tuy nhiên, công nghệ không thay thế vai trò phán đoán chuyên môn. Dữ liệu chỉ cung cấp tín hiệu; còn việc chuyển tín hiệu thành chứng cứ có giá trị đòi hỏi hiểu biết về quy trình nghiệp vụ, pháp lý chứng cứ, động cơ hành vi và bối cảnh tổ chức. Đây là lý do kế toán điều tra ngày càng được xem là nghề nghiệp có sự kết hợp giữa tài chính, pháp lý và khoa học dữ liệu. 5. Thực trạng thể chế và khả năng triển khai tại Việt Nam Ở Việt Nam, nội hàm về kế toán điều tra hiện nay được phản ánh thông qua hoạt động giám định tư pháp trong lĩnh vực tài chính - kế toán. Khung pháp lý điều chỉnh lĩnh vực này đã được hoàn thiện theo hướng đồng bộ và cập nhật với việc ban hành Luật Giám định tư pháp 2025, trên cơ sở kế thừa và phát triển từ Luật Giám định tư pháp 2012 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp 2020. Theo quy định của pháp luật hiện hành, giám định tư pháp là hoạt động do người giám định thực hiện, sử dụng kiến thức chuyên môn cùng với phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật và nghiệp vụ để đưa ra kết luận chuyên môn về những vấn đề có liên quan đến hoạt động tố tụng hoặc theo yêu cầu giám định theo quy định của pháp luật. Trong lĩnh vực tài chính, hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành, tiêu biểu là Thông tư 40/2022/TT-BTC và các văn bản sửa đổi, bổ sung (nếu có) nhằm bảo đảm sự phù hợp với Luật Giám định tư pháp 2025, đã góp phần cụ thể hóa phạm vi giám định, tiêu chuẩn chuyên môn, cũng như quy trình và phương thức thực hiện. Nhìn chung, khuôn khổ pháp lý điều chỉnh các hoạt động hỗ trợ điều tra, xác minh và đưa ra kết luận chuyên môn trong lĩnh vực tài chính - kế toán đã được thiết lập theo hướng tương đối đầy đủ, thống nhất và tiệm cận thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, xét trên phương diện học thuật và thực tiễn nghề nghiệp, thuật ngữ “kế toán điều tra” (forensic accounting) hiện vẫn chưa được chính thức ghi nhận như một lĩnh vực chuyên môn độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Các hoạt động có bản chất tương đồng chủ yếu đang được thực hiện phân tán dưới danh nghĩa giám định tư pháp, kiểm toán, thanh tra và điều tra tài chính. Điều này cho thấy khoảng trống nhất định trong việc định danh, chuẩn hóa và phát triển một lĩnh vực chuyên môn có tính liên ngành, tích hợp giữa kế toán, kiểm toán và pháp luật nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác phòng, chống gian lận và tội phạm kinh tế. Dưới góc độ thực thi, kế toán điều tra ở Việt Nam đang xuất hiện dưới ba hình thức chính: (i) hỗ trợ cơ quan tiến hành tố tụng trong các vụ án kinh tế, tham nhũng, thuế, chứng khoán, ngân hàng; (ii) hoạt động xác minh nội bộ, điều tra tuân thủ hoặc chống gian lận trong doanh nghiệp, tổ chức tín dụng; và (iii) hỗ trợ giải quyết tranh chấp dân sự, thương mại, lao động, hôn nhân gia đình liên quan đến tài sản và nghĩa vụ tài chính. Khoảng cách giữa Việt Nam và thông lệ quốc tế thể hiện ở bốn khía cạnh: Thứ nhất, chưa có bộ chuẩn năng lực nghề nghiệp đủ rõ cho vai trò kế toán điều tra; thứ hai, cơ chế phối hợp giữa chuyên gia tài chính, chuyên gia công nghệ và cơ quan tố tụng chưa thật sự đồng bộ; thứ ba, năng lực xử lý giao dịch trên nền tảng số, tài sản mã hóa và chứng cứ điện tử còn chưa đồng đều giữa các chủ thể thực thi; thứ tư, doanh nghiệp Việt Nam nói chung vẫn thiên về xử lý hậu quả hơn là xây dựng năng lực điều tra nội bộ và quản trị gian lận theo hướng phòng ngừa. 6. Thảo luận thách thức và định hướng phát triển 6.1. Những thách thức nổi bật Thách thức thứ nhất là vấn đề nhận thức. Không ít doanh nghiệp vẫn xem điều tra gian lận là hoạt động chỉ cần triển khai khi đã phát sinh vụ việc nghiêm trọng, trong khi giá trị lớn nhất của kế toán điều tra lại nằm ở khả năng thiết kế kiểm soát, nhận diện sớm tín hiệu bất thường và củng cố văn hóa tuân thủ. Thách thức thứ hai là tốc độ biến đổi công nghệ. Giao dịch trên nền tảng điện tử, điện toán đám mây, hệ sinh thái thanh toán đa lớp và tài sản số làm thay đổi bản chất bằng chứng, phương thức che giấu và nhịp độ dịch chuyển tài sản. Nếu thiếu công cụ phân tích dữ liệu, điều tra viên rất dễ bỏ sót chuỗi giao dịch hoặc không chứng minh được liên kết giữa các chủ thể. Thách thức thứ ba là chất lượng nguồn nhân lực. Kế toán điều tra đòi hỏi khả năng tích hợp ba nhóm năng lực: tài chính - kế toán; pháp lý - chứng cứ; và dữ liệu - công nghệ. Sự thiếu hụt nhân lực có đủ 3 nhóm nhân lực này khiến nhiều cuộc xác minh dừng ở mức phát hiện sai lệch, chưa đạt tới ngưỡng điều tra có khả năng bảo vệ trước phản biện pháp lý. 6.2. Hàm ý chính sách và giải pháp Một là, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý theo hướng ghi nhận rõ hơn vai trò của hoạt động điều tra tài chính độc lập, chuẩn hóa yêu cầu đối với chứng cứ số và có hướng dẫn xử lý đối với các giao dịch tài sản số, giao dịch xuyên biên giới, ủy quyền điện tử và các cấu trúc sở hữu phức tạp. Hai là, phát triển hệ sinh thái đào tạo và chứng chỉ nghề nghiệp. Việt Nam cần xây dựng chương trình đào tạo liên ngành ở bậc đại học, sau đại học và bồi dưỡng chuyên môn ngắn hạn cho đội ngũ kế toán, kiểm toán, luật sư, điều tra viên và cán bộ tuân thủ. Việc tham chiếu các chứng chỉ nghề nghiệp quốc tế nên được coi là giải pháp chuyển tiếp để nâng chuẩn năng lực thực hành. Ba là, đầu tư hạ tầng công nghệ phục vụ điều tra. Các tổ chức có rủi ro gian lận cao cần tăng cường kho dữ liệu tập trung, cơ chế lưu vết nghiệp vụ, cảnh báo giao dịch bất thường, công cụ phân tích mạng quan hệ và kỹ thuật phân tích log, qua đó chuyển dần từ mô hình phản ứng sau sự cố sang mô hình dự báo và phòng ngừa. Bốn là, tăng cường quản trị doanh nghiệp và cơ chế phối hợp liên ngành. Kế toán điều tra chỉ phát huy hiệu quả khi gắn với hệ thống tố cáo nội bộ, bảo vệ người tố cáo, kiểm soát xung đột lợi ích, giám sát của hội đồng quản trị/ban kiểm soát và cơ chế phối hợp giữa doanh nghiệp, kiểm toán, luật sư, cơ quan quản lý và cơ quan tiến hành tố tụng. Kết luận Kế toán điều tra là một lĩnh vực có giá trị học thuật và ứng dụng cao trong bối cảnh nền kinh tế vận hành ngày càng dựa vào dữ liệu, công nghệ và các cấu trúc giao dịch phức tạp. Cốt lõi của lĩnh vực này không chỉ là kiểm tra số liệu, mà là tái dựng sự kiện tài chính theo chuẩn bằng chứng có thể chấp nhận trong quản trị hoặc trước pháp luật. Đối với Việt Nam, mặc dù chế định giám định tư pháp trong lĩnh vực tài chính đã tạo ra nền tảng pháp lý quan trọng, nhưng để hình thành một hệ sinh thái kế toán điều tra thực sự chuyên nghiệp vẫn cần những bước tiến về thể chế, nhân lực và công nghệ. Vì vậy, cần xem kế toán điều tra như một mắt xích của quản trị rủi ro gian lận và bảo đảm liêm chính tài chính, thay vì chỉ là công cụ xử lý sau vi phạm. Ý nghĩa thực tiễn của bài viết là gợi mở một lộ trình chuyển đổi từ “phản ứng” sang “phòng ngừa chủ động”, trong đó vai trò của dữ liệu, chứng cứ số và năng lực liên ngành trở thành điều kiện quyết định. Đây cũng là hướng đi phù hợp để tăng cường chất lượng quản trị doanh nghiệp và hiệu quả phòng, chống gian lận trong nền kinh tế Việt Nam. Tài liệu tham khảo 1. American Institute of Certified Public Accountants. (2026). Forensic services. AICPA & CIMA; 2. Association of Certified Fraud Examiners. (2024). Occupational fraud 2024: A report to the nations. ACFE; 3. Bộ Tài chính. (2022). Thông tư 40/2022/TT-BTC ngày 24/6/2022 quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tài chính; 4. Cressey, D. R. (1953). Other people’s money: A study in the social psychology of embezzlement. Free Press; 5. Quốc hội. (2012). Luật Giám định tư pháp 2012 số 13/2012/QH13 ngày 20/6/2012; 6. Quốc hội. (2020). Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp 2020 số 56/2020/ QH14 ngày 10/6/2020; 7. Quốc hội. (2025). Luật Giám định tư pháp 2025 số 105/2025/QH15; 8. Trần, K. L., & Lê, V. B. X. (2024). A systematic review on emerging trends, future directions of forensic accounting, and its contribution to Vietnam. Proceedings of 4th International Conference on Research in Management Technovation. Springer; 9. Wolfe, D. T., & Hermanson, D. R. (2004). The fraud diamond: Considering the four elements of fraud. The CPA Journal, 74(12), 38–42. Ngày nhận bài: 26/02/2026 Ngày biên tập: 03/3/2026 Ngày duyệt đăng: 07/4/2026 Tác giả: Nguyễn Diệu Linh Học viện Ngân hàng Email: linhnv@hvnh.edu.vn Nguyễn Thị Lê Thanh Học viện Ngân hàng (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, số tháng 4/2026)

Để tăng cường tính độc lập tự chủ và sức chống chịu của nền kinh tế trong bối cảnh hiện nay

Để tăng cường tính độc lập tự chủ và sức chống chịu của nền kinh tế trong bối cảnh hiện nay

Độc lập, tự chủ là là giữ vững chủ quyền và năng lực tự quyết định mọi hoạt động của quốc gia - dân tộc về đối nội, đối ngoại, nhất là lựa chọn con đường, mô hình phát triển, chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại theo lợi ích cao nhất của quốc gia và ý chí của người dân, không phụ thuộc vào bất cứ thế lực nào từ bên ngoài; trong đó, độc lập, tự chủ về kinh tế là nền tảng vật chất cơ bản để giữ vững độc lập, tự chủ về chính trị và tăng cường độc lập, tự chủ của quốc gia… Từ khoá: Lực lượng sản xuất mới; nền kinh tế; độc lập; tự chủ; phát triển; hội nhập; đất nước. 1. Điểm nhấn bối cảnh thế giới hiện nay Thế giới đương đại đang chứng kiến những biến chuyển nhanh chóng, phức tạp và khó lường của tình hình địa chính trị, kinh tế và môi trường khu vực và toàn cầu, trước mắt và lâu dài; đồng thời, tác động lan toả mạnh mẽ đến tất cả các nước dù thuộc chế độ chính trị xã hội nào và có trình độ phát triển cao hay thấp ra sao..., trong đó có Việt Nam, với một số động thái nổi bật sau: Thứ nhất, gia tăng cạnh tranh địa chính trị và tái cấu trúc trật tự kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế mới theo hướng đa cực đa trung tâm. Nổi bật trong số đó là xu hướng gia tăng cạnh tranh chiến lược giữa các nước và nhóm nước Mỹ, EU - Nga - Trung Quốc, Ấn Độ; kéo theo dự gia tăng chi phí gắn với chạy đua quân sự và chạy đua công nghệ cao phục vụ chiến tranh tổng lực cả về quân sự, kinh tế, truyền thông, thông tin và tâm lý. Hệ thống đa phương bị thách thức ngày càng lớn, nhưng vẫn được phần đông các nước trong cộng đồng quốc tế coi trọng. Cách mạng công nghiệp 4.0 làm trầm trọng hơn xu hướng phân mảng, chia rẽ, nhất là chia rẽ số giữa các nước, các nhóm nước, gây ra những tác động lâu dài đối với cục diện thế giới và khu vực. Toàn cầu hóa hội nhập quốc tế vẫn tiếp diễn, dù chậm lại; các hoạt động vận tải, di chuyển vật chất toàn cầu suy giảm, nhường chỗ cho những phương cách, lĩnh vực toàn cầu hoá phi vật chất. Thương mại toàn cầu tiếp tục tăng, còn đầu tư quốc tế có thể giảm so với trước và được cấu trúc lại theo hướng gia tăng tính bền vững của các chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu và hướng vào các lĩnh vực xanh, lĩnh vực số; sự cân bằng ngày càng đậm nét hơn giữa tự do hóa, mở cửa với tự cường; giữa hội nhập sâu rộng, toàn diện với tự chủ chiến lược; giữa tham gia cuộc chơi chung với nâng cao khả năng chống chịu bên trong từng quốc gia, từng nền kinh tế. Tính bền vững, bao trùm được quan tâm hơn; chuyển đổi số và kinh tế số trở thành xu thế lớn; tiến trình khu vực hóa được đẩy nhanh hơn. Đồng thời, sẽ tiếp tục gia tăng sự phân mảnh công nghệ và tái cơ cấu các chuỗi cung ứng kinh tế thế giới theo hướng chuyển dịch chuỗi sản xuất vào các thị trường quốc gia cùng phe nhóm và đồng minh, bạn bè hoặc trở lại trong nước. Tình trạng chạy đua, đối kháng về khoa học - công nghệ, đối kháng về kinh tế, cạnh tranh tài nguyên, cạnh tranh nguồn nhân lực chất lượng cao, chạy đua bảo vệ sở hữu trí tuệ... giữa các nước ngày càng gay gắt. Xu hướng dân chủ hóa quan hệ quốc tế bị thách thức nghiêm trọng hơn bởi chính trị cường quyền, cạnh tranh nước lớn. Nhận thức chung về tầm quan trọng của chủ nghĩa đa phương, hệ thống đa phương và ngoại giao đa phương của đa số các nước được nâng lên cùng với “áp lực buộc phải chọn phe”. Các nước vừa và nhỏ càng coi trọng vai trò của luật pháp quốc tế trong bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc của mình. Ngoài ra, biến động khí hậu cực đoan và yêu cầu về bảo vệ môi trường và sức khoẻ người tiêu dùng cũng ngày càng cao, nghiêm ngặt và mở rộng hơn. Các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống ngày càng gia tăng và đan xen, cộng hưởng gây hậu quả nặng nề hơn cho mỗi quốc gia và toàn thế giới, cả hiện tại và tương lai. Về tổng thể, thế giới đang bước vào giai đoạn kinh tế tăng trưởng chậm lại và áp lực nợ công và rủi ro trên thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế, lạm phát, bất bình đẳng trong xã hội gia tăng so với 3 thập kỷ trước. Thứ hai, lực lượng sản xuất mới với những cấu thành mới và đặc tính mới đang đặt ra những nhận thức và yêu cầu mới về xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ của mỗi quốc gia. Một trong những đặc trưng thời đại hiện nay là sự xuất hiện các cấu trúc lực lượng sản xuất mới, bao gồm cả các yếu tố đầu vào (như vật liệu mới, năng lượng mới, robot hình người và công nghệ tự động mới, AI và dữ liệu…), không gian kinh tế (nền kinh tế số và không gian kinh tế số), đồng tiền số/ảo và thị trường mới (mua bán các yếu tố và thành phẩm kinh tế số…)… Đặc điểm nổi bật của lực lượng sản xuất mới này là ngày càng hoạt động theo chuỗi, kết nối thành hệ thống dây chuyền, vừa có tính khép kín, vừa mang tính mở cao. Các biến động về cung - cầu, giá cả và chu kỳ thị trường liên quan cũng có nhiều động thái mới lạ, nhanh chóng, khó lường và mạnh mẽ, lan toả rộng, với phạm vi ngày càng bao quát hơn cả vĩ mô và vi mô, trong nước và quốc tế. Không gian kinh tế và năng suất lao động tăng nhanh, song các ranh giới và chủ quyền quốc gia ngày càng bị mờ dần trước sức mạnh, sự phụ thuộc và sự độc quyền công nghệ. Các lợi thế so sánh truyền thống cạn dần hoặc giảm dần ý nghĩa, trong khi các thách thức và cả các cơ hội mới xuất hiện ngày càng nhiều. Đặc biệt, một quốc gia và tập đoàn, doanh nghiệp kinh doanh ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào các chuỗi cung ứng đầu vào, thị trường đầu ra và các đối tác công nghệ liên quan ngoài biên giới. Dữ liệu và thông tin, cũng như công nghệ và khả năng đổi mới, sáng tạo trở thành nguồn tài nguyên mới vô giá, ngày càng quyết định năng lực cạnh tranh hiệu quả của quốc gia và doanh nghiệp trong các hoạt động kinh tế mới, với nhiều sản phẩm và thị trường mới khó tính đúng tính đủ giá trị bằng tiền như các dạng kinh té vật chất truyền thống. Ngày càng nhiều ngành nghề truyền thống bị mất đi và xuất hiện những lĩnh vực, nghề nghiệp mới; cơ cấu lao động và yêu cầu giáo dục, đào tạo và đảm bảo an sinh xã hội cũng theo đó mà có sự chuyển dịch mới, sâu sắc. Trong bối cảnh đó, tính độc lập, tự chủ của quốc gia bị thách thức mạnh, thậm chí mất đi nhiều ý nghĩa nội hàm yêu cầu cũ, nhất là các quốc gia chậm thích ứng với chuyển đổi số, không có công nghệ nguồn và năng lực đổi mới, sáng tạo cao, thiếu phản ứng thị trường và chính sách nhanh nhạy và hiệu quả. Cách mạng công nghiệp 4.0 trong khi đem lại cơ hội học hỏi, gia tăng các loại hình việc làm mới, cơ hội “rượt đuổi và bắt kịp” cho những nước đi sau như Việt Nam, thì cũng làm tăng áp lực về và thách thức về nâng cao năng lực tham gia chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu, cơ hội thu hút FDI và đảm bảo an sinh xã hội cho lao động Việt Nam. Thứ ba, các tiêu chí đo lường sức mạnh quốc gia ngày càng dựa trên cộng hưởng sức mạnh nội lực kinh tế, quốc phòng và khả năng phản ứng chính sách, phản ứng thị trường thông minh và hiệu quả. Ngày nay sức mạnh của các nước thường được đo bằng: i, Sức mạnh cứng: sức mạnh kinh tế (quy mô GDP, khả năng cạnh tranh thị trường và sự lành mạnh tài chính), tiềm lực khoa học - công nghệ; sức mạnh quốc phòng (số lượng quân đội, chi tiêu quốc phòng, công nghiệp quốc phòng, mạng lưới đồng minh…); ii, Sức mạnh mềm (sức hấp dẫn về mô hình, hệ giá trị; số lượng đối tác, vị thế, ảnh hưởng trên thế giới…); iii, Sức mạnh thông minh (khả năng sử dụng các loại sức mạnh để đạt được mục tiêu quốc gia, sự đúng đắn của chính sách và hiệu quả triển khai chính sách, khả năng điều chỉnh, phản ứng khi khủng hoảng…). Tổng thể sức mạnh quốc gia ngày càng dựa trên cộng hưởng sức mạnh nội lực kinh tế, quốc phòng và khả năng phản ứng chính sách, phản ứng thị trường thông minh và hiệu quả. Sức mạnh quốc gia còn được đánh giá theo nhiều tiêu chí khác tuỳ góc nhìn của các tổ chức quốc tế, song độc lập, tự chủ và đảm bảo sức chống chịu cao của nền kinh tế luôn là tiêu chí trọng tâm hội tụ và đo lường sức mạnh kinh tế quốc gia cả hiện tại và tương lai. Thực tế thế giới hiện đại cho thấy, không có ngoại lệ không đổ vỡ và phá sản nào cho bất kỳ mô hình phát triển, nền kinh tế quốc gia và doanh nghiệp, cũng như mọi tỷ phú thế giới nào nếu không có nhận thức đúng và kịp thời phản ứng linh hoạt chính sách và thị trường trong một bối cảnh trong nước và quốc tế ngày càng nhiều biến động phức tạp và khó lường. Đặc biệt, sự thành công của mỗi quốc gia tỷ lệ thuận với năng lực và hiệu lực, hiệu quả xây dựng và vận hành cơ chế đảm bảo hài hoà lợi ích, hội tụ, lan toả và phát huy được tổng hợp sức mạnh, các nguồn lực trong nước và quốc tế cho các mục tiêu lựa chọn phù hợp với từng giai đoạn lịch sử và thực tiễn trong nước, quốc tế; giữ vững niềm tin chính trị, niềm tin chính sách, niềm tin đầu tư và tiêu dùng thị trường; củng cố sự đoàn kết và đồng thuận xã hội cao; chủ động bám sát tình hình, tăng năng lực thông tin, dự báo và linh hoạt các kịch bản ứng phó kịp thời. 2. Nhận diện nền kinh tế độc lập tự chủ và sức chống chịu nền kinh tế theo tinh thần văn kiện Đại hội Đảng Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), xác định: “xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng”. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, nêu rõ: “Phát huy nội lực và sức mạnh dân tộc là yếu tố quyết định, đồng thời tranh thủ ngoại lực và sức mạnh thời đại là yếu tố quan trọng để phát triển nhanh, bền vững và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ”. Giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và tích cực, chủ động hội nhập nhằm tạo dựng sức mạnh dân tộc; trong đó, nội lực là quyết định; tranh thủ yếu tố ngoại lực và thời đại có vai trò quan trọng. Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 01/4/2013 của Bộ Chính trị (khóa XI) về hội nhập quốc tế, chủ trương: hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế. Đại hội XII (năm 2016), xác định: “chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế quốc tế… kết hợp hiệu quả ngoại lực và nội lực, gắn hội nhập kinh tế quốc tế với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ”. Nghị quyết số 06-NQ/TW, ngày 05/11/2016 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, chủ trương: tăng cường khả năng tự chủ của nền kinh tế, mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững. Trong văn kiện Đại hội XIII, lần đầu tiên Đảng nêu rõ yêu cầu: Nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các tác động tiêu cực từ các biến động kinh tế thế giới; Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn bó mật thiết với giữ vững các cân đối lớn đi đôi với bảo đảm an ninh kinh tế; Đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác; Chủ động hoàn thiện hệ thống phòng vệ để bảo vệ doanh nghiệp và thị trường trong nước; Hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với những điều ước và cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết; Giữ vững độc lập, tự chủ trong việc xác định chủ trương, đường lối, chiến lược phát triển kinh tế đất nước; Phát triển doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh trở thành nòng cốt của kinh tế đất nước; Giữ vững các cân đối lớn, chú trọng bảo đảm an ninh kinh tế; Không ngừng tăng cường tiềm lực kinh tế quốc gia; Tăng cường đào tạo cán bộ… có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế…; Tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển đô thị; Phát triển kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới; Đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia; Phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Điểm mới trong định hướng, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế theo tinh thần Đại hội XIII là nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển phù hợp với nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại, hội nhập; phát triển đồng bộ và tạo ra sự liên kết giữa các khu vực, các vùng, các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất kinh doanh và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế; huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tạo động lực để phát triển kinh tế nhanh và bền vững; nâng cao chất lượng, hiệu quả quản trị cả ở cấp quốc gia và doanh nghiệp; tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và hoạt động của những lĩnh vực, mô hình kinh doanh mới; phát huy vai trò của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong tham gia hình thành và điều tiết các quan hệ kinh tế thị trường; phát triển doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh, nòng cốt của kinh tế đất nước; giữ vững các cân đối lớn, bảo đảm an ninh kinh tế; đẩy mạnh đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ kinh tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác. Đặc biệt, văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh yêu cầu “bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”. Điều đó là cần thiết, tạo sự linh hoạt và vận dụng hiệu quả nguyên tắc “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong chỉ đạo, điều hành thực tiễn của Đảng trước mọi biến động nhanh, khó lường của thế giới. Đây cũng là thông điệp khẳng định sự nhất quán trong nhận thức chính trị nói chung của Đảng ta về định hướng nội dung và mục tiêu con đường đổi mới, hội nhập của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới, phù hợp với thực tiễn trong nước và xu hướng chung trên thế giới. Đại hội XIII cũng phân định rõ hơn vai trò, nội dung, yêu cầu và các công cụ quản lý kinh tế của nhà nước trong phát triển và củng cố các quan hệ gắn kết giữa kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; lần đầu tiên mở rộng, nhấn mạnh và làm rõ hơn mối quan hệ chặt chẽ giữa Nhà nước, Thị trường và Xã hội, thay vì chỉ có quan hệ Nhà nước với Thị trường trong văn kiện các kỳ Đại hội trước đây… 3. Yêu cầu mới và giải pháp cần có để đảm bảo tính độc lập tự chủ và tăng sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới Để xây dựng thành công nền kinh tế độc lập, tự chủ trong bối cảnh trên, đòi hỏi Việt Nam tiếp tục coi trọng giải quyết một số vấn đề sau: Một là, tiếp tục đổi mới nhận thức, hoàn thiện nội dung yêu cầu mô hình kinh tế tự chủ, linh hoạt hoá vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước. Vai trò chủ đạo của kinh tế tư nhân và doanh nghiệp nhà nước cần điều chỉnh phù hợp với cơ chế thị trường và yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng, đầy đủ và thực chất của Việt Nam. Theo đó, thu hẹp dần cả về quy mô, tỷ trọng và phạm vi hoạt động, nhất là trong hoạt động kinh tế vì lợi nhuận, tập trung nắm chủ đạo một số lĩnh vực, ngành kinh tế chủ chốt và hoạt động do Nhà nước cần độc quyền thuộc lĩnh vực đảm bảo quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; chủ động giữ vững các cân đối cơ cấu lớn, liên ngành, cấp quốc gia và ở địa phương, địa bàn cần thiết; chủ động và trực tiếp đảm nhận đầu tư vào những dự án, địa bàn không hấp dẫn hoặc cần thiết để định hướng, mở rộng đầu tư phát triển từ các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước. Đồng thời, phương thức chủ đạo cũng mềm và tỷ lệ cũng linh hoạt hơn, chủ yếu tham gia dưới hình thức cổ phần và giảm tối đa việc Nhà nước tham gia trực tiếp vào hoạt động kinh tế thông qua các doanh nghiệp nhà nước, chuyển một số nhiệm vụ mà các bộ, ngành, cơ quan nhà nước không cần thiết phải thực hiện cho tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đảm nhận. Theo thống kê chung trên thế giới, ở các nước, Chính phủ chỉ giữ 20% vốn tại doanh nghiệp nhà nước và khu vực doanh nghiệp nhà nước chỉ chiếm khoảng 5%-20% GDP… Thứ hai, đề cao vai trò kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, vừa thu hút công nghệ từ bên ngoài, vừa tăng cường năng lực đổi mới, sáng tạo và tự chủ công nghệ trong nước. Việt Nam cần đồng bộ và đa dạng hoá nhiều giải pháp từ chính trị, đối ngoại đến các cơ chế, chính sách kinh tế - tài chính thích ứng bảo đảm lòng tin chiến lược từ đối tác, nhất là các “đối tác chiến lược toàn diện”, để nhận được đầu tư FDI vào các ngành công nghệ cao hoặc được mua công nghệ cao, cho phép Việt Nam tham gia các chuỗi cung ứng công nghệ cao “mang tính bạn bè” trong khu vực và trên phạm vi toàn cầu. Đồng thời, triển khai nhanh và hiệu quả thực chất các chủ trương, nhiệm vụ và giải pháp theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Do đó, phải sớm thể chế hoá chủ trương coi kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của đất nước về tăng trưởng GDP, tăng năng suất lao động, tạo công ăn việc làm; lực lượng tiên phong trong kỷ nguyên mới, lực lượng chủ lực, đi đầu trong ứng dụng công nghệ và đổi mới, sáng tạo trong tầm nhìn chung của đất nước. Nhà nước bên cạnh việc phải củng cố mạnh mẽ khu vực doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn kinh tế nhà nước, cần ưu tiên xây dựng các tập đoàn kinh tế tư nhân tầm cỡ khu vực và toàn cầu, có năng lực cạnh tranh quốc tế, có sứ mệnh dẫn dắt, hỗ trợ trở lại các doanh nghiệp nội địa khác cùng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời, phải có chính sách riêng trong việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển, cũng như thành phần kinh tế hộ gia đình và kinh tế hợp tác xã, khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp và phát triển mô hình hợp tác xã kiểu mới, hiệu quả; khuyến khích doanh nghiệp tư nhân nâng cao năng lực nghiên cứu và đổi mới công nghệ, tham gia các lĩnh vực chiến lược, phát triển cơ sở hạ tầng quan trọng, công nghệ cao, công nghiệp mũi nhọn, an ninh năng lượng và một số lĩnh vực đặc biệt trong các dự án quan trọng quốc gia; kiểm soát chặt chẽ tình trạng doanh nghiệp độc quyền và thao túng chính sách; bảo vệ hữu hiệu quyền tài sản, quyền sở hữu (trong đó có quyền sở hữu trí tuệ và tài sản vô hình), quyền tự do kinh doanh và bảo đảm thực thi hợp đồng của doanh nghiệp tư nhân; giảm thiểu rủi ro pháp lý, hạn chế tối đa tình trạng thay đổi chính sách đột ngột gây tổn thất cho doanh nghiệp; tạo lập cơ chế hỗ trợ và bảo vệ nhà đầu tư tư nhân, nhất là các doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo… Thứ ba, củng cố niềm tin chính trị, nỗ lực đột phá thể chế, tinh gọn và nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả bộ máy quản lý nhà nước và toàn hệ thống chính trị để tạo động lực mới cho phát triển kinh tế đất nước theo hướng độc lập, tự chủ. Động lực mới được cộng hưởng và gắn với kết quả trực tiếp và gián tiếp, trước mắt và lâu dài của quá trình tinh gọn bộ máy; củng cố lòng tin, cải thiện vị thế và sự hấp dẫn của môi trường đầu tư, khai thác hiệu quả cơ hội đầu tư mới và các nguồn lực tiềm năng cho phát triển cả vĩ mô và vi mô, trước mắt và lâu dài, trong nước và ngoài nước. Với tinh thần đó, trong quá trình xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ thời gian tới cần tiếp tục giữ vững độc lập, tự chủ trong việc xác định chủ trương, đường lối, chiến lược phát triển kinh tế đất nước; đẩy nhanh quá trình hoàn thiện thể chế, nhất là về hệ thống pháp luật phù hợp với những điều ước quốc tế và cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết; coi trọng duy trì sự ổn định và phát triển trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường, hội nhập quốc tế; thúc đẩy sự chuyển biến mạnh mẽ hơn về cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới động lực tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, tăng tính cạnh tranh chất lượng của nền kinh tế; tập trung tạo mọi điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, phát triển cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam gắn kết và lớn mạnh trở thành nòng cốt của kinh tế đất nước; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác, nhất là khi thị trường hay đối tác đó có sự biến động; thực hiện nhiều hình thức hội nhập kinh tế quốc tế với các lộ trình linh hoạt, phù hợp với điều kiện, mục tiêu của đất nước từng giai đoạn; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và tăng cường đổi mới sáng tạo, phát triển và từng bước làm chủ khoa học công nghệ đáp ứng yêu cầu cạnh tranh quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Đặc biệt, cần sớm hoàn thiện cơ chế kết hợp hài hoà Nhà nước - Thị truờng - Xã hội trong một mô hình Nhà nước kiểu mới; coi trọng tính đồng bộ và chú ý đến tính hai mặt của các giải pháp chính sách đa dạng hóa và phối hợp các nguồn lực trong nước và quốc tế; khả năng tăng cường dự báo, thông tin, bảo vệ người tiêu dùng và giữ vững lòng tin trên thị trường, củng cố uy tín quốc gia và niềm tin chiến lược quốc tế vào các đột phá thể chế Việt Nam có tính hội nhập cao và bền vững hơn, từng bước định hình một tầm nhìn mới, một thực tiễn mới và mở ra triển vọng phát triển mới trong toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội Việt Nam thời kỳ chuyển mình hội nhập cùng thế giới… Không ngừng hoàn thiện, củng cố nhận thức toàn diện, đầy đủ, sâu sắc và tổ chức xây dựng hiệu quả mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, có sức chống chịu cao ở nước ta là biểu hiện và thước đo sự thành công bản lĩnh, trí tuệ về Đổi mới và Cách mạng của Đảng. Đồng thời, đó cũng là quá trình tạo lập và hiện thực hóa các mục tiêu, động lực và cơ chế để gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường, phát huy dân chủ, sáng tạo và bảo vệ quyền con người, quyền công dân và để người dân được hưởng thụ ngày càng nhiều hơn thành quả của công cuộc đổi mới; để giữ vững được ổn định chính trị và kinh tế, củng cố đồng thuận và đoàn kết xã hội, không ngừng cải thiện các quan hệ và vị thế quốc tế, xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam phát triển nhanh, bền vững hơn trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng và toàn diện hơn… Tài liệu tham khảo: 1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, H. 2011, tr. 102; 2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, H. 2016, tr. 111; 3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021; 4. Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; 5. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân; 6.https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/824082/quan-diem-moi-ve-xaydung-nen-kinh-te-viet-nam-doc-lap%2C-tu-chu-trong-van-kien-dai-hoi-xiii-cua-dang.aspx#. Tác giả: PGS.TS Ngô Thanh Hoàng, Ủy viên Hội đồng tư vấn kinh tế, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TS Nguyễn Minh Phong, Báo Nhân dân (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, số tháng 2/2026)

Agribank chào bán 15.000 tỷ đồng trái phiếu ra công chúng 2026

Nhằm gia tăng cơ hội đầu tư an toàn, hiệu quả đối với khách hàng, đồng thời, tăng trưởng thêm nguồn vốn dài hạn đáp ứng nhu cầu cho vay thúc đẩy phát triển nền kinh tế, Agribank chào bán 15.000 tỷ đồng trái phiếu ra công chúng năm 2026 với lãi suất hấp dẫn. Theo đó, nhà đầu tư là các tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài có thể đăng ký mua trái phiếu Agribank từ ngày 10/7/2026 đến ngày 31/7/2026 tại Trụ sở chính và tất cả các điểm giao dịch của Agribank trên toàn quốc và thông qua đại lý phát hành Công ty cổ phần chứng khoán Agribank - Agriseco.  Với thủ tục đơn giản, nhà đầu tư chỉ cần số tiền tối thiểu 100.000 đồng là đã có thể dễ dàng sở hữu trái phiếu của Agribank để tích lũy với kỳ hạn 10 năm và nhận lãi định kỳ 01 năm/lần. Lãi suất hấp dẫn của trái phiếu Agribank là lãi suất thả nổi, được tính bằng lãi suất tham chiếu (bình quân lãi suất tiền gửi tiết kiệm cá nhân bằng VND, kỳ hạn 12 tháng, trả lãi cuối kỳ được niêm yết của 4 ngân hàng BIDV, Vietinbank, Agribank, Vietcombank tại ngày xác định lãi suất) cộng biên độ 2,0%/năm và 2,5%/năm áp dụng trong 05 năm cuối của kỳ hạn. Sau khi kết thúc đợt chào bán, trái phiếu Agribank sẽ đăng ký tập trung tại Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam để các nhà đầu tư có thể lưu ký  thực hiện giao dịch mua bán, chuyển nhượng, cầm cố trên tài khoản chứng khoán của khách hàng. Với tổng tài sản vượt 2,7 triệu tỷ đồng, nguồn vốn huy động trên 2,5 triệu tỷ đồng và dư nợ tín dụng vượt mốc 2 triệu tỷ đồng, Agribank tiếp tục khẳng định vai trò ngân hàng thương mại nhà nước chủ lực trong đầu tư Tam nông. Nguồn vốn được Agribank cân đối bền vững, đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn phục vụ phát triển sản xuất, kinh doanh và các dự án trọng điểm quốc gia.

Agribank đẩy mạnh triển khai hoạt động cho vay thông qua Tổ vay vốn: Khơi thông nguồn vốn, trợ lực vững chắc cho “tam nông”

Sau hơn 25 năm triển khai rộng rãi, mô hình cho vay thông qua Tổ vay vốn của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) đã khẳng định hiệu quả kép trong dòng chảy kinh tế nông thôn. Agribank hiện đang triển khai hình thức cấp tín dụng này tại 105 Chi nhánh thuộc 34 tỉnh, thành phố trên cả nước với mạng lưới gần 60.000 Tổ vay vốn, gần 1 triệu thành viên tham gia và dư nợ lên tới hơn 215.000 tỷ đồng. Mô hình cho vay qua Tổ đang được triển khai tại 105 Chi nhánh Agribank tại 34 tỉnh, thành phố với gần 1 triệu thành viên tham gia, dẫn vốn trực tiếp đến từng hộ gia đình, giúp nhiều người dân khu vực nông thôn phát triển kinh tế, thay đổi cuộc sống, phát huy hiệu quả kép trong dòng chảy kinh tế nông thôn Tổ vay vốn - Kênh dẫn vốn hiệu quả, phát huy giá trị ưu việt vượt trội Trong những năm qua, Agribank luôn khẳng định vai trò chủ lực trên thị trường tài chính nông thôn. Thực hiện Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về phát triển nông nghiệp, nông thôn (Nghị định 55) và các văn bản chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Agribank đã phối hợp có hiệu quả với các tổ chức chính trị - xã hội, trong đó nòng cốt là các cấp Hội Nông dân và Hội Liên hiệp Phụ nữ, tổ chức triển khai thực hiện các nội dung cụ thể về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn gắn với thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, nhiệm vụ chính trị của mỗi ngành do Đảng và Nhà nước giao. Một trong những “mũi nhọn” giúp Agribank đưa dòng vốn tín dụng tiếp cận sâu rộng, kịp thời đến từng hộ gia đình, hộ sản xuất chính là hình thức cho vay thông qua Tổ vay vốn (Tổ tiết kiệm và vay vốn). Việc đẩy mạnh mô hình này không chỉ đơn thuần là mở rộng kênh dẫn vốn, mà còn phát huy tối đa thế mạnh của một ngân hàng gắn bó mật thiết với nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Hình thức cho vay qua Tổ vay vốn của Agribank được triển khai dựa trên sự phối hợp chặt chẽ giữa ngân hàng và các tổ chức chính trị - xã hội tại địa phương. Thực tiễn đã chứng minh mô hình này mang lại những giá trị ưu việt mà phương thức cho vay truyền thống khó có thể bao phủ hết, là một kênh dẫn vốn đặc thù, phù hợp với điều kiện sản xuất nhỏ lẻ, phân tán của khu vực nông thôn; đồng thời là phương thức quan trọng giúp người dân tiếp cận vốn ngân hàng thuận tiện, minh bạch, an toàn và hiệu quả hơn. Hình thức cho vay qua Tổ vay vốn của Agribank được triển khai dựa trên sự phối hợp chặt chẽ giữa ngân hàng và các tổ chức chính trị - xã hội tại địa phương Hiện nay, Agribank có hơn 2.200 điểm giao dịch, 68 điểm giao dịch lưu động bằng ô tô chuyên dùng; tổng nguồn vốn huy động đạt trên 2,5 triệu tỷ đồng, tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đạt trên 2 triệu tỷ đồng, trong đó dư nợ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm trên 60%. Với kênh dẫn vốn qua các Tổ vay vốn, Agribank trực tiếp cấp tín dụng ngân hàng cho hàng triệu khách hàng tại khu vực nông nghiệp, nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; góp phần cụ thể hóa mục tiêu tài chính toàn diện và khẳng định vai trò chủ lực trong tín dụng phục vụ “tam nông”. Agribank đang triển khai cho vay qua Tổ vay vốn tại 105 Chi nhánh thuộc 34 tỉnh, thành phố trên cả nước với mạng lưới gần 60.000 Tổ vay vốn, gần 1 triệu thành viên tham gia và dư nợ lên tới hơn 215.000 tỷ đồng. Thông qua Tổ vay vốn, Agribank có điều kiện bám sát địa bàn, nắm bắt nhu cầu thực tế của từng hộ dân, từng mô hình sản xuất, từng phương án kinh doanh nhỏ lẻ. Người dân, nhất là tại vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, có thêm cơ hội tiếp cận nguồn vốn chính thức, hạn chế phụ thuộc vào tín dụng phi chính thức, từng bước nâng cao năng lực tài chính và ý thức sử dụng vốn vay có trách nhiệm. Thay vì từng hộ dân phải tự tìm hiểu và lặn lội lên chi nhánh ngân hàng, Tổ trưởng Tổ vay vốn sẽ là người hướng dẫn bà con hoàn thiện hồ sơ ngay tại thôn, bản. Quá trình giải ngân, thu gốc và lãi cũng được thực hiện định kỳ ngay tại xã/phường/đặc khu, giúp người dân tiết kiệm tối đa thời gian và chi phí đi lại. Đối với đặc thù sản xuất nông nghiệp, nhiều hộ nông dân thiếu tài sản bảo đảm giá trị lớn. Thông qua Tổ vay vốn, Agribank áp dụng cơ chế cho vay tín chấp (cho vay không có tài sản bảo đảm) dựa trên sự thẩm định, tín nhiệm của tổ và chính quyền địa phương, mở ra cơ hội thay đổi cuộc sống cho hàng triệu hộ nghèo, hộ cận nghèo. Nhiều hộ gia đình từ chỗ “chật vật chạy ăn từng bữa”, nhờ đồng vốn kịp thời của Tổ vay vốn đã vươn lên thành hộ khá giả, tạo việc làm cho nhiều lao động khác tại địa phương. Đây cũng chính là một trong những giá trị cốt lõi của tài chính toàn diện: đưa dịch vụ ngân hàng đến gần hơn với người dân, không để khu vực nông thôn bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển. Bên cạnh đó, Tổ vay vốn hoạt động trên nguyên tắc tự nguyện, tương trợ. Các thành viên trong tổ không chỉ giám sát lẫn nhau sử dụng vốn đúng mục đích, mà còn chia sẻ kinh nghiệm sản xuất, giúp đỡ nhau khi gặp thiên tai, dịch bệnh. Nhờ đó, tỷ lệ nợ xấu qua kênh tổ vay vốn của Agribank luôn được kiểm soát ở mức rất thấp. Đặc biệt, sự tương trợ lẫn nhau giữa các thành viên đã làm khăng khít thêm tình làng nghĩa xóm, chung tay xây dựng nông thôn mới ngày càng văn minh, giàu đẹp. Song hành cùng hoạt động tích cực của Tổ vay vốn, điểm giao dịch lưu động bằng ô tô chuyên dùng của Agribank là kênh dẫn vốn trực tiếp hiệu quả nhất góp phần thay đổi đời sống người dân khu vực vùng sâu, vùng xa Phát huy thế mạnh của ngân hàng chủ lực phục vụ “Tam nông” Ngày 05/6/2026, Tổng Giám đốc Agribank đã ký ban hành văn bản chỉ đạo các Chi nhánh loại I đẩy mạnh triển khai hoạt động cho vay thông qua Tổ vay vốn (văn  bản số 9515/NHNo-KHCN) nhằm tạo sự chuyển động mạnh mẽ, đồng bộ hơn trong toàn hệ thống, đồng thời gắn hoạt động cho vay qua Tổ vay vốn với các mục tiêu lớn về phát triển nông nghiệp, nông thôn, tài chính xanh, chuyển đổi số và tài chính toàn diện. Theo đó, Tổng Giám đốc yêu cầu Giám đốc các Chi nhánh loại I trực tiếp chịu trách nhiệm và tập trung thực hiện quyết liệt 10 nhóm nhiệm vụ trọng tâm để phát triển hình thức cho vay qua tổ. Trong các nhiệm vụ này, cần đặc biệt chú ý gắn cho vay qua Tổ vay vốn với phát triển sản phẩm, dịch vụ Agribank. Cụ thể, gắn cho vay với việc hướng dẫn khách hàng mở tài khoản thanh toán, sử dụng ứng dụng Agribank Plus (với các tính năng như mở tài khoản trực tuyến, mobile banking, tiết kiệm và cho vay trực tuyến), quét mã QR, cài đặt thu nợ tự động nhằm giảm chi phí giao dịch, thu hẹp khoảng cách số giữa thành thị và nông thôn. Nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn là địa bàn chiến lược nhưng cũng đầy thách thức do phụ thuộc nhiều vào thời tiết và thị trường. Với mạng lưới rộng khắp cả nước, từ vùng đồng bằng đến các vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo, Agribank đã tận dụng tối đa lợi thế này để biến các Tổ vay vốn thành những “cánh tay nối dài” vững chắc. Việc đẩy mạnh cho vay qua tổ giúp Agribank kịp thời truyền tải các chính sách tín dụng ưu đãi của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đến đúng đối tượng. Dòng vốn từ Tổ vay vốn đã và đang “trợ lực”, làm “đòn bẩy” cho các mô hình kinh tế trang trại, gia trại, các hợp tác xã sản xuất theo chuỗi giá trị phát triển mạnh mẽ, làm nền tảng phát triển các chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP). Đặc biệt, không chỉ dừng lại ở việc cấp vốn, các cán bộ tín dụng Agribank còn thường xuyên phối hợp cùng Tổ trưởng Tổ vay vốn tích cực tư vấn, định hướng cho bà con áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với xu hướng thị trường. Việc phối hợp chặt chẽ với các tổ chức chính trị - xã hội từ Trung ương đến địa phương và triển khai đồng bộ các giải pháp trong toàn hệ thống đã dẫn tới sự phát triển mạnh mẽ của các Tổ vay vốn Agribank, mang lại hiệu quả kép rõ rệt cho dòng chảy kinh tế nông thôn. Không chỉ dừng lại ở việc cấp vốn, các cán bộ tín dụng Agribank còn thường xuyên phối hợp cùng Tổ trưởng Tổ vay vốn tích cực tư vấn, định hướng cho bà con áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, phù hợp với xu hướng của thị trường Hướng tới sự phát triển bền vững trong kỷ nguyên số Trong giai đoạn hiện nay, nông nghiệp Việt Nam đứng trước yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ theo hướng sinh thái, hiện đại, ứng dụng công nghệ cao, phát triển xanh và bền vững. Thực hiện các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là các nghị quyết của Bộ Chính trị và chương trình hành động của Chính phủ, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và tăng trưởng xanh đã được xác định là những động lực then chốt để phát triển nông nghiệp hiện đại, hiệu quả và bền vững. Agribank triển khai đồng bộ nhiều giải pháp đột phá về công nghệ, tích cực số hóa hoạt động cho vay qua tổ nhằm nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính cho người dân nông thôn Với vai trò là ngân hàng thương mại 100% vốn nhà nước, chủ lực đầu tư cho lĩnh vực “Tam nông”, Agribank xác định việc đồng hành cùng người nông dân không chỉ là nhiệm vụ kinh doanh mà còn là trách nhiệm chính trị và sứ mệnh phát triển cộng đồng. Agribank đã và đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp đột phá về công nghệ, tích cực số hóa hoạt động cho vay qua tổ nhằm nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính cho người dân nông thôn. Việc áp dụng các ứng dụng ngân hàng số, thanh toán không dùng tiền mặt trong công tác thu lãi, thu gốc giúp hoạt động của các tổ vay vốn ngày càng minh bạch, chính xác và an toàn hơn. Bên cạnh chuyển đổi số, Agribank coi tín dụng xanh là động lực quan trọng thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng trong nông nghiệp. Nguồn vốn được tập trung vào nông nghiệp xanh, nông nghiệp sạch, nông nghiệp công nghệ cao, các mô hình kinh tế tuần hoàn, dự án giảm phát thải, chuỗi liên kết sản xuất bền vững và các mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu. Nhờ đó, nhiều hộ nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp đã có điều kiện đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Hiện nay, Agribank có gần 39.000 khách hàng thuộc lĩnh vực tín dụng xanh với tổng dư nợ trên 28.000 tỷ đồng. Agribank ưu tiên nguồn vốn phát triển nông nghiệp xanh, đồng thời coi tín dụng xanh là động lực quan trọng thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng trong nông nghiệp Agribank cũng từng bước tích hợp các tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG) vào hoạt động, nâng cao năng lực quản lý rủi ro, tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình. Ngân hàng hướng tới các chuẩn mực tài chính xanh quốc tế, góp phần thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 của Việt Nam. Kiên định với sứ mệnh phát triển “tam nông”, việc sát cánh cùng người nông dân, đẩy mạnh triển khai hoạt động cho vay thông qua tổ vay vốn và phát triển nông nghiệp hiện đại là một chiến lược đúng đắn, mang đậm tính nhân văn và hiệu quả kinh tế cao của Agribank. Bằng cách khơi thông nguồn vốn đến tận tay người nông dân, Agribank tiếp tục khẳng định vị thế “người bạn đồng hành tin cậy”, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp phát triển bền vững của nền nông nghiệp và kinh tế đất nước.

Agribank ba năm liên tiếp góp mặt Top 50 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á theo Fortune Southeast Asia 500

Theo Bảng xếp hạng Fortune Southeast Asia 500 năm 2026 vừa được Tạp chí Fortune công bố, Agribank tiếp tục giữ vị trí thứ 45 trong số 500 doanh nghiệp lớn nhất khu vực. Đây là năm thứ ba liên tiếp Agribank góp mặt trong Top 50 của bảng xếp hạng, qua đó khẳng định quy mô hoạt động, năng lực tài chính và vị thế vững chắc của một ngân hàng thương mại nhà nước chủ lực trên bản đồ doanh nghiệp Đông Nam Á. Fortune Southeast Asia 500 năm 2026 là kỳ xếp hạng thứ ba được Tạp chí Fortune thực hiện, dựa trên doanh thu của các doanh nghiệp trong năm tài chính 2025. Bảng xếp hạng quy tụ những doanh nghiệp lớn nhất đến từ bảy quốc gia Đông Nam Á, gồm Singapore, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Việt Nam, Philippines và Campuchia. Theo Fortune, 500 doanh nghiệp trong bảng xếp hạng năm nay đạt tổng doanh thu 1,88 nghìn tỷ USD, tăng 3,4% so với kỳ xếp hạng trước; tổng lợi nhuận đạt 150 tỷ USD. Ngưỡng doanh thu tối thiểu để góp mặt trong danh sách tăng 26%, lên mức 440,6 triệu USD, cho thấy quy mô và mức độ cạnh tranh ngày càng cao của cộng đồng doanh nghiệp trong khu vực. Việt Nam có 72 doanh nghiệp được xếp hạng, đạt tổng doanh thu gần 177,9 tỷ USD, tăng 10,5% so với năm trước, gấp khoảng ba lần tốc độ tăng trưởng doanh thu của toàn bảng. Mặc dù đóng góp chưa đến 10% tổng doanh thu của Fortune Southeast Asia 500, các doanh nghiệp Việt Nam tạo ra khoảng một phần tư mức tăng doanh thu của toàn bảng xếp hạng năm nay, cho thấy vai trò ngày càng nổi bật của Việt Nam trong bức tranh kinh tế khu vực. Duy trì vị trí thứ 45 trong khu vực Trong Bảng xếp hạng Fortune Southeast Asia 500 năm 2026, Agribank đứng thứ 45 trong toàn khu vực và là ngân hàng Việt Nam có thứ hạng cao thứ hai. Đây cũng là năm thứ hai liên tiếp Agribank giữ nguyên vị trí thứ 45, trong bối cảnh quy mô doanh thu và điều kiện gia nhập bảng xếp hạng đều được nâng lên. Theo số liệu do Fortune công bố, doanh thu của Agribank trong năm tài chính 2025 đạt khoảng 7,1 tỷ USD, tăng 6,7% so với năm trước; lợi nhuận đạt gần 954 triệu USD, tăng 8,9%. Kết quả này cho thấy Agribank không chỉ duy trì quy mô hoạt động lớn mà còn tiếp tục nâng cao hiệu quả kinh doanh trong bối cảnh kinh tế thế giới và khu vực còn nhiều biến động. Trước đó, tại kỳ xếp hạng đầu tiên năm 2024, Agribank đứng thứ 37 trong Fortune Southeast Asia 500. Năm 2025, Agribank đứng thứ 45 và tiếp tục duy trì vị trí này trong năm 2026. Như vậy, Agribank đã góp mặt trong Top 50 ở cả ba kỳ xếp hạng kể từ khi Fortune Southeast Asia 500 được công bố lần đầu. Việc duy trì thứ hạng cao trong bảng xếp hạng doanh nghiệp có phạm vi toàn khu vực tiếp tục khẳng định uy tín, tầm vóc và năng lực cạnh tranh của Agribank; đồng thời góp phần nâng cao vị thế của doanh nghiệp Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Nền tảng tài chính vững mạnh, khẳng định vai trò ngân hàng chủ lực Bước vào năm 2026 với nền tảng tài chính vững mạnh được tạo dựng qua hành trình 38 năm xây dựng và phát triển, Agribank tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, khẳng định vị thế là một trong những định chế tài chính có quy mô lớn nhất Việt Nam. Tính đến ngày 31/5/2026, tổng tài sản của Agribank đạt trên 2,7 triệu tỷ đồng; tổng nguồn vốn huy động đạt trên 2,4 triệu tỷ đồng; dư nợ tín dụng vượt mốc 2 triệu tỷ đồng. Nguồn vốn tín dụng tiếp tục được tập trung cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, các ngành, lĩnh vực kinh tế ưu tiên và khu vực nông nghiệp, nông thôn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội. Cùng với việc mở rộng quy mô hoạt động, Agribank tiếp tục kiểm soát hiệu quả chất lượng tín dụng, duy trì tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp. Kết quả này phản ánh năng lực quản trị rủi ro ngày càng được nâng cao, nền tảng tài chính ổn định và sức chống chịu vững vàng của toàn hệ thống trước những biến động của thị trường. Với tiềm lực tài chính không ngừng được củng cố, Agribank tiếp tục phát huy vai trò ngân hàng thương mại nhà nước chủ lực, tích cực thực thi chính sách tiền tệ, cung ứng nguồn vốn cho nền kinh tế và đồng hành cùng người dân, doanh nghiệp phục hồi, mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đặc biệt, nguồn vốn của Agribank tiếp tục được ưu tiên dành cho lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Qua đó, Agribank khẳng định vai trò chủ lực trong dẫn vốn về khu vực “Tam nông”, hỗ trợ hộ sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất, ứng dụng công nghệ, nâng cao giá trị nông sản và xây dựng nông thôn mới. Agribank cũng tích cực triển khai các chương trình tín dụng trọng điểm phục vụ phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; chương trình tín dụng đối với lĩnh vực lâm sản, thủy sản; cho vay các chuỗi sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản; đồng thời tham gia cung ứng vốn cho các dự án hạ tầng, năng lượng và những công trình trọng điểm quốc gia. Với mạng lưới chi nhánh và phòng giao dịch rộng khắp cả nước, Agribank có lợi thế đặc biệt trong việc đưa nguồn vốn và các dịch vụ tài chính – ngân hàng hiện đại đến với người dân, doanh nghiệp tại cả khu vực đô thị, nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo. Chuyển đổi số gắn với tăng trưởng xanh và phát triển bền vững Song song với việc củng cố năng lực tài chính, Agribank tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, đổi mới mô hình quản trị, hiện đại hóa công nghệ và đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ, đáp ứng ngày càng đầy đủ nhu cầu của khách hàng cá nhân, doanh nghiệp và các định chế tài chính. Các nền tảng ngân hàng số như Agribank Plus, Agribank Corporate cùng hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ số tiếp tục được hoàn thiện, góp phần nâng cao trải nghiệm khách hàng, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính và thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt. Bên cạnh chuyển đổi số, Agribank xác định thực hành ESG và “xanh hóa” dòng vốn là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển dài hạn. Ngân hàng từng bước tích hợp các yêu cầu quản lý rủi ro môi trường và xã hội vào hoạt động cấp tín dụng; ưu tiên nguồn vốn cho các dự án nông nghiệp xanh, lâm nghiệp bền vững, năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, kinh tế tuần hoàn và xử lý chất thải. Tính đến hết quý III/2025, tổng dư nợ tín dụng xanh của Agribank đạt hơn 28.300 tỷ đồng. Trong đó, nguồn vốn tập trung vào các lĩnh vực như nông nghiệp xanh, lâm nghiệp bền vững, năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, tái chế và tái sử dụng tài nguyên, xử lý chất thải và phòng, chống ô nhiễm. Agribank cũng đã triển khai nhiều chương trình tín dụng có quy mô lớn dành cho các ngành, lĩnh vực trọng điểm và dự án xanh; hỗ trợ nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch; đồng thời tích cực tham gia chương trình tín dụng phục vụ Đề án phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long. Những hoạt động này thể hiện cam kết của Agribank trong việc đồng hành cùng Chính phủ thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, ứng phó với biến đổi khí hậu và hướng tới phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Không ngừng nâng cao vị thế thương hiệu Việt Nam Việc ba năm liên tiếp góp mặt trong Top 50 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á theo Fortune Southeast Asia 500 là sự ghi nhận khách quan đối với quy mô, hiệu quả hoạt động và năng lực phát triển của Agribank. Kết quả này càng có ý nghĩa khi Agribank tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trong những tháng đầu năm 2026. Sự ghi nhận của Fortune đồng thời là động lực để Agribank tiếp tục nâng cao năng lực quản trị, tăng cường quản trị rủi ro, đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, phát triển ngân hàng số, thúc đẩy tài chính xanh và không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng. Trên nền tảng 38 năm đồng hành cùng đất nước, Agribank tiếp tục khẳng định vai trò ngân hàng thương mại nhà nước chủ lực, tiên phong thực thi chính sách tiền tệ, dẫn vốn cho nền kinh tế và phụng sự cộng đồng; hướng tới mục tiêu phát triển an toàn, hiệu quả, hiện đại và bền vững, góp phần nâng cao vị thế thương hiệu Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế.

Xây dựng đề cương thực hiện kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương

Chủ nhiệm: Ths. Nguyễn Khắc Chí và TS. Cù Hoàng Diệu Thư ký: Ths. Nguyễn Mạnh Cường Thành viên chính: Ths. Hoàng Liên Sơn                                 Ths. Nguyễn Thị Thu Hà Đơn vị thực hiện: Kiểm toán nhà nước Khu vực VII Sự cần thiết phải nghiên cứu Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Kiểm toán nhà nước khi kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách địa phương là thực hiện kiểm toán nợ chính quyền địa phương, trên cơ sở đó ngăn ngừa được các rủi ro phát sinh, từ đó đề ra các biện pháp quản lý nợ chính quyền địa phương một cách tốt hơn. Kiểm toán nhà nước Việt Nam đã trải qua gần 30 năm hoạt động, nhưng đến nay kiểm toán nợ chính quyền địa phương vẫn còn nhiều hạn chế. Trên thực tế, Kiểm toán nhà nước chưa thực hiện một cuộc kiểm toán độc lập đối với các khoản nợ chính quyền địa phương. Hằng năm, Kiểm toán nhà nước đã thực hiện cuộc kiểm toán nợ công, trong đó cũng đề cập đến nợ chính quyền địa phương; tuy nhiên cũng chưa đầy đủ và cụ thể. Bên cạnh đó, các cuộc kiểm toán quyết toán ngân sách nhà nước tại các địa phương cũng có đề cập đến các khoản vay, nợ chính quyền theo những quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Quản lý nợ công nhưng mới ở những nội dung hết sức đơn giản. Vì vậy việc nghiên cứu đề tài: “Xây dựng đề cương kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương” là hết sức cấp thiết. Mục tiêu nghiên cứu - Làm rõ cơ sở lý luận về nợ chính quyền địa phương; tình hình về vay, nợ chính quyền địa phương và kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương ở Việt Mam; - Đánh giá thực trạng kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương ở Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế; - Xây dựng đề cương kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương (bao gồm nội dung, trình tự các tiêu chí và phương thức tổ chức kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương). Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được chia làm 3 chương: Chương 1. Lý luận cơ bản về nợ chính quyền địa phương và kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương Đề tài trình bày về nợ chính quyền địa phương và cơ chế quản lý nợ chính quyền địa phương trong đó có các khái niệm cơ bản; phân loại nợ chính quyền địa phương; Sự khác nhau giữa nợ công, nợ chính phủ, nợ quốc gia, nợ chính quyền địa phương. Đề tài liệt kê một số chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán nợ gồm: Chỉ tiêu an toàn nợ công; Kế hoạch vay, trả nợ công và kế hoạch vay, trả nợ của chính quyền địa phương; Bảo đảm khả năng trả nợ công và nợ chính quyền địa phương. Đề tài tài trình bày một số rủi ro trong việc quản lý nợ chính quyền địa phương; cơ sở lý luận về kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương; mối liên hệ giữa quản lý, kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương với tính bền vững của ngân sách nhà nước tại địa phương. Bên cạnh đó đề tài tổng hợp số liệu và cơ cấu nợ công các năm 2017, 2018 và 2019 theo báo cáo của Bộ Tài chính. Chương 2. Thực trạng kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương ở Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế Đề tài khái quát thực trạng kiểm toán nợ công của Kiểm toán nhà nước (những kết quả đạt được, chỉ ra các tồn tại hạn chế và nguyên nhân của các tồn tại hạn chế. Đề tài trình bày thực trạng kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương của Kiểm toán nhà nước trong đó khái quát tình hình tổ chức thực hiện kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương của Kiểm toán nhà nước trong những năm qua; đánh giá thực trạng kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương của Kiểm toán nhà nước trong thời gian qua và chỉ ra các tồn tại, hạn chế; phân tích nguyên nhân của các tồn tại hạn chế. Bên cạnh đó, đề tài còn tổng hợp kinh nghiệm quốc tế về kiểm toán nợ của INTOSAI Chương 3. Xây dựng đề cương kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương tại Việt Nam Đề tài trình bày xu hướng quản lý nợ chính quyền địa phương ở Việt Nam trong tương lai; định hướng hoàn thiện kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương của Kiểm toán nhà nước. Đề cương kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương cần được xây dựng trên cơ sở cụ thể hóa các bước trong Hướng dẫn kiểm toán hoạt động và Hướng dẫn kiểm toán công tác quản lý nợ công. Trong đó những nội dung chính bao gồm: + Mục tiêu kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương; + Nội dung và tiêu chí kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương; + Trình tự kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương; + Xây dựng phương thức tổ chức kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương; Ngoài ra, đề tài còn đề xuất một số kiến nghị những điều kiện cần thiết để nâng cao chất lượng kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương./.

Quản lý, điều hành ngân sách địa phương - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện thông qua hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Hữu Hiểu và Ths. Đỗ Xuân Long Thư ký: Ths. Trịnh Thị Na     Thành viên chính: TS. Lê Đình Thăng                                Ths. Trương Khánh Hưng Đơn vị chủ trì: Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán  Sự cần thiết nghiên cứu đề tài Ngân sách nhà nước Việt Nam được quản lý thống nhất, gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Quản lý, điều hành ngân sách địa phương gắn với các cấp chính quyền địa phương, nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với ngân sách trung ương và ngân sách nhà nước. Công tác quản lý, điều hành ngân sách địa phương thời gian qua luôn được cải tiến và đạt nhiều kết quả tích cực góp phần lành mạnh tài chính quốc gia. Kiểm toán ngân sách nhà nước, trong đó có kiểm toán ngân sách địa phương là nhiệm vụ chủ yếu của Kiểm toán nhà nước. Thông qua hoạt động kiểm toán ngân sách địa phương, Kiểm toán nhà nước cung cấp thông tin cho Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân nơi kiểm toán và các cơ quan khác để phục vụ công tác quản lý, điều hành ngân sách địa phương. Những năm qua, Kiểm toán nhà nước đã thực hiện kiểm toán ngân sách địa phương với quy mô bao phủ tương đối rộng, qua kiểm toán đã phát hiện nhiều bất cập trong quản lý, điều hành ngân sách của các cấp chính quyền địa phương, từ đó Kiểm toán nhà nước kiến nghị hoàn thiện. Điều này đặt ra sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài. Mục tiêu nghiên cứu - Hệ thống hóa kiến thức lý luận về quản lý, điều hành ngân sách địa phương và vai trò của Kiểm toán nhà nước đối với quản lý, điều hành ngân sách địa phương. - Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động kiểm toán đánh giá công tác quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước. - Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động kiểm toán đánh giá công tác quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước. Nội dung đề tài: Ngoài phần Mở đầu, Mục lục, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài thể hiện ở 3 chương: Chương 1. Lý luận chung về quản lý, điều hành ngân sách địa phương Đề tài nêu tổng quan về quản lý, điều hành ngân sách địa phương. Trong đó đề cập đến các khái niệm, các yếu tố tác động đến quản lý, điều hành ngân sách địa phương (như hệ thống văn bản; tổ chức bộ máy; phân cấp quản lý; năng lực quản lý điều hành của chính quyền địa phương; hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra ngân sách địa phương). Đề tài khái quát vai trò của Kiểm toán nhà nước đối với công tác quản lý, điều hành ngân sách địa phương gồm 5 vai trò. Bên cạnh đó, đề tài còn nêu những nội dung chủ yếu đánh giá công tác quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước. Chương 2. Thực trạng công tác đánh giá việc quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước Đề tài khái quát một số kết quả chủ yếu trong quản lý, điều hành ngân sách địa phương được đánh giá thông qua hoạt động kiểm toán đồng thời chỉ ra hạn chế trong quản lý, điều hành ngân sách địa phương được đánh giá thông qua hoạt động kiểm toán và nguyên nhân cơ bản. Đó là việc phân cấp quản lý thu, chi ngân sách còn chưa hợp lý; công tác lập, quyết định, giao dự toán ngân sách nhà nước còn một số bất cập; quá trình chấp hành ngân sách nhà nước còn bộc lộ nhiều lỗi, sai sót ảnh hưởng đến kỷ luật tài khóa; công tác quyết toán ngân sách địa phương tại nhiều nơi còn mang tính hình thức, tính bền vững của ngân sách địa phương chưa được chú trọng. Đề tài còn phân tích nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến các bất cập nêu trên. Bên cạnh đó, đề tài trình bày chi tiết thực trạng công tác đánh giá việc quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước đồng thời chỉ ra 8 hạn chế cơ bản và phân tích nguyên nhân của các hạn chế đó. Chương 3. Giải pháp hoàn thiện công tác đánh giá việc quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước Đề tài trình bày 4 định hướng công tác đánh giá việc quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước. Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất 6 nhóm giải pháp hoàn thiện công tác đánh giá việc quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước gồm: cơ cấu nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách địa phương; Hoàn thiện việc phân cấp ngân sách địa phương; hoàn thiện công tác lập và quyết định dự toán ngân sách địa phương; hoàn thiện công tác tổ chức quản lý thu ngân sách nhà nước; hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách địa phương; hoàn thiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách địa phương; hoàn thiện công tác phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương./.

Quy trình kiểm toán quản lý và xử lý nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp

Chủ nhiệm: Ths. Đinh Văn Dũng và TS. Lê Doãn Hoài Thư ký: Ths. Nguyễn Ngọc Duyên Thành viên chính: Ths. Nguyễn Viết Hãnh                                 Ths. Vũ Đức Nam Đơn vị thực hiện: Kiểm toán nhà nước chuyên ngành III Sự cần thiết nghiên cứu đề tài Nước thải công nghiệp chứa nhiều chất ô nhiễm, xả thải ra môi trường khi chưa được xử lý gây ô nhiễm nước mặt, nước ngầm, gây ô nhiễm đất và ảnh hưởng tới sức khỏe người dân. Hầu hết các doanh nghiệp sản xuất trong ngành khai thác, công nghiệp chế biến thực phẩm, chế biến đồ uống, thuốc lá, giả da… đều sử dụng hóa chất độc hại, việc tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường còn mang tính hình thức, công tác bảo vệ môi trường chưa được quan tâm đúng mức, gây ra rò rỉ các hóa chất độc hại, xâm nhập vào môi trường gây ô nhiễm nguồn nước mà chưa có giải pháp ngăn chặn hiệu quả. Kiểm toán nhà nước đã thực hiện nhiều cuộc kiểm toán môi trường chuyên đề về hoạt động quản lý và bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp, khu kinh tế nhằm giúp Quốc hội và Chính phủ kiểm tra và giám sát công tác quản lý và bảo vệ môi trường của các cơ quan quản lý nhà nước. Tuy nhiên, kiểm toán môi trường mới xây dựng hướng dẫn/quy trình kiểm toán môi trường chung mà chưa có quy trình kiểm toán môi trường cho từng lĩnh vực cụ thể, đặc biệt là quy trình kiểm toán môi trường đối với công tác quản lý và xử lý nước thải khu công nghiệp. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Quy trình kiểm toán quản lý và xử lý nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp” là hết sức cần thiết. Mục tiêu nghiên cứu - Khái quát hóa cơ sở lý luận, hệ thống cơ cấu tổ chức, cơ chế chính sách, hành lang pháp lý liên quan đến công tác quản lý và xử lý nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp Việt Nam; - Phân tích thực trạng và hoạt động kiểm toán công tác quản lý và xử lý nước thải của Kiểm toán nhà nước và bài học kinh nghiệm của một số nước trên thế giới từ đó đưa ra cách xác định mục tiêu, nội dung và tiêu chí kiểm toán; - Xây dựng quy trình kiểm toán công tác quản lý và xử lý nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp. Nội dung nghiên cứu: Ngoài phần Mở đầu và kết luận, đề tài kết cấu thành 3 chương. Chương 1. Cơ sở lý luận về nước thải công nghiệp và kiểm toán nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp Đề tài trình bày những vấn đề cơ bản về nước thải công nghiệp, khái niệm, phân loại và cơ sở nhận biết về nước thải công nghiệp, các tác động của nước thải công nghiệp đến môi trường, đời sống kinh tế xã hội và sức khỏe của con người; công tác quản lý nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp. Bên cạnh đó, đề tài khái quát vai trò và vị thế của Kiểm toán nhà nước trong công tác bảo vệ môi trường; các khái niệm cơ bản về kiểm toán môi trường và kiểm toán nước thải công nghiệp; những chủ đề, khía cạnh cơ bản về kiểm toán môi trường và kiểm toán nước thải công nghiệp. Chương 2. Thực trạng công tác kiểm toán nước thải công nghiệp tại Việt Nam và một số nước trên thế giới Đề tài khái quát thực trạng kiểm toán liên quan đến hoạt động quản lý và xử lý nước thải ở Việt Nam, trong đó có thực trạng kiểm toán công tác quản lý và xử lý nước thải công nghiệp trên thế giới và tại Việt Nam. Đề tài đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng một số cuộc kiểm toán liên quan đến công tác quản lý và xử lý nước thải công nghiệp trên thế giới như cuộc kiểm toán nước thải khu công nghiệp của Trung Quốc, kiểm toán nước thải công nghiệp của Canada, kiểm toán nước thải công nghiệp của GAO. Trên cơ sở đó, đề tài rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Chương 3. Quy trình kiểm toán công tác quản lý và xử lý nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp. Đề tài khái quát quy trình kiểm toán, phương pháp xây dựng quy trình kiểm toán, nguyên tắc xây dựng quy trình kiểm toán. Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất quy trình kiểm toán công tác quản lý và xử lý nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp (từ khâu chuẩn bị kiểm toán; thực hiện kiểm toán; lập và gửi báo cáo kiểm toán; theo dõi, kiểm tra thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán). Bên cạnh đó, đề tài còn đề xuất các giải pháp và điều kiện thực hiện.