Thứ ba, 16/6/2026

Điện thoại (024) 6287 3463

Đường dây nóng (024) 6287 3463

Liên hệ quảng cáo (+84)915.632.345

Thứ ba, 16/6/2026
Nâng cao an toàn thông tin 4 lớp tại Kiểm toán nhà nước

Nâng cao an toàn thông tin 4 lớp tại Kiểm toán nhà nước

Sáng 06/4, Hội đồng khoa học Kiểm toán nhà nước tổ chức họp nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở “Giải pháp nâng cao an toàn thông tin 4 lớp tại Kiểm toán nhà nước” do ThS. Trần Hoàng Minh - Cục Công nghệ thông tin làm Chủ nhiệm. ThS. Vương Nguyên Lượng, Giám đốc Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán, Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng Khoa học Kiểm toán nhà nước làm Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu. Ban đề tài trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu trước Hội đồng ThS Trần Hoàng Minh, Chủ nhiệm đề tài, cho biết định hướng Chiến lược phát triển Công nghệ thông tin của Kiểm toán nhà nước đã chỉ ra “Dữ liệu số là trung tâm và là tài sản quan trọng” và phải được phân ra nhiều mức theo yêu cầu khai thác của các nhóm đối tượng khác nhau, kéo theo các mức độ an toàn, bảo mật dữ liệu khác nhau. Vì vậy, chiến lược và các giải pháp đảm bảo an ninh, an toàn thông tin cho hệ thống công nghệ thông tin của Kiểm toán nhà nước cũng xây dựng theo hướng trọng tâm là bảo vệ dữ liệu. Đồng thời, chiến lược an ninh, an toàn thông tin cho Kiểm toán nhà nước phải đảm bảo tuân thủ quy định của Luật An toàn thông tin mạng, Luật An ninh mạng, Nghị định số 85/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 và các văn bản hướng dẫn đi kèm; đáp ứng nhu cầu thực tế, phù hợp chiến lược phát triển công nghệ thông tin của Kiểm toán nhà nước trong Chiến lược này và phù hợp với cấp độ an toàn thông tin tương ứng là cấp độ 3 và hướng đến tiệm cận cấp độ 4. Theo đó, lớp thứ nhất trong mô hình an toàn thông tin 4 lớp là lực lượng bảo đảm an toàn thông tin tại chỗ, giữ vai trò nền tảng trong toàn bộ cấu trúc bảo vệ hệ thống; Lớp thứ hai là tổ chức, thuê dịch vụ giám sát, bảo vệ an toàn thông tin chuyên nghiệp, có chức năng hỗ trợ hoặc thay thế một phần năng lực giám sát, ứng cứu sự cố của lực lượng tại chỗ; Lớp thứ ba trong mô hình là tổ chức thuê dịch vụ của doanh nghiệp độc lập thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá an toàn thông tin mạng một cách định kỳ hoặc đột xuất; Lớp thứ tư là lớp kết nối, chia sẻ thông tin với hệ thống giám sát an toàn không gian mạng ở cấp quốc gia. ThS Vương Nguyên Lượng đánh giá cao giá trị thực tiễn của Đề tài Trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận về mô hình an toàn thông tin 4 lớp, làm rõ các khái niệm, nguyên tắc triển khai, cấu trúc và chức năng của từng lớp trong tổng thể hệ thống bảo đảm an toàn thông tin, đề tài phân tích thực trạng triển khai mô hình tại các cơ quan nhà nước và tại Kiểm toán nhà nước, qua đó chỉ ra những kết quả bước đầu đạt được, đồng thời nhận diện rõ các hạn chế, tồn tại và thách thức. Các vấn đề nổi bật được xác định bao gồm: nguồn lực tài chính chưa ổn định và mang tính dài hạn; hạ tầng kỹ thuật chưa đồng bộ; năng lực giám sát, kiểm tra và đánh giá an toàn thông tin còn hạn chế; cơ chế phối hợp trong công tác ứng cứu sự cố chưa thực sự hiệu quả. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả triển khai mô hình an toàn thông tin 4 lớp tại Kiểm toán nhà nước được Ban đề tài đưa ra theo hướng đồng bộ, toàn diện và bền vững. Các giải pháp bao phủ đầy đủ các nội dung trọng tâm của mô hình, bao gồm: bảo đảm và quản lý hiệu quả kinh phí cho an toàn thông tin; hoàn thiện, chuẩn hóa hạ tầng công nghệ thông tin theo yêu cầu an toàn ngay từ khâu thiết kế; phát triển nguồn nhân lực an toàn thông tin cả về số lượng, chất lượng và cơ chế giữ chân; tăng cường năng lực giám sát an toàn thông tin thông qua kết hợp giữa hệ thống nội bộ và thuê dịch vụ chuyên nghiệp; duy trì hoạt động kiểm tra, đánh giá an toàn thông tin định kỳ và đột xuất; hoàn thiện kết nối, chia sẻ thông tin với Trung tâm giám sát an toàn thông tin quốc gia; đồng thời rà soát, cập nhật hệ thống chính sách, quy định nội bộ liên quan. Trong đó, giải pháp về giám sát an toàn thông tin được xác định là trụ cột trung tâm, có vai trò quyết định trong việc phát hiện sớm, cảnh báo kịp thời và xử lý hiệu quả các sự cố an toàn thông tin. ThS Trần Hoàng Minh, Cục Công nghệ thông tin, làm Chủ nhiệm đề tài Thông qua kết quả nghiên cứu, Đề tài hướng tới mục tiêu nâng cao năng lực lực lượng tại chỗ đáp ứng yêu cầu mới thông qua đào tạo, tuyển dụng hoặc thuê chuyên gia; hoàn thành mở rộng phạm vi giám sát, bảo vệ cho 100% hệ thống thông tin thuộc phạm vi quản lý; kiểm tra, đánh giá an toàn thông tin định kỳ theo quy định cho hệ thống thông tin thuộc phạm vi quản lý; duy trì kết nối ổn định, chia sẻ đầy đủ dữ liệu giám sát theo thời gian thực về Hệ thống giám sát quốc gia để được hỗ trợ giám sát, phân tích, cảnh báo sớm các nguy cơ về an toàn thông tin mạng và tấn công mạng. Đánh giá về kết quả nghiên cứu, Hội đồng nghiệm thu cho rằng Nhóm nghiên cứu đã tiếp cận theo hướng quản trị an toàn thông tin hiện đại, gắn giữa yếu tố công nghệ, con người, quy trình và cơ chế phối hợp liên ngành. Nội dung nghiên cứu có tính cập nhật, phù hợp với xu hướng chuyển đổi số và yêu cầu bảo vệ hệ thống thông tin trong cơ quan nhà nước hiện nay. Đề tài đã khảo sát, đánh giá khá sát thực trạng triển khai mô hình an toàn thông tin 4 lớp tại Kiểm toán nhà nước; nhận diện được các tồn tại, hạn chế và nguyên nhân. Các nội dung về thiếu hụt nhân lực, phạm vi giám sát chưa đầy đủ, hạn chế trong kiểm tra đánh giá và kết nối giám sát quốc gia được phân tích tương đối rõ. Đưa ra các giải pháp, lộ trình và bản kiến nghị ứng dụng kết quả nghiên cứu có thể chuyển hóa thành chương trình, kế hoạch hành động cụ thể, góp phần nâng cao năng lực phòng ngừa, phát hiện và ứng cứu sự cố, bảo vệ dữ liệu kiểm toán trong chuyển đổi số. Các đánh giá thực tiễn có tính khả thi và bám sát điều kiện triển khai thực tế của Kiểm toán nhà nước. Để hoàn thiện, tăng tính khả thi khi áp dụng trong thực tiễn, Hội đồng nghiệm thu khuyến nghị Ban Đề tài bổ sung bảng chỉ tiêu đo lường cụ thể cho từng lớp trong mô hình an toán thông tin 4 lớp tại Kiểm toán nhà nước; làm rõ hơn phương án tài chính - kinh tế cho các giải pháp công nghệ ưu tiên, phân tầng theo lộ trình ngắn - trung - dài hạn đã nêu, kèm ví dụ minh họa triển khai tại Trung tâm dữ liệu hoặc hệ thống nghiệp vụ trọng yếu của Kiểm toán nhà nước; bổ sung thêm số liệu thống kê, dẫn chứng thực tiễn và các minh chứng cụ thể liên quan đến tình hình triển khai mô hình 4 lớp tại Kiểm toán nhà nước để tăng tính thuyết phục. Đánh giá cao giá trị thực tiễn của đề tài trong bối cảnh toàn Ngành đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, kết nối, liên thông dữ liệu quốc gia và tăng cường an ninh mạng, an toàn thông tin, ThS Vương Nguyên Lượng - Chủ tịch Hội đồng đề nghị Ban Đề tài tiếp thu tối đa các ý kiến của Hội đồng nghiệm thu. Đề tài cần được kết cấu cân đối giữa các chương mục, làm rõ hơn các khái niệm nghiên cứu, tăng lượng hoá, phân tích sâu hơn dựa trên các mô hình, dẫn chứng; minh chứng sát vào thực tiễn của Kiểm toán nhà nước, có thể nghiên cứu về các giải pháp tình huống phát sinh trong tương lai. Hội đồng nghiệm thu đánh giá Đề tài xếp loại Khá./.

Khai giảng Chương trình đào tạo “Các rủi ro đối với hoạt động cho vay tại các ngân hàng được phát hiện thông qua hoạt động kiểm toán”

Khai giảng Chương trình đào tạo “Các rủi ro đối với hoạt động cho vay tại các ngân hàng được phát hiện thông qua hoạt động kiểm toán”

Sáng ngày 29/5/2026, Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán tổ chức khai giảng Chương trình đào tạo “Các rủi ro đối với hoạt động cho vay tại các ngân hàng được phát hiện thông qua hoạt động kiểm toán” cho cán bộ, viên chức Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank). Tới dự Lễ khai giảng Chương trình có ông Nguyễn Huy Hoàng - Phó Giám đốc Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán; ông Chu Mạnh Hùng - Phó Giám đốc Trường Đào tạo cán bộ Agribank và gần 100 học viên là cán bộ, viên chức thuộc ngân hàng Agribank. Ông Nguyễn Huy Hoàng - Phó Giám đốc Trường Đào tạo và Bồi dưỡng ​​​​nghiệp vụ kiểm toán phát biểu khai giảng Chương trình đào tạo Tham gia khóa học, các học viên được giảng viên Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán truyền đạt các chuyên đề: Những rủi ro chung trong hoạt động cho vay; Một số rủi ro theo từng loại hình cho vay; Một số kiến nghị xử lý của Kiểm toán nhà nước khi phát hiện ra sai sót trong hoạt động cho vay tại các Ngân hàng thương mại. Các học viên chụp ảnh lưu niệm cùng với lãnh đạo 2 nhà trường Phát biểu tại Lễ khai giảng, ông Nguyễn Huy Hoàng - Phó Giám đốc Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán cho biết: Thông qua chương trình đào tạo giúp các học viên nâng cao năng lực nhận diện và đánh giá rủi ro tín dụng thực tế, chuẩn hóa quy trình kiểm toán tuân thủ trong hoạt động cho vay và hoàn thiện kỹ năng phát hiện các hành vi trục lợi và gian lận trong hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng. Để Chương trình đạt hiệu quả, đồng chí Phó giám đốc Trường đề nghị các học viên chấp hành nghiêm túc Chương trình đào tạo, tích cực trao đổi với giảng viên về những vấn đề vướng mắc... để lớp học đạt được mục tiêu theo kế hoạch đã đề ra. Ông Chu Mạnh Hùng - Phó Giám đốc Trường Đào tạo cán bộ Agribank phát biểu tại Lễ khai giảng

Nâng cao an toàn thông tin 4 lớp tại Kiểm toán nhà nước

Nâng cao an toàn thông tin 4 lớp tại Kiểm toán nhà nước

Sáng 06/4, Hội đồng khoa học Kiểm toán nhà nước tổ chức họp nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở “Giải pháp nâng cao an toàn thông tin 4 lớp tại Kiểm toán nhà nước” do ThS. Trần Hoàng Minh - Cục Công nghệ thông tin làm Chủ nhiệm. ThS. Vương Nguyên Lượng, Giám đốc Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán, Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng Khoa học Kiểm toán nhà nước làm Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu. Ban đề tài trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu trước Hội đồng ThS Trần Hoàng Minh, Chủ nhiệm đề tài, cho biết định hướng Chiến lược phát triển Công nghệ thông tin của Kiểm toán nhà nước đã chỉ ra “Dữ liệu số là trung tâm và là tài sản quan trọng” và phải được phân ra nhiều mức theo yêu cầu khai thác của các nhóm đối tượng khác nhau, kéo theo các mức độ an toàn, bảo mật dữ liệu khác nhau. Vì vậy, chiến lược và các giải pháp đảm bảo an ninh, an toàn thông tin cho hệ thống công nghệ thông tin của Kiểm toán nhà nước cũng xây dựng theo hướng trọng tâm là bảo vệ dữ liệu. Đồng thời, chiến lược an ninh, an toàn thông tin cho Kiểm toán nhà nước phải đảm bảo tuân thủ quy định của Luật An toàn thông tin mạng, Luật An ninh mạng, Nghị định số 85/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 và các văn bản hướng dẫn đi kèm; đáp ứng nhu cầu thực tế, phù hợp chiến lược phát triển công nghệ thông tin của Kiểm toán nhà nước trong Chiến lược này và phù hợp với cấp độ an toàn thông tin tương ứng là cấp độ 3 và hướng đến tiệm cận cấp độ 4. Theo đó, lớp thứ nhất trong mô hình an toàn thông tin 4 lớp là lực lượng bảo đảm an toàn thông tin tại chỗ, giữ vai trò nền tảng trong toàn bộ cấu trúc bảo vệ hệ thống; Lớp thứ hai là tổ chức, thuê dịch vụ giám sát, bảo vệ an toàn thông tin chuyên nghiệp, có chức năng hỗ trợ hoặc thay thế một phần năng lực giám sát, ứng cứu sự cố của lực lượng tại chỗ; Lớp thứ ba trong mô hình là tổ chức thuê dịch vụ của doanh nghiệp độc lập thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá an toàn thông tin mạng một cách định kỳ hoặc đột xuất; Lớp thứ tư là lớp kết nối, chia sẻ thông tin với hệ thống giám sát an toàn không gian mạng ở cấp quốc gia. ThS Vương Nguyên Lượng đánh giá cao giá trị thực tiễn của Đề tài Trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận về mô hình an toàn thông tin 4 lớp, làm rõ các khái niệm, nguyên tắc triển khai, cấu trúc và chức năng của từng lớp trong tổng thể hệ thống bảo đảm an toàn thông tin, đề tài phân tích thực trạng triển khai mô hình tại các cơ quan nhà nước và tại Kiểm toán nhà nước, qua đó chỉ ra những kết quả bước đầu đạt được, đồng thời nhận diện rõ các hạn chế, tồn tại và thách thức. Các vấn đề nổi bật được xác định bao gồm: nguồn lực tài chính chưa ổn định và mang tính dài hạn; hạ tầng kỹ thuật chưa đồng bộ; năng lực giám sát, kiểm tra và đánh giá an toàn thông tin còn hạn chế; cơ chế phối hợp trong công tác ứng cứu sự cố chưa thực sự hiệu quả. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả triển khai mô hình an toàn thông tin 4 lớp tại Kiểm toán nhà nước được Ban đề tài đưa ra theo hướng đồng bộ, toàn diện và bền vững. Các giải pháp bao phủ đầy đủ các nội dung trọng tâm của mô hình, bao gồm: bảo đảm và quản lý hiệu quả kinh phí cho an toàn thông tin; hoàn thiện, chuẩn hóa hạ tầng công nghệ thông tin theo yêu cầu an toàn ngay từ khâu thiết kế; phát triển nguồn nhân lực an toàn thông tin cả về số lượng, chất lượng và cơ chế giữ chân; tăng cường năng lực giám sát an toàn thông tin thông qua kết hợp giữa hệ thống nội bộ và thuê dịch vụ chuyên nghiệp; duy trì hoạt động kiểm tra, đánh giá an toàn thông tin định kỳ và đột xuất; hoàn thiện kết nối, chia sẻ thông tin với Trung tâm giám sát an toàn thông tin quốc gia; đồng thời rà soát, cập nhật hệ thống chính sách, quy định nội bộ liên quan. Trong đó, giải pháp về giám sát an toàn thông tin được xác định là trụ cột trung tâm, có vai trò quyết định trong việc phát hiện sớm, cảnh báo kịp thời và xử lý hiệu quả các sự cố an toàn thông tin. ThS Trần Hoàng Minh, Cục Công nghệ thông tin, làm Chủ nhiệm đề tài Thông qua kết quả nghiên cứu, Đề tài hướng tới mục tiêu nâng cao năng lực lực lượng tại chỗ đáp ứng yêu cầu mới thông qua đào tạo, tuyển dụng hoặc thuê chuyên gia; hoàn thành mở rộng phạm vi giám sát, bảo vệ cho 100% hệ thống thông tin thuộc phạm vi quản lý; kiểm tra, đánh giá an toàn thông tin định kỳ theo quy định cho hệ thống thông tin thuộc phạm vi quản lý; duy trì kết nối ổn định, chia sẻ đầy đủ dữ liệu giám sát theo thời gian thực về Hệ thống giám sát quốc gia để được hỗ trợ giám sát, phân tích, cảnh báo sớm các nguy cơ về an toàn thông tin mạng và tấn công mạng. Đánh giá về kết quả nghiên cứu, Hội đồng nghiệm thu cho rằng Nhóm nghiên cứu đã tiếp cận theo hướng quản trị an toàn thông tin hiện đại, gắn giữa yếu tố công nghệ, con người, quy trình và cơ chế phối hợp liên ngành. Nội dung nghiên cứu có tính cập nhật, phù hợp với xu hướng chuyển đổi số và yêu cầu bảo vệ hệ thống thông tin trong cơ quan nhà nước hiện nay. Đề tài đã khảo sát, đánh giá khá sát thực trạng triển khai mô hình an toàn thông tin 4 lớp tại Kiểm toán nhà nước; nhận diện được các tồn tại, hạn chế và nguyên nhân. Các nội dung về thiếu hụt nhân lực, phạm vi giám sát chưa đầy đủ, hạn chế trong kiểm tra đánh giá và kết nối giám sát quốc gia được phân tích tương đối rõ. Đưa ra các giải pháp, lộ trình và bản kiến nghị ứng dụng kết quả nghiên cứu có thể chuyển hóa thành chương trình, kế hoạch hành động cụ thể, góp phần nâng cao năng lực phòng ngừa, phát hiện và ứng cứu sự cố, bảo vệ dữ liệu kiểm toán trong chuyển đổi số. Các đánh giá thực tiễn có tính khả thi và bám sát điều kiện triển khai thực tế của Kiểm toán nhà nước. Để hoàn thiện, tăng tính khả thi khi áp dụng trong thực tiễn, Hội đồng nghiệm thu khuyến nghị Ban Đề tài bổ sung bảng chỉ tiêu đo lường cụ thể cho từng lớp trong mô hình an toán thông tin 4 lớp tại Kiểm toán nhà nước; làm rõ hơn phương án tài chính - kinh tế cho các giải pháp công nghệ ưu tiên, phân tầng theo lộ trình ngắn - trung - dài hạn đã nêu, kèm ví dụ minh họa triển khai tại Trung tâm dữ liệu hoặc hệ thống nghiệp vụ trọng yếu của Kiểm toán nhà nước; bổ sung thêm số liệu thống kê, dẫn chứng thực tiễn và các minh chứng cụ thể liên quan đến tình hình triển khai mô hình 4 lớp tại Kiểm toán nhà nước để tăng tính thuyết phục. Đánh giá cao giá trị thực tiễn của đề tài trong bối cảnh toàn Ngành đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, kết nối, liên thông dữ liệu quốc gia và tăng cường an ninh mạng, an toàn thông tin, ThS Vương Nguyên Lượng - Chủ tịch Hội đồng đề nghị Ban Đề tài tiếp thu tối đa các ý kiến của Hội đồng nghiệm thu. Đề tài cần được kết cấu cân đối giữa các chương mục, làm rõ hơn các khái niệm nghiên cứu, tăng lượng hoá, phân tích sâu hơn dựa trên các mô hình, dẫn chứng; minh chứng sát vào thực tiễn của Kiểm toán nhà nước, có thể nghiên cứu về các giải pháp tình huống phát sinh trong tương lai. Hội đồng nghiệm thu đánh giá Đề tài xếp loại Khá./.

Phát triển kinh tế tư nhân gắn với xây dựng nền công nghiệp tự chủ và hiện đại

Phát triển kinh tế tư nhân gắn với xây dựng nền công nghiệp tự chủ và hiện đại

Bài viết phân tích vai trò và vị trí của kinh tế tư nhân trong chiến lược xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại ở Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới. Trên cơ sở quan điểm của Đảng về phát triển đồng bộ các thành phần kinh tế, bài viết làm rõ yêu cầu tái định vị kinh tế tư nhân từ một động lực tăng trưởng sang một cấu phần quan trọng của năng lực công nghiệp quốc gia. Phân tích thực trạng cho thấy các điểm nghẽn chủ yếu của khu vực tư nhân ở quy mô, công nghệ, liên kết chuỗi và đổi mới sáng tạo. Từ đó, bài viết đề xuất định hướng hoàn thiện thể chế tương ứng, bảo đảm quyền tài sản, phân bổ nguồn lực theo tín hiệu thị trường, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hình thành các tập đoàn tư nhân công nghiệp đủ mạnh. Phát triển kinh tế tư nhân gắn liền với xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại là yêu cầu chiến lược nhằm nâng cao năng lực nội sinh, sức cạnh tranh và tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế trong kỷ nguyên mới. Từ khóa: Kinh tế tư nhân; công nghiệp tự chủ; công nghiệp hóa, hiện đại hóa; thể chế kinh tế; năng lực nội sinh. Developing the private sector in association with building an autonomous and modern industry This article analyzes the role and position of the private sector in the strategy of building an autonomous and modern industrial base in Vietnam during the new development phase. Based on the Party's viewpoint on the comprehensive development of all economic sectors, it clarifies the requirement to reposition the private sector from a growth driver to a vital component of national industrial capacity. Analysis of the current situation reveals that the main bottlenecks in the private sector lie in scale, technology, supply chain integration and innovation. The paper proposes institutional refinements to secure property rights, market-based resource allocation and the formation of strong private industrial conglomerates. Developing the private economy in conjunction with building an autonomous and modern industrial base is a strategic requirement to enhance the endogenous capacity, competitiveness and independence and self-reliance of the economy in the new era. Keywords: Private economy; autonomous industry; industrialization and modernization; economic institutions; endogenous capacity. JEL classification: P12, O14, O31 https://doi.org/10.65771/ati-jas.04202606 1. Đặt vấn đề Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự dịch chuyển mạnh mẽ của các chuỗi cung ứng toàn cầu, nền kinh tế thế giới đang chứng kiến nhiều biến đổi sâu sắc về cơ cấu sản xuất, công nghệ và quan hệ kinh tế. Cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc, xu hướng chuyển đổi số và kinh tế xanh cũng đặt ra nhiều thách thức mới đối với mỗi quốc gia trong việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và có năng lực cạnh tranh cao. Đối với Việt Nam, một quốc gia đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, những thay đổi này vừa tạo ra cơ hội, vừa đặt ra yêu cầu cấp bách phải nâng tầm nền công nghiệp quốc gia. Muốn vậy, nền kinh tế không thể chỉ dựa vào lợi thế lao động giá rẻ hay vốn đầu tư nước ngoài mà phải chuyển đổi mô hình phát triển sang nền kinh tế dựa trên đổi mới sáng tạo, công nghệ chủ động và hệ sinh thái doanh nghiệp nội địa mạnh. Trước bối cảnh đó, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ mục tiêu chiến lược “đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, nâng cao năng lực chống chịu và thích ứng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Đây không chỉ là bài toán kinh tế thuần túy mà còn là vấn đề then chốt bảo đảm an ninh kinh tế, chủ quyền quốc gia trong điều kiện hội nhập sâu rộng và cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt. Việc xây dựng một nền công nghiệp tự chủ, hiện đại trở thành yêu cầu chiến lược nhằm tạo dựng nguồn lực nội sinh bền vững, giảm thiểu sự phụ thuộc vào công nghệ, nguyên liệu, cũng như các yếu tố bên ngoài có thể gây ảnh hưởng đến ổn định và phát triển kinh tế đất nước. Một điểm nhấn quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam hiện nay là sự phát triển đồng bộ giữa các thành phần kinh tế: Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, trong khi kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các loại hình kinh tế khác giữ vai trò quan trọng (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Tuy nhiên, thực tế cho thấy khu vực kinh tế tư nhân, dù đã có bước phát triển nhanh chóng về số lượng và quy mô, vẫn còn nhiều hạn chế trong việc vươn lên trở thành trụ cột thực sự của nền công nghiệp quốc gia. Khu vực này chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ tạo việc làm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ngắn hạn và đóng góp vào thương mại, dịch vụ nhiều hơn là tham gia sâu và chủ động trong các ngành công nghiệp then chốt, công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ. Do đó, vấn đề đặt ra là cần có sự tái định vị căn bản vai trò của kinh tế tư nhân trong giai đoạn phát triển mới: từ một động lực tăng trưởng sang cấu phần quan trọng trong năng lực công nghiệp quốc gia. Việc này đòi hỏi phải thay đổi tư duy và chiến lược phát triển, không chỉ tập trung vào mở rộng số lượng doanh nghiệp mà phải nâng cao chất lượng, năng lực nội sinh, khả năng làm chủ công nghệ và đổi mới sáng tạo của khu vực tư nhân. Đây cũng đồng thời là yêu cầu bức thiết nhằm hiện thực hóa chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước một cách bền vững, góp phần xây dựng nền kinh tế Việt Nam tự chủ, vững mạnh trước các biến động toàn cầu. Song hành với việc nâng cao năng lực của khu vực tư nhân, cần phải giải quyết những điểm nghẽn về quy mô vốn, công nghệ, năng lực quản trị, cũng như thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị giữa các doanh nghiệp tư nhân với kinh tế nhà nước và FDI. Điều này càng trở nên quan trọng khi Việt Nam hướng tới phát triển các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo công nghệ cao, công nghiệp phụ trợ và công nghệ số, những lĩnh vực đòi hỏi sự tham gia năng động, liên kết chặt chẽ và khả năng đổi mới sáng tạo cao. Thêm vào đó, việc thiết kế và hoàn thiện thể chế kinh tế theo hướng minh bạch, bình đẳng, tạo động lực đầu tư dài hạn cho doanh nghiệp tư nhân cũng là một nhân tố quyết định thành công cho định vị chiến lược này. Những phân tích này cho thấy cần tập trung làm rõ vai trò, vị trí và thách thức của kinh tế tư nhân trong bối cảnh xây dựng nền công nghiệp tự chủ và hiện đại, đồng thời đề xuất các định hướng chiến lược và chính sách hỗ trợ nhằm chuyển hóa khu vực này trở thành trụ cột nội sinh quan trọng trong phát triển công nghiệp quốc gia. 2. Cấu trúc ba khu vực kinh tế trong nền công nghiệp quốc gia Việt Nam phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với điểm đặc thù là sự tồn tại đồng thời, phát triển hài hòa của ba thành phần kinh tế cơ bản: kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Sự phối hợp và phân công rõ ràng vai trò, thế mạnh của từng khu vực được xác định là nhân tố then chốt cấu thành nền công nghiệp quốc gia đa dạng, năng động và bền vững. Đây là mô hình kinh tế chiến lược nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa với tầm nhìn xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trong bối cảnh toàn cầu có nhiều biến động phức tạp. Kinh tế nhà nước: vai trò chủ đạo, định hướng chiến lược Kinh tế nhà nước vẫn là trụ cột quan trọng trong nền kinh tế quốc dân với nhiệm vụ giữ vai trò chủ đạo, đặc biệt trong các ngành kinh tế trọng yếu mang tính chiến lược và quốc phòng an ninh như năng lượng, truyền tải điện, dầu khí, sản xuất vật liệu cơ bản, giao thông, viễn thông, công nghiệp quốc phòng… Khu vực này không chỉ đảm bảo quyền chủ động của Nhà nước trong hoạch định chính sách, điều tiết kinh tế vĩ mô mà còn là lực lượng đóng vai trò ổn định xã hội và dẫn dắt phát triển đồng bộ các lĩnh vực công nghiệp quan trọng. Việc duy trì vai trò này nhằm khắc phục sự phân tán nguồn lực và nguy cơ lệ thuộc vào các yếu tố ngoại sinh, đồng thời đảm nhận trọng trách thúc đẩy chuyển đổi công nghiệp truyền thống sang công nghiệp hiện đại, đổi mới sáng tạo có tính hệ thống và sức ảnh hưởng quy mô lớn. Điểm đặc biệt của kinh tế nhà nước không nằm ở việc sở hữu hay quản lý mọi lĩnh vực mà quan trọng là sự định hướng chiến lược và kiểm soát các “điểm mấu chốt”, tạo ra những “mỏ neo” trong nền kinh tế giúp định hướng và thúc đẩy sự phát triển cân bằng cho các thành phần kinh tế khác. Điều này góp phần kiến tạo môi trường thể chế minh bạch, ổn định và công bằng để khu vực tư nhân và FDI yên tâm đầu tư phát triển. Kinh tế tư nhân: một động lực quan trọng nhất của tăng trưởng và đổi mới Khu vực kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế xuất phát từ bản chất năng động, linh hoạt và khả năng đổi mới sáng tạo của khu vực này, phù hợp với xu hướng phát triển công nghiệp hiện đại dựa trên tri thức, công nghệ và dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Kinh tế tư nhân có khả năng nhanh chóng thích ứng với biến động của thị trường, sáng tạo trong tổ chức quản trị, đổi mới công nghệ và đa dạng hóa sản phẩm. Đặc biệt, trong các ngành chế biến - chế tạo, công nghiệp phụ trợ, công nghệ số, kinh tế tư nhân thực sự là lực lượng chủ lực thúc đẩy gia tăng tỷ lệ nội địa hóa, phát triển chuỗi giá trị sản xuất ngành công nghiệp nội địa nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế. Các doanh nghiệp tư nhân cũng là “đầu tàu” trong phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, thúc đẩy cơ cấu nền kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hiện đại và bền vững. Tuy nhiên, diễn ra song song với ưu thế, kinh tế tư nhân vẫn còn nhiều hạn chế lớn về quy mô, năng lực tài chính và trình độ quản trị, khoa học công nghệ thấp khiến cho nhiều doanh nghiệp tư nhân còn khó tiếp cận công nghệ lõi, thiếu nguồn lực đầu tư dài hạn và hạn chế trong thực thi đổi mới sáng tạo. Chính vì vậy, việc phát triển kinh tế tư nhân cần đi đôi với các giải pháp hoàn thiện thể chế tạo hành lang pháp lý minh bạch, bình đẳng; đồng thời nâng cao khả năng tiếp cận tài chính, đất đai, lao động có kỹ năng và công nghệ để khu vực này phát huy tối đa thế mạnh sáng tạo và năng lực sản xuất. Khu vực FDI: nguồn vốn, công nghệ và cầu nối toàn cầu quan trọng Khu vực FDI tiếp tục giữ vai trò không thể thay thế trong việc cung cấp vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản trị mới và kết nối Việt Nam với các mạng sản xuất, chuỗi giá trị đa quốc gia. Đặc biệt tại Việt Nam, khu vực FDI đóng vai trò trung tâm trong thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu chủ lực, đưa Việt Nam gia nhập sâu hơn các thị trường quốc tế lớn như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản. Theo Văn kiện Đại hội XIV, phát triển FDI gắn với chuyển giao công nghệ có chọn lọc và phát triển công nghiệp phụ trợ là nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực tự chủ công nghiệp của quốc gia (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Điều này đòi hỏi xây dựng các cơ chế thúc đẩy liên kết hiệu quả giữa khu vực FDI với doanh nghiệp nội địa, nhất là doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước. Mặc dù vậy, khu vực FDI hiện nay vẫn còn tồn tại các rào cản về liên kết chuỗi giá trị với thị trường trong nước, tỷ lệ nội địa hóa còn thấp và độ sâu tham gia vào đổi mới sáng tạo chưa tương xứng. Do đó, việc nâng cao năng lực liên kết và hợp tác giữa FDI và kinh tế nội địa là một trong những yêu cầu trọng tâm nhằm hiện thực hóa mô hình công nghiệp tự chủ, hiện đại. Sự vận hành đồng bộ, phối hợp có hiệu quả của ba thành phần kinh tế Mô hình kinh tế ba thành phần này không chỉ đơn thuần là sự tồn tại song song mà là mối quan hệ tương hỗ phức hợp, đan xen, trong đó mỗi thành phần giữ vị trí, vai trò khác biệt nhưng cùng bổ trợ và thúc đẩy phát triển lẫn nhau. Sự vận hành hiệu quả của nền kinh tế thường gắn liền với chất lượng điều tiết và quản lý của Nhà nước theo nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và ổn định. Cấu trúc ba khu vực kinh tế phải được phân công vai trò rõ ràng: kinh tế nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, điều tiết, phát triển các ngành then chốt, công nghiệp nặng; kinh tế tư nhân tập trung vào phát triển các ngành chế biến, chế tạo, công nghệ số và phụ trợ đồng thời trở thành động lực cơ bản của tăng trưởng và đổi mới sáng tạo; khu vực FDI cung cấp nguồn lực vốn, công nghệ tiên tiến và liên kết quốc tế. Sự kết hợp này tạo thành một hệ sinh thái sản xuất công nghiệp đồng bộ, đa dạng và có khả năng thích ứng cao, góp phần nâng cao tỷ trọng giá trị gia tăng trong các sản phẩm công nghiệp xuất khẩu và trong nước. Việc điều phối vận hành linh hoạt ba khu vực kinh tế còn góp phần giảm thiểu các rủi ro do biến động thị trường quốc tế, đảm bảo tính tự chủ và ổn định cho nền công nghiệp quốc gia trước các cú sốc kinh tế toàn cầu hoặc các đứt gãy chuỗi cung ứng thế giới. Nền công nghiệp tự chủ và hiện đại không thể xây dựng thành công nếu thiếu sự kết hợp đồng bộ, hài hòa giữa ba thành phần kinh tế đặc trưng này. Việc xây dựng cấu trúc kinh tế ba khu vực: nhà nước, tư nhân và FDI phát triển cân bằng, phối hợp nhịp nhàng, dưới sự điều tiết của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, là cơ sở lập luận và thực tiễn quyết định cho chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chỉ khi nào kinh tế tư nhân được nâng lên tầm động lực quan trọng nhất, đồng thời khu vực FDI và nhà nước cùng phối hợp hiệu quả, thì Việt Nam mới có thể từng bước nâng cao năng lực nội sinh, phát triển công nghiệp hỗ trợ, đổi mới sáng tạo và làm chủ công nghệ. Điều này sẽ góp phần giảm thiểu sự lệ thuộc vào nhập khẩu, tăng cường sức chống chịu và thích ứng trước những thay đổi không dự đoán trước của kinh tế thế giới và xu hướng chuyển đổi kinh tế toàn cầu. Như vậy, sự vận hành đồng bộ và phối hợp hài hòa ba khu vực kinh tế chính là trục nâng đỡ chiến lược phát triển bền vững, nền công nghiệp tự chủ và hiện đại, từ đó góp phần thực hiện thành công mục tiêu trở thành nước phát triển, có công nghiệp hiện đại theo hướng bền vững. 3. Thực trạng và điểm nghẽn của kinh tế tư nhân Trong hơn ba thập niên đổi mới, kinh tế tư nhân tại Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc cả về số lượng doanh nghiệp và đóng góp vào GDP, đồng thời tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho xã hội. Có thể khẳng định rằng khu vực tư nhân đã trở thành động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế đất nước. Theo các số liệu mới nhất, kinh tế tư nhân hiện chiếm khoảng 43%-45% GDP và chiếm tới hơn 96% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, phần lớn là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh nhưng thiếu chiều sâu, đặc biệt là về quy mô, năng lực công nghệ và đổi mới sáng tạo, vẫn là những điểm nghẽn lớn cản trở kinh tế tư nhân trở thành trụ cột thực sự của nền công nghiệp tự chủ và hiện đại. Quy mô vốn và năng lực tài chính hạn chế Một trong những điểm nghẽn nổi bật nhất của khu vực tư nhân là quy mô tài chính còn rất hạn chế và không đồng đều. Phần lớn doanh nghiệp tư nhân là các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, vốn trung bình chỉ đạt khoảng 12 tỷ đồng, thấp hơn nhiều so với doanh nghiệp nhà nước (120 tỷ đồng) và FDI (300 tỷ đồng). Quy mô nhỏ khiến doanh nghiệp tư nhân khó tiếp cận nguồn vốn vay lớn và các nguồn tài chính dài hạn cần thiết cho đầu tư vào công nghệ, thiết bị hiện đại, nghiên cứu phát triển (R&D) và mở rộng quy mô sản xuất (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2024). Năng lực tài chính thấp cũng ảnh hưởng tới khả năng doanh nghiệp tư nhân chịu đựng các cú sốc thị trường và áp lực cạnh tranh khốc liệt trong quá trình hội nhập toàn cầu. Do đó, nhiều doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chủ yếu hoạt động trên các lĩnh vực có vốn thấp, rủi ro cao và giá trị gia tăng ít, khó vươn ra quy mô công nghiệp hóa. Vị thế và vai trò trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo Khu vực tư nhân tham gia mạnh vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, tuy nhiên đa phần tham gia ở các công đoạn gia công, lắp ráp với công nghệ và giá trị gia tăng thấp. Tỷ trọng nội địa hóa trong các khâu sản xuất của khối tư nhân thường thấp, do phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu linh kiện, vật liệu. Ngược lại, khu vực FDI chiếm ưu thế áp đảo với tỷ lệ đến 72%-75% tổng kim ngạch xuất khẩu, đặc biệt trong các lĩnh vực kỹ thuật cao như điện tử, dệt may, da giày… Điều này cho thấy doanh nghiệp tư nhân chưa có nhiều doanh nghiệp đủ lớn, đủ năng lực cạnh tranh để tham gia sâu và chủ động trong chuỗi giá trị toàn cầu. Điều này đặt ra thách thức cấp bách đối với khu vực tư nhân là phải nâng cao năng lực sản xuất, tập trung phát triển công nghiệp phụ trợ, đẩy mạnh nội địa hóa và tạo ra các sản phẩm có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn nhằm từng bước giảm lệ thuộc vào nguồn nhập khẩu, tăng tính cạnh tranh trong nước và quốc tế. Hạn chế về năng lực đổi mới sáng tạo Một trong những điểm nghẽn cơ bản khác của kinh tế tư nhân là năng lực đổi mới sáng tạo còn rất hạn chế. Mức đầu tư cho nghiên cứu và phát triển của khu vực tư nhân đang chiếm chưa đến 1% GDP, thấp hơn nhiều so với khu vực nhà nước (1,8%) và FDI (2,4%). Doanh nghiệp tư nhân còn thiếu nguồn lực tài chính, nhân lực và công nghệ để đầu tư mạnh mẽ vào hoạt động R&D. Tỷ lệ doanh nghiệp tư nhân sở hữu bằng sáng chế, phát minh cũng chỉ chiếm khoảng 15% tổng số sáng chế quốc gia, phân bổ chủ yếu tập trung ở một số doanh nghiệp lớn. Phần lớn doanh nghiệp tư nhân vẫn dựa vào công nghệ nhập khẩu hoặc gia công theo đơn đặt hàng, chưa đủ năng lực để chủ động phát triển công nghệ lõi hay tạo ra sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam có giá trị cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế. Hệ thống hỗ trợ đổi mới sáng tạo, liên kết giữa doanh nghiệp tư nhân với viện nghiên cứu, trường đại học và các trung tâm chuyển giao công nghệ còn yếu, chưa phát huy vai trò thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực công nghệ một cách bền vững. Liên kết chuỗi giá trị và hệ sinh thái công nghiệp còn yếu Hiện trạng liên kết giữa doanh nghiệp tư nhân với khu vực nhà nước và đặc biệt là các doanh nghiệp FDI còn phân tán, thiếu chiều sâu và thiếu sự phối hợp chiến lược. Các chuỗi cung ứng trong nước còn nhỏ lẻ, phân mảnh và chưa tạo thành các hệ sinh thái công nghiệp đủ sức cạnh tranh. Hệ lụy là rất ít các doanh nghiệp tư nhân lớn có khả năng dẫn dắt, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và lan tỏa giá trị gia tăng cho các doanh nghiệp nhỏ hơn trong chuỗi. Không có các tập đoàn tư nhân công nghiệp lớn, có chiều sâu và quy mô đủ mạnh, kéo theo sự thiếu hụt nguồn lực để đầu tư dài hạn, nghiên cứu phát triển sản phẩm công nghệ cao. Điều này khiến doanh nghiệp tư nhân thường bị bó hẹp trong các phân khúc thị trường thấp về giá trị kỹ thuật hoặc các công đoạn sản xuất thâm dụng lao động. Các thách thức về thể chế và môi trường kinh doanh Bên cạnh những hạn chế nội tại, môi trường thể chế và chính sách hỗ trợ cho phát triển kinh tế tư nhân còn nhiều bất cập, rào cản. Việc tiếp cận đất đai, các nguồn vốn tín dụng, chính sách hỗ trợ công nghiệp phụ trợ và công nghệ chưa đồng bộ và còn nhiều thủ tục phức tạp, dẫn đến thiếu động lực đầu tư dài hạn cho doanh nghiệp tư nhân. Tình trạng chưa minh bạch và chưa bình đẳng về tài chính, thị trường và nguồn lực khác cũng tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh và kìm hãm khả năng phát triển bứt phá của doanh nghiệp tư nhân. Ngoài ra, nhu cầu nâng cao năng lực quản trị, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và kỹ năng đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp tư nhân vẫn còn là yêu cầu chưa được giải quyết triệt để. 4. Định vị lại kinh tế tư nhân trong chiến lược công nghiệp hóa Để kinh tế tư nhân trở thành một cấu phần thiết yếu trong năng lực công nghiệp quốc gia, việc định vị lại vai trò của khu vực này trong chiến lược công nghiệp hóa của Việt Nam là vô cùng cần thiết. Trước hết, cần xác lập rõ vai trò chiến lược của kinh tế tư nhân trong việc nâng cao năng lực sản xuất, làm chủ công nghệ và mở rộng chuỗi giá trị, nhất là trong các ngành chế biến, chế tạo, công nghiệp phụ trợ và công nghệ số. Việc này đòi hỏi khu vực tư nhân không chỉ là một bộ phận tham gia mà phải trở thành lực lượng dẫn dắt, thúc đẩy sự phát triển công nghiệp bền vững và hiện đại, tương xứng với vị trí “động lực quan trọng nhất” được Đại hội Đảng XIV khẳng định. Song song đó, cần có sự phân công rõ ràng vai trò giữa ba khu vực kinh tế là nhà nước, tư nhân và vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc nắm giữ các ngành then chốt, đảm bảo an ninh kinh tế và chủ quyền quốc gia, đồng thời làm đầu tàu cho sự ổn định và phát triển dài hạn nền công nghiệp. Kinh tế tư nhân được phát huy tính linh hoạt, đổi mới và sáng tạo, làm trụ cột công nghiệp trong các lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh và tiềm năng phát triển công nghệ cao. Trong khi đó, khu vực FDI đóng vai trò cung cấp vốn, công nghệ tiên tiến và kết nối toàn cầu cho nền công nghiệp, đồng thời cần tăng cường liên kết và chuyển giao công nghệ với doanh nghiệp tư nhân trong nước, qua đó hỗ trợ phát triển năng lực công nghiệp nội địa bền vững. Việc thúc đẩy đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) là yếu tố then chốt để tạo nên hệ sinh thái đổi mới sáng tạo giữa doanh nghiệp tư nhân, viện nghiên cứu và các trường đại học. Đây là nền móng giúp doanh nghiệp tư nhân nâng cao năng lực sản xuất, phát triển công nghệ lõi, tạo ra sản phẩm mới mang giá trị gia tăng cao và đón đầu xu hướng chuyển đổi số, công nghiệp xanh. Thực tế đòi hỏi chính sách không chỉ dừng lại ở việc khuyến khích mà còn phải hỗ trợ thiết thực nhằm giúp doanh nghiệp tư nhân vượt qua những rào cản về vốn, nhân lực và kỹ thuật. Ngoài ra, cần tập trung hình thành những tập đoàn tư nhân công nghiệp quy mô lớn, đủ sức cạnh tranh quốc tế và có khả năng dẫn dắt sự phát triển chuỗi cung ứng nội địa. Những tập đoàn này sẽ trở thành đầu tàu thúc đẩy mạng lưới doanh nghiệp phụ trợ phát triển đồng bộ, từ đó tạo ra sức mạnh tổng hợp, đóng góp quan trọng trong việc từng bước hiện thực hóa mục tiêu công nghiệp tự chủ và hiện đại. Để đạt được các mục tiêu trên, việc hoàn thiện thể chế kinh tế là điều kiện tiên quyết. Cần bảo đảm quyền sở hữu tài sản và quyền kinh doanh tự do, bình đẳng cho các thành phần kinh tế, giảm thiểu những chồng chéo và phức tạp trong pháp luật, tạo dựng môi trường pháp lý minh bạch, ổn định, giúp doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn. Sự công bằng trong phân bổ nguồn lực đất đai, tín dụng và đầu tư công cũng rất quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực xã hội và phát huy tối đa tiềm năng khu vực tư nhân. Song song với đó, việc phát triển thị trường vốn dài hạn, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ công nghệ là những giải pháp cần được đẩy mạnh nhằm tạo thêm kênh huy động nguồn vốn cho đổi mới sáng tạo và mở rộng sản xuất của doanh nghiệp tư nhân. Chính sách công nghiệp cũng cần được xây dựng trên nguyên tắc chọn lọc và dựa trên tín hiệu thị trường, ưu tiên các ngành có tiềm năng công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, năng lượng tái tạo và kinh tế số, đi kèm với các công cụ ưu đãi thuế, quỹ hỗ trợ đổi mới sáng tạo nhằm tạo động lực cho doanh nghiệp phát triển. Việc thúc đẩy liên kết chặt chẽ trong nước giữa các doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp nhỏ và vừa, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo cũng đóng vai trò quan trọng. Điều này tạo nên hệ sinh thái đổi mới sáng tạo liên ngành, tăng khả năng chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực cán bộ kỹ thuật và quản lý trong khu vực tư nhân. Đồng thời, khuyến khích khu vực FDI hợp tác hiệu quả hơn trong chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao tại Việt Nam, góp phần nâng cao năng lực nội sinh cho nền công nghiệp. Cuối cùng, phát triển các cơ chế hợp tác công - tư (PPP) nhằm huy động hiệu quả nguồn vốn tư nhân cho phát triển hạ tầng kinh tế và công nghiệp chiến lược là điều kiện cần thiết để tạo nền tảng vật chất và kỹ thuật thuận lợi cho sự phát triển công nghiệp tư nhân lớn mạnh. Môi trường hợp tác minh bạch, cạnh tranh công bằng và chính sách ưu đãi hợp lý sẽ thu hút đầu tư tư nhân vào các dự án có quy mô lớn và tiềm năng công nghệ cao, góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trên nền tảng phát triển bền vững. Tóm lại, định vị lại và phát triển kinh tế tư nhân trong chiến lược công nghiệp hóa đòi hỏi sự phối hợp đa dạng về chiến lược, tổ chức thực hiện và hoàn thiện thể chế, nhằm tạo nên lực lượng sản xuất năng động, sáng tạo và có quy mô, sức cạnh tranh quốc tế; qua đó góp phần nâng cao năng lực nội sinh và tính tự chủ của nền công nghiệp Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số sâu rộng. Kết luận Xây dựng nền công nghiệp tự chủ và hiện đại không chỉ là một mục tiêu kinh tế đơn thuần mà còn là nhiệm vụ chiến lược tối quan trọng, gắn liền chặt chẽ với sự độc lập và tự chủ kinh tế quốc gia. Trong bối cảnh kỷ nguyên chuyển đổi số diễn ra nhanh chóng và sự cạnh tranh toàn cầu ngày càng quyết liệt, việc phụ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu công nghệ và gia công sẽ khiến nền công nghiệp dễ bị tổn thương và khó bền vững. Một nền công nghiệp tự chủ đòi hỏi không chỉ khả năng sản xuất mà còn phải có năng lực làm chủ công nghệ, đổi mới sáng tạo và xây dựng chuỗi giá trị công nghiệp nội địa vững chắc, qua đó giảm dần sự lệ thuộc vào nguồn cung bên ngoài và tăng cường khả năng thích ứng trước những sóng gió của kinh tế thế giới. Trong đó, kinh tế tư nhân cần được định vị lại, vượt qua vai trò đơn thuần là động lực tăng trưởng kinh tế ngắn hạn để trở thành trụ cột chủ chốt, trung tâm phát triển năng lực nội sinh của nền công nghiệp quốc gia. Khu vực tư nhân phải trở thành lực lượng sản xuất năng động, sáng tạo và linh hoạt, có khả năng cạnh tranh không chỉ trong phạm vi khu vực mà trên cả thị trường quốc tế. Việc nâng tầm vai trò của kinh tế tư nhân còn đồng nghĩa với việc tạo dựng những tập đoàn công nghiệp tư nhân có quy mô lớn, đủ sức dẫn dắt chuỗi giá trị ngành, thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ và đổi mới công nghệ. Sự phối hợp hiệu quả giữa ba khu vực kinh tế: kinh tế nhà nước với vai trò chủ đạo trong các ngành then chốt, kinh tế tư nhân với thế mạnh đổi mới sáng tạo và tính linh hoạt cao, cùng khu vực đầu tư nước ngoài (FDI) cung cấp vốn, công nghệ và cầu nối thị trường toàn cầu, chính là nền tảng vững chắc để thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Việc phối hợp này chỉ có thể phát huy tối đa khi được vận hành trong khuôn khổ thể chế kinh tế minh bạch, công bằng, ổn định và dự báo được, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực xã hội. Hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế theo hướng kiến tạo cấu trúc phát triển, nâng cao năng lực quản lý nhà nước và xây dựng thị trường vốn dài hạn hiệu quả là những điều kiện tiên quyết để tạo môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo và phát triển các tập đoàn công nghiệp tư nhân mạnh. Đây chính là nền móng để Việt Nam hiện thực hóa định vị chiến lược nâng cao vai trò kinh tế tư nhân trong phát triển công nghiệp, từ đó kiên định bước đi vững chắc trên con đường xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại, góp phần nâng cao sức cạnh tranh tổng thể và bền vững của nền kinh tế quốc gia trong kỷ nguyên số và hội nhập mạnh mẽ toàn cầu. Tài liệu tham khảo 1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư. (2024). Sách trắng Doanh nghiệp Việt Nam 2024. Hà Nội: Bộ Kế hoạch và Đầu tư; 2. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật; 3. Tổng cục Hải quan; Tổng cục Thống kê. (2024). Báo cáo xuất nhập khẩu năm 2024. Hà Nội; 4. Tổng cục Thống kê. (2024). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2024. Hà Nội. Ngày nhận bài: 25/02/2026 Ngày biên tập: 02/3/2026 Ngày duyệt đăng: 10/4/2026 Tác giả: Nguyễn Trọng Khang Tập đoàn MK Email: khangnt@mkgroup.com.vn (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, số tháng 4/2026)

Để tăng cường tính độc lập tự chủ và sức chống chịu của nền kinh tế trong bối cảnh hiện nay

Để tăng cường tính độc lập tự chủ và sức chống chịu của nền kinh tế trong bối cảnh hiện nay

Độc lập, tự chủ là là giữ vững chủ quyền và năng lực tự quyết định mọi hoạt động của quốc gia - dân tộc về đối nội, đối ngoại, nhất là lựa chọn con đường, mô hình phát triển, chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại theo lợi ích cao nhất của quốc gia và ý chí của người dân, không phụ thuộc vào bất cứ thế lực nào từ bên ngoài; trong đó, độc lập, tự chủ về kinh tế là nền tảng vật chất cơ bản để giữ vững độc lập, tự chủ về chính trị và tăng cường độc lập, tự chủ của quốc gia… Từ khoá: Lực lượng sản xuất mới; nền kinh tế; độc lập; tự chủ; phát triển; hội nhập; đất nước. 1. Điểm nhấn bối cảnh thế giới hiện nay Thế giới đương đại đang chứng kiến những biến chuyển nhanh chóng, phức tạp và khó lường của tình hình địa chính trị, kinh tế và môi trường khu vực và toàn cầu, trước mắt và lâu dài; đồng thời, tác động lan toả mạnh mẽ đến tất cả các nước dù thuộc chế độ chính trị xã hội nào và có trình độ phát triển cao hay thấp ra sao..., trong đó có Việt Nam, với một số động thái nổi bật sau: Thứ nhất, gia tăng cạnh tranh địa chính trị và tái cấu trúc trật tự kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế mới theo hướng đa cực đa trung tâm. Nổi bật trong số đó là xu hướng gia tăng cạnh tranh chiến lược giữa các nước và nhóm nước Mỹ, EU - Nga - Trung Quốc, Ấn Độ; kéo theo dự gia tăng chi phí gắn với chạy đua quân sự và chạy đua công nghệ cao phục vụ chiến tranh tổng lực cả về quân sự, kinh tế, truyền thông, thông tin và tâm lý. Hệ thống đa phương bị thách thức ngày càng lớn, nhưng vẫn được phần đông các nước trong cộng đồng quốc tế coi trọng. Cách mạng công nghiệp 4.0 làm trầm trọng hơn xu hướng phân mảng, chia rẽ, nhất là chia rẽ số giữa các nước, các nhóm nước, gây ra những tác động lâu dài đối với cục diện thế giới và khu vực. Toàn cầu hóa hội nhập quốc tế vẫn tiếp diễn, dù chậm lại; các hoạt động vận tải, di chuyển vật chất toàn cầu suy giảm, nhường chỗ cho những phương cách, lĩnh vực toàn cầu hoá phi vật chất. Thương mại toàn cầu tiếp tục tăng, còn đầu tư quốc tế có thể giảm so với trước và được cấu trúc lại theo hướng gia tăng tính bền vững của các chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu và hướng vào các lĩnh vực xanh, lĩnh vực số; sự cân bằng ngày càng đậm nét hơn giữa tự do hóa, mở cửa với tự cường; giữa hội nhập sâu rộng, toàn diện với tự chủ chiến lược; giữa tham gia cuộc chơi chung với nâng cao khả năng chống chịu bên trong từng quốc gia, từng nền kinh tế. Tính bền vững, bao trùm được quan tâm hơn; chuyển đổi số và kinh tế số trở thành xu thế lớn; tiến trình khu vực hóa được đẩy nhanh hơn. Đồng thời, sẽ tiếp tục gia tăng sự phân mảnh công nghệ và tái cơ cấu các chuỗi cung ứng kinh tế thế giới theo hướng chuyển dịch chuỗi sản xuất vào các thị trường quốc gia cùng phe nhóm và đồng minh, bạn bè hoặc trở lại trong nước. Tình trạng chạy đua, đối kháng về khoa học - công nghệ, đối kháng về kinh tế, cạnh tranh tài nguyên, cạnh tranh nguồn nhân lực chất lượng cao, chạy đua bảo vệ sở hữu trí tuệ... giữa các nước ngày càng gay gắt. Xu hướng dân chủ hóa quan hệ quốc tế bị thách thức nghiêm trọng hơn bởi chính trị cường quyền, cạnh tranh nước lớn. Nhận thức chung về tầm quan trọng của chủ nghĩa đa phương, hệ thống đa phương và ngoại giao đa phương của đa số các nước được nâng lên cùng với “áp lực buộc phải chọn phe”. Các nước vừa và nhỏ càng coi trọng vai trò của luật pháp quốc tế trong bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc của mình. Ngoài ra, biến động khí hậu cực đoan và yêu cầu về bảo vệ môi trường và sức khoẻ người tiêu dùng cũng ngày càng cao, nghiêm ngặt và mở rộng hơn. Các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống ngày càng gia tăng và đan xen, cộng hưởng gây hậu quả nặng nề hơn cho mỗi quốc gia và toàn thế giới, cả hiện tại và tương lai. Về tổng thể, thế giới đang bước vào giai đoạn kinh tế tăng trưởng chậm lại và áp lực nợ công và rủi ro trên thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế, lạm phát, bất bình đẳng trong xã hội gia tăng so với 3 thập kỷ trước. Thứ hai, lực lượng sản xuất mới với những cấu thành mới và đặc tính mới đang đặt ra những nhận thức và yêu cầu mới về xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ của mỗi quốc gia. Một trong những đặc trưng thời đại hiện nay là sự xuất hiện các cấu trúc lực lượng sản xuất mới, bao gồm cả các yếu tố đầu vào (như vật liệu mới, năng lượng mới, robot hình người và công nghệ tự động mới, AI và dữ liệu…), không gian kinh tế (nền kinh tế số và không gian kinh tế số), đồng tiền số/ảo và thị trường mới (mua bán các yếu tố và thành phẩm kinh tế số…)… Đặc điểm nổi bật của lực lượng sản xuất mới này là ngày càng hoạt động theo chuỗi, kết nối thành hệ thống dây chuyền, vừa có tính khép kín, vừa mang tính mở cao. Các biến động về cung - cầu, giá cả và chu kỳ thị trường liên quan cũng có nhiều động thái mới lạ, nhanh chóng, khó lường và mạnh mẽ, lan toả rộng, với phạm vi ngày càng bao quát hơn cả vĩ mô và vi mô, trong nước và quốc tế. Không gian kinh tế và năng suất lao động tăng nhanh, song các ranh giới và chủ quyền quốc gia ngày càng bị mờ dần trước sức mạnh, sự phụ thuộc và sự độc quyền công nghệ. Các lợi thế so sánh truyền thống cạn dần hoặc giảm dần ý nghĩa, trong khi các thách thức và cả các cơ hội mới xuất hiện ngày càng nhiều. Đặc biệt, một quốc gia và tập đoàn, doanh nghiệp kinh doanh ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào các chuỗi cung ứng đầu vào, thị trường đầu ra và các đối tác công nghệ liên quan ngoài biên giới. Dữ liệu và thông tin, cũng như công nghệ và khả năng đổi mới, sáng tạo trở thành nguồn tài nguyên mới vô giá, ngày càng quyết định năng lực cạnh tranh hiệu quả của quốc gia và doanh nghiệp trong các hoạt động kinh tế mới, với nhiều sản phẩm và thị trường mới khó tính đúng tính đủ giá trị bằng tiền như các dạng kinh té vật chất truyền thống. Ngày càng nhiều ngành nghề truyền thống bị mất đi và xuất hiện những lĩnh vực, nghề nghiệp mới; cơ cấu lao động và yêu cầu giáo dục, đào tạo và đảm bảo an sinh xã hội cũng theo đó mà có sự chuyển dịch mới, sâu sắc. Trong bối cảnh đó, tính độc lập, tự chủ của quốc gia bị thách thức mạnh, thậm chí mất đi nhiều ý nghĩa nội hàm yêu cầu cũ, nhất là các quốc gia chậm thích ứng với chuyển đổi số, không có công nghệ nguồn và năng lực đổi mới, sáng tạo cao, thiếu phản ứng thị trường và chính sách nhanh nhạy và hiệu quả. Cách mạng công nghiệp 4.0 trong khi đem lại cơ hội học hỏi, gia tăng các loại hình việc làm mới, cơ hội “rượt đuổi và bắt kịp” cho những nước đi sau như Việt Nam, thì cũng làm tăng áp lực về và thách thức về nâng cao năng lực tham gia chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu, cơ hội thu hút FDI và đảm bảo an sinh xã hội cho lao động Việt Nam. Thứ ba, các tiêu chí đo lường sức mạnh quốc gia ngày càng dựa trên cộng hưởng sức mạnh nội lực kinh tế, quốc phòng và khả năng phản ứng chính sách, phản ứng thị trường thông minh và hiệu quả. Ngày nay sức mạnh của các nước thường được đo bằng: i, Sức mạnh cứng: sức mạnh kinh tế (quy mô GDP, khả năng cạnh tranh thị trường và sự lành mạnh tài chính), tiềm lực khoa học - công nghệ; sức mạnh quốc phòng (số lượng quân đội, chi tiêu quốc phòng, công nghiệp quốc phòng, mạng lưới đồng minh…); ii, Sức mạnh mềm (sức hấp dẫn về mô hình, hệ giá trị; số lượng đối tác, vị thế, ảnh hưởng trên thế giới…); iii, Sức mạnh thông minh (khả năng sử dụng các loại sức mạnh để đạt được mục tiêu quốc gia, sự đúng đắn của chính sách và hiệu quả triển khai chính sách, khả năng điều chỉnh, phản ứng khi khủng hoảng…). Tổng thể sức mạnh quốc gia ngày càng dựa trên cộng hưởng sức mạnh nội lực kinh tế, quốc phòng và khả năng phản ứng chính sách, phản ứng thị trường thông minh và hiệu quả. Sức mạnh quốc gia còn được đánh giá theo nhiều tiêu chí khác tuỳ góc nhìn của các tổ chức quốc tế, song độc lập, tự chủ và đảm bảo sức chống chịu cao của nền kinh tế luôn là tiêu chí trọng tâm hội tụ và đo lường sức mạnh kinh tế quốc gia cả hiện tại và tương lai. Thực tế thế giới hiện đại cho thấy, không có ngoại lệ không đổ vỡ và phá sản nào cho bất kỳ mô hình phát triển, nền kinh tế quốc gia và doanh nghiệp, cũng như mọi tỷ phú thế giới nào nếu không có nhận thức đúng và kịp thời phản ứng linh hoạt chính sách và thị trường trong một bối cảnh trong nước và quốc tế ngày càng nhiều biến động phức tạp và khó lường. Đặc biệt, sự thành công của mỗi quốc gia tỷ lệ thuận với năng lực và hiệu lực, hiệu quả xây dựng và vận hành cơ chế đảm bảo hài hoà lợi ích, hội tụ, lan toả và phát huy được tổng hợp sức mạnh, các nguồn lực trong nước và quốc tế cho các mục tiêu lựa chọn phù hợp với từng giai đoạn lịch sử và thực tiễn trong nước, quốc tế; giữ vững niềm tin chính trị, niềm tin chính sách, niềm tin đầu tư và tiêu dùng thị trường; củng cố sự đoàn kết và đồng thuận xã hội cao; chủ động bám sát tình hình, tăng năng lực thông tin, dự báo và linh hoạt các kịch bản ứng phó kịp thời. 2. Nhận diện nền kinh tế độc lập tự chủ và sức chống chịu nền kinh tế theo tinh thần văn kiện Đại hội Đảng Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), xác định: “xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng”. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, nêu rõ: “Phát huy nội lực và sức mạnh dân tộc là yếu tố quyết định, đồng thời tranh thủ ngoại lực và sức mạnh thời đại là yếu tố quan trọng để phát triển nhanh, bền vững và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ”. Giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và tích cực, chủ động hội nhập nhằm tạo dựng sức mạnh dân tộc; trong đó, nội lực là quyết định; tranh thủ yếu tố ngoại lực và thời đại có vai trò quan trọng. Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 01/4/2013 của Bộ Chính trị (khóa XI) về hội nhập quốc tế, chủ trương: hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế. Đại hội XII (năm 2016), xác định: “chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế quốc tế… kết hợp hiệu quả ngoại lực và nội lực, gắn hội nhập kinh tế quốc tế với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ”. Nghị quyết số 06-NQ/TW, ngày 05/11/2016 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, chủ trương: tăng cường khả năng tự chủ của nền kinh tế, mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững. Trong văn kiện Đại hội XIII, lần đầu tiên Đảng nêu rõ yêu cầu: Nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các tác động tiêu cực từ các biến động kinh tế thế giới; Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn bó mật thiết với giữ vững các cân đối lớn đi đôi với bảo đảm an ninh kinh tế; Đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác; Chủ động hoàn thiện hệ thống phòng vệ để bảo vệ doanh nghiệp và thị trường trong nước; Hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với những điều ước và cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết; Giữ vững độc lập, tự chủ trong việc xác định chủ trương, đường lối, chiến lược phát triển kinh tế đất nước; Phát triển doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh trở thành nòng cốt của kinh tế đất nước; Giữ vững các cân đối lớn, chú trọng bảo đảm an ninh kinh tế; Không ngừng tăng cường tiềm lực kinh tế quốc gia; Tăng cường đào tạo cán bộ… có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế…; Tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển đô thị; Phát triển kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới; Đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia; Phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Điểm mới trong định hướng, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế theo tinh thần Đại hội XIII là nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển phù hợp với nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại, hội nhập; phát triển đồng bộ và tạo ra sự liên kết giữa các khu vực, các vùng, các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất kinh doanh và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế; huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tạo động lực để phát triển kinh tế nhanh và bền vững; nâng cao chất lượng, hiệu quả quản trị cả ở cấp quốc gia và doanh nghiệp; tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và hoạt động của những lĩnh vực, mô hình kinh doanh mới; phát huy vai trò của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong tham gia hình thành và điều tiết các quan hệ kinh tế thị trường; phát triển doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh, nòng cốt của kinh tế đất nước; giữ vững các cân đối lớn, bảo đảm an ninh kinh tế; đẩy mạnh đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ kinh tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác. Đặc biệt, văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh yêu cầu “bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”. Điều đó là cần thiết, tạo sự linh hoạt và vận dụng hiệu quả nguyên tắc “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong chỉ đạo, điều hành thực tiễn của Đảng trước mọi biến động nhanh, khó lường của thế giới. Đây cũng là thông điệp khẳng định sự nhất quán trong nhận thức chính trị nói chung của Đảng ta về định hướng nội dung và mục tiêu con đường đổi mới, hội nhập của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới, phù hợp với thực tiễn trong nước và xu hướng chung trên thế giới. Đại hội XIII cũng phân định rõ hơn vai trò, nội dung, yêu cầu và các công cụ quản lý kinh tế của nhà nước trong phát triển và củng cố các quan hệ gắn kết giữa kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; lần đầu tiên mở rộng, nhấn mạnh và làm rõ hơn mối quan hệ chặt chẽ giữa Nhà nước, Thị trường và Xã hội, thay vì chỉ có quan hệ Nhà nước với Thị trường trong văn kiện các kỳ Đại hội trước đây… 3. Yêu cầu mới và giải pháp cần có để đảm bảo tính độc lập tự chủ và tăng sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới Để xây dựng thành công nền kinh tế độc lập, tự chủ trong bối cảnh trên, đòi hỏi Việt Nam tiếp tục coi trọng giải quyết một số vấn đề sau: Một là, tiếp tục đổi mới nhận thức, hoàn thiện nội dung yêu cầu mô hình kinh tế tự chủ, linh hoạt hoá vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước. Vai trò chủ đạo của kinh tế tư nhân và doanh nghiệp nhà nước cần điều chỉnh phù hợp với cơ chế thị trường và yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng, đầy đủ và thực chất của Việt Nam. Theo đó, thu hẹp dần cả về quy mô, tỷ trọng và phạm vi hoạt động, nhất là trong hoạt động kinh tế vì lợi nhuận, tập trung nắm chủ đạo một số lĩnh vực, ngành kinh tế chủ chốt và hoạt động do Nhà nước cần độc quyền thuộc lĩnh vực đảm bảo quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; chủ động giữ vững các cân đối cơ cấu lớn, liên ngành, cấp quốc gia và ở địa phương, địa bàn cần thiết; chủ động và trực tiếp đảm nhận đầu tư vào những dự án, địa bàn không hấp dẫn hoặc cần thiết để định hướng, mở rộng đầu tư phát triển từ các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước. Đồng thời, phương thức chủ đạo cũng mềm và tỷ lệ cũng linh hoạt hơn, chủ yếu tham gia dưới hình thức cổ phần và giảm tối đa việc Nhà nước tham gia trực tiếp vào hoạt động kinh tế thông qua các doanh nghiệp nhà nước, chuyển một số nhiệm vụ mà các bộ, ngành, cơ quan nhà nước không cần thiết phải thực hiện cho tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đảm nhận. Theo thống kê chung trên thế giới, ở các nước, Chính phủ chỉ giữ 20% vốn tại doanh nghiệp nhà nước và khu vực doanh nghiệp nhà nước chỉ chiếm khoảng 5%-20% GDP… Thứ hai, đề cao vai trò kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, vừa thu hút công nghệ từ bên ngoài, vừa tăng cường năng lực đổi mới, sáng tạo và tự chủ công nghệ trong nước. Việt Nam cần đồng bộ và đa dạng hoá nhiều giải pháp từ chính trị, đối ngoại đến các cơ chế, chính sách kinh tế - tài chính thích ứng bảo đảm lòng tin chiến lược từ đối tác, nhất là các “đối tác chiến lược toàn diện”, để nhận được đầu tư FDI vào các ngành công nghệ cao hoặc được mua công nghệ cao, cho phép Việt Nam tham gia các chuỗi cung ứng công nghệ cao “mang tính bạn bè” trong khu vực và trên phạm vi toàn cầu. Đồng thời, triển khai nhanh và hiệu quả thực chất các chủ trương, nhiệm vụ và giải pháp theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Do đó, phải sớm thể chế hoá chủ trương coi kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của đất nước về tăng trưởng GDP, tăng năng suất lao động, tạo công ăn việc làm; lực lượng tiên phong trong kỷ nguyên mới, lực lượng chủ lực, đi đầu trong ứng dụng công nghệ và đổi mới, sáng tạo trong tầm nhìn chung của đất nước. Nhà nước bên cạnh việc phải củng cố mạnh mẽ khu vực doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn kinh tế nhà nước, cần ưu tiên xây dựng các tập đoàn kinh tế tư nhân tầm cỡ khu vực và toàn cầu, có năng lực cạnh tranh quốc tế, có sứ mệnh dẫn dắt, hỗ trợ trở lại các doanh nghiệp nội địa khác cùng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời, phải có chính sách riêng trong việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển, cũng như thành phần kinh tế hộ gia đình và kinh tế hợp tác xã, khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp và phát triển mô hình hợp tác xã kiểu mới, hiệu quả; khuyến khích doanh nghiệp tư nhân nâng cao năng lực nghiên cứu và đổi mới công nghệ, tham gia các lĩnh vực chiến lược, phát triển cơ sở hạ tầng quan trọng, công nghệ cao, công nghiệp mũi nhọn, an ninh năng lượng và một số lĩnh vực đặc biệt trong các dự án quan trọng quốc gia; kiểm soát chặt chẽ tình trạng doanh nghiệp độc quyền và thao túng chính sách; bảo vệ hữu hiệu quyền tài sản, quyền sở hữu (trong đó có quyền sở hữu trí tuệ và tài sản vô hình), quyền tự do kinh doanh và bảo đảm thực thi hợp đồng của doanh nghiệp tư nhân; giảm thiểu rủi ro pháp lý, hạn chế tối đa tình trạng thay đổi chính sách đột ngột gây tổn thất cho doanh nghiệp; tạo lập cơ chế hỗ trợ và bảo vệ nhà đầu tư tư nhân, nhất là các doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo… Thứ ba, củng cố niềm tin chính trị, nỗ lực đột phá thể chế, tinh gọn và nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả bộ máy quản lý nhà nước và toàn hệ thống chính trị để tạo động lực mới cho phát triển kinh tế đất nước theo hướng độc lập, tự chủ. Động lực mới được cộng hưởng và gắn với kết quả trực tiếp và gián tiếp, trước mắt và lâu dài của quá trình tinh gọn bộ máy; củng cố lòng tin, cải thiện vị thế và sự hấp dẫn của môi trường đầu tư, khai thác hiệu quả cơ hội đầu tư mới và các nguồn lực tiềm năng cho phát triển cả vĩ mô và vi mô, trước mắt và lâu dài, trong nước và ngoài nước. Với tinh thần đó, trong quá trình xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ thời gian tới cần tiếp tục giữ vững độc lập, tự chủ trong việc xác định chủ trương, đường lối, chiến lược phát triển kinh tế đất nước; đẩy nhanh quá trình hoàn thiện thể chế, nhất là về hệ thống pháp luật phù hợp với những điều ước quốc tế và cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết; coi trọng duy trì sự ổn định và phát triển trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường, hội nhập quốc tế; thúc đẩy sự chuyển biến mạnh mẽ hơn về cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới động lực tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, tăng tính cạnh tranh chất lượng của nền kinh tế; tập trung tạo mọi điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, phát triển cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam gắn kết và lớn mạnh trở thành nòng cốt của kinh tế đất nước; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác, nhất là khi thị trường hay đối tác đó có sự biến động; thực hiện nhiều hình thức hội nhập kinh tế quốc tế với các lộ trình linh hoạt, phù hợp với điều kiện, mục tiêu của đất nước từng giai đoạn; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và tăng cường đổi mới sáng tạo, phát triển và từng bước làm chủ khoa học công nghệ đáp ứng yêu cầu cạnh tranh quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Đặc biệt, cần sớm hoàn thiện cơ chế kết hợp hài hoà Nhà nước - Thị truờng - Xã hội trong một mô hình Nhà nước kiểu mới; coi trọng tính đồng bộ và chú ý đến tính hai mặt của các giải pháp chính sách đa dạng hóa và phối hợp các nguồn lực trong nước và quốc tế; khả năng tăng cường dự báo, thông tin, bảo vệ người tiêu dùng và giữ vững lòng tin trên thị trường, củng cố uy tín quốc gia và niềm tin chiến lược quốc tế vào các đột phá thể chế Việt Nam có tính hội nhập cao và bền vững hơn, từng bước định hình một tầm nhìn mới, một thực tiễn mới và mở ra triển vọng phát triển mới trong toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội Việt Nam thời kỳ chuyển mình hội nhập cùng thế giới… Không ngừng hoàn thiện, củng cố nhận thức toàn diện, đầy đủ, sâu sắc và tổ chức xây dựng hiệu quả mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, có sức chống chịu cao ở nước ta là biểu hiện và thước đo sự thành công bản lĩnh, trí tuệ về Đổi mới và Cách mạng của Đảng. Đồng thời, đó cũng là quá trình tạo lập và hiện thực hóa các mục tiêu, động lực và cơ chế để gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường, phát huy dân chủ, sáng tạo và bảo vệ quyền con người, quyền công dân và để người dân được hưởng thụ ngày càng nhiều hơn thành quả của công cuộc đổi mới; để giữ vững được ổn định chính trị và kinh tế, củng cố đồng thuận và đoàn kết xã hội, không ngừng cải thiện các quan hệ và vị thế quốc tế, xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam phát triển nhanh, bền vững hơn trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng và toàn diện hơn… Tài liệu tham khảo: 1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, H. 2011, tr. 102; 2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, H. 2016, tr. 111; 3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021; 4. Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; 5. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân; 6.https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/824082/quan-diem-moi-ve-xaydung-nen-kinh-te-viet-nam-doc-lap%2C-tu-chu-trong-van-kien-dai-hoi-xiii-cua-dang.aspx#. Tác giả: PGS.TS Ngô Thanh Hoàng, Ủy viên Hội đồng tư vấn kinh tế, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TS Nguyễn Minh Phong, Báo Nhân dân (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, số tháng 2/2026)

Agribank ký kết Hợp đồng tín dụng Hạn mức tài chính khí hậu với Cơ quan Phát triển Pháp

Ngày 25/5, tại Hà Nội, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) và Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) chính thức ký kết Hợp đồng tín dụng Hạn mức tài chính khí hậu, đánh dấu bước tiến mới trong hợp tác tài chính quốc tế nhằm thúc đẩy tăng trưởng xanh và phát triển bền vững tại Việt Nam. Sự kiện có sự tham dự của ông Olivier Brochet, Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Cộng hòa Pháp tại Việt Nam; ông Đào Xuân Tuấn, Cục trưởng Cục Quản lý ngoại hối, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; ông Julien Seillan, Giám đốc AFD Việt Nam. Về phía Agribank có ông Tô Huy Vũ, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng thành viên Agribank; các thành viên Hội đồng thành viên, Ban Điều hành và đại diện lãnh đạo các đơn vị liên quan. Phát biểu tại lễ ký kết, Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Cộng hòa Pháp tại Việt Nam Olivier Brochet nhấn mạnh, đây là khoản tín dụng khí hậu không có bảo lãnh Chính phủ đầu tiên mà AFD cấp cho Agribank. Vượt lên trên ý nghĩa tài chính, quan hệ đối tác này đánh dấu bước phát triển mới trong hợp tác giữa Pháp và Việt Nam trong lĩnh vực tài chính bền vững và chuyển đổi xanh. Ngài Đại sứ bày tỏ tin tưởng lễ ký kết sẽ mở đường cho nhiều hợp tác tham vọng hơn giữa hai nước trong các lĩnh vực tài chính xanh, khí hậu và chuyển dịch năng lượng. Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Cộng hòa Pháp tại Việt Nam Olivier Brochet phát biểu tại Lễ ký kết Về phía Agribank, ông Tô Huy Vũ, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng thành viên Agribank nhấn mạnh, tăng trưởng xanh và phát triển bền vững đã trở thành định hướng xuyên suốt của Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh đó, tín dụng xanh và tài chính xanh được xác định là công cụ quan trọng nhằm hiện thực hóa các cam kết khí hậu quốc gia. Theo Chủ tịch Hội đồng thành viên Agribank, với vai trò là ngân hàng thương mại Nhà nước chủ lực trong lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Agribank ý thức rõ trách nhiệm “cầu nối” trong việc đưa các nguồn vốn quốc tế từ những đối tác phát triển như AFD đến với người dân, doanh nghiệp và các mô hình sản xuất xanh. Agribank cam kết quản lý, sử dụng nguồn vốn hiệu quả, minh bạch, đúng mục đích; ưu tiên cho các dự án năng lượng tái tạo, nông nghiệp thông minh, nông nghiệp sạch, các mô hình sản xuất giảm phát thải và thích ứng với biến đổi khí hậu. Ông Tô Huy Vũ, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng thành viên Agribank phát biểu tại Lễ ký kết “Lễ ký kết hôm nay không chỉ là một thỏa thuận về nguồn vốn mà còn là sự gặp gỡ của những tầm nhìn lớn về một thế giới xanh hơn, một nền nông nghiệp Việt Nam phát triển theo hướng bền vững, tuần hoàn và bao trùm. Agribank cam kết sẽ nỗ lực cao nhất để khoản hợp tác này phát huy hiệu quả thiết thực, trở thành mô hình kiểu mẫu cho hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tài chính khí hậu tại Việt Nam”, ông Tô Huy Vũ nhấn mạnh. Đại diện AFD, ông Julien Seillan, Giám đốc AFD Việt Nam cho biết, thông qua khoản tín dụng này, AFD tái khẳng định mong muốn đồng hành cùng các định chế tài chính lớn của Việt Nam trong quá trình chuyển đổi hướng tới một nền tài chính bền vững hơn, có khả năng chống chịu tốt hơn và phù hợp với các mục tiêu khí hậu của Việt Nam. Ông Julien Seillan, Giám đốc AFD Việt Nam khẳng định mong muốn đồng hành cùng các định chế tài chính lớn của Việt Nam trong quá trình chuyển đổi hướng tới một nền tài chính bền vững hơn Ngay sau phần phát biểu, đại diện hai bên là ông Julien Seillan, Giám đốc AFD Việt Nam và ông Đoàn Ngọc Lưu, Phó Tổng Giám đốc Agribank đã thực hiện nghi thức ký kết Hợp đồng tín dụng Hạn mức tài chính khí hậu dưới sự chứng kiến của lãnh đạo các cơ quan, đối tác và đại diện các đơn vị liên quan. Ông Julien Seillan, Giám đốc AFD Việt Nam và ông Đoàn Ngọc Lưu, Phó Tổng Giám đốc Agribank đã thực hiện nghi thức ký kết Hợp đồng tín dụng Hạn mức tài chính khí hậu Theo đánh giá, hợp tác giữa Agribank và AFD mang ý nghĩa quan trọng đối với cả nền kinh tế và chiến lược phát triển của ngân hàng. Đối với nền kinh tế, hạn mức tín dụng khí hậu góp phần đa dạng hóa nguồn lực tài chính cho các dự án giảm phát thải khí nhà kính, nâng cao khả năng chống chịu trước tác động của biến đổi khí hậu, đặc biệt trong những lĩnh vực có vai trò trọng yếu như nông nghiệp và phát triển nông thôn. Toàn cảnh Lễ ký kết Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm Đối với Agribank, đây là dấu mốc quan trọng khi ngân hàng lần đầu tiếp cận thành công nguồn vay trung, dài hạn trực tiếp từ nước ngoài không thông qua bảo lãnh Chính phủ. Bước tiến này không chỉ phản ánh năng lực tài chính và uy tín của Agribank trên thị trường quốc tế mà còn tạo dư địa để ngân hàng chủ động hơn trong cơ cấu nguồn vốn, từng bước khẳng định vai trò dẫn dắt trong lĩnh vực tài chính xanh tại Việt Nam. Thông qua hợp tác với AFD, Agribank tiếp tục cụ thể hóa định hướng phát triển bền vững, mở rộng khả năng huy động nguồn lực quốc tế cho tăng trưởng xanh, đồng thời khẳng định cam kết đồng hành cùng Chính phủ, cộng đồng doanh nghiệp và người dân trong hành trình chuyển đổi xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển nền nông nghiệp Việt Nam theo hướng hiện đại, bền vững. AFD - Cơ quan Phát triển Pháp là định chế tài chính phát triển công của Pháp, có chức năng tài trợ, cho vay và hỗ trợ kỹ thuật đối với các chương trình, dự án phát triển bền vững tại nhiều quốc gia. Trong lĩnh vực môi trường, AFD là một trong những đối tác phát triển quốc tế tích cực thúc đẩy tài chính xanh, hỗ trợ các nền kinh tế chuyển đổi theo hướng phát thải thấp, nâng cao khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững.  Tại Việt Nam, AFD đã đồng hành trong nhiều chương trình liên quan đến tăng trưởng xanh, hạ tầng bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu, giao thông phát thải thấp, nông nghiệp và quản lý tài nguyên nước. Trong hợp tác với Agribank, AFD đóng vai trò là đối tác chiến lược quan trọng cung cấp nguồn vốn trung, dài hạn hỗ trợ giảm thiểu và/hoặc thích ứng với biến đổi khí hậu, góp phần mở rộng khả năng huy động nguồn lực quốc tế cho các dự án xanh, đặc biệt là các dự án trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, sản xuất giảm phát thải và thích ứng với biến đổi khí hậu. Chương trình hỗ trợ kỹ thuật đi kèm từ phía AFD sẽ là đòn bẩy quan trọng giúp Agribank nâng cấp hệ thống quản trị rủi ro môi trường và xã hội, hoàn thiện chiến lược ESG. Đây là nền tảng để Agribank giữ vững vị thế là định chế tài chính xanh hàng đầu, tiên phong dẫn dắt nền nông nghiệp Việt Nam chuyển mình theo hướng bền vững, tuần hoàn và bao trùm.

Agribank đồng hành cùng hộ kinh doanh: Kê khai thuế dễ dàng – Chuyển đổi doanh nghiệp vững vàng

Agribank ký kết hợp tác cùng Cục Thuế hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi sang thuế kê khai Trong bối cảnh chính sách thuế ngày càng được chuẩn hóa và minh bạch hóa, hàng triệu hộ kinh doanh tại Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ từ mô hình thuế khoán sang kê khai theo doanh thu thực. Thấu hiểu những thay đổi đó, Agribank đã và đang chủ động triển khai hệ sinh thái giải pháp toàn diện, hỗ trợ hộ kinh doanh kê khai thuế dễ dàng, quản lý hiệu quả và sẵn sàng chuyển đổi thành doanh nghiệp. Đặc biệt, theo Nghị định 70/2025/NĐ-CP, các hộ kinh doanh có doanh thu từ 1 tỷ đồng/năm trở lên bắt buộc phải sử dụng hóa đơn điện tử từ máy tính tiền, đồng thời truyền dữ liệu về cơ quan thuế theo thời gian thực. Trong bối cảnh đó, việc chuyển đổi từ hộ kinh doanh sang doanh nghiệp trở thành xu hướng tất yếu với nhiều hộ có quy mô doanh thu tương đối, nhằm tuân thủ quy định pháp luật, nâng cao năng lực quản trị và tăng khả năng tiếp cận vốn, thị trường. Trong giai đoạn chuyển đổi quan trọng này, Agribank đang có những hỗ trợ, đóng vai trò trung gian then chốt, cung cấp cả giải pháp tài chính và công nghệ hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp. Gói giải pháp “Chuyển đổi bứt phá – Nâng tầm doanh nghiệp” Gói giải pháp hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp Agribank triển khai chương trình ưu đãi dành riêng cho hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp trong 12 tháng đầu sau chuyển đổi, giúp doanh nghiệp mới giảm đáng kể chi phí vận hành ban đầu, bao gồm: Miễn phí quản lý tài khoản Miễn phí dịch vụ ngân hàng điện tử Agribank eBanking Tặng gói giải pháp bán hàng 1POS Tặng gói giải pháp hóa đơn điện tử Invoice Không dừng lại ở dịch vụ tài chính, Agribank còn cung cấp bộ công cụ số đồng bộ gồm hóa đơn điện tử, chữ ký số, phần mềm bán hàng và giải pháp quản lý dòng tiền, giúp doanh nghiệp chuyển mình từ phương thức ghi chép sổ sách thủ công sang quản trị dòng tiền hiện đại. Nhờ đó, việc kê khai thuế trở nên chính xác, minh bạch, đồng thời hỗ trợ kiểm soát doanh thu chi phí một cách hiệu quả. Đặc biệt, khi dữ liệu bán hàng được tích hợp với hệ thống hóa đơn điện tử xuất từ hệ thống bán hàng, quy trình kê khai thuế gần như được tự động hóa, trở thành một phần liền mạch trong vận hành kinh doanh, giúp doanh nghiệp tối ưu nguồn lực và tập trung phát triển bền vững. Cùng với đó, hộ kinh doanh mới thực hiện chuyển đổi mô hình hoạt động thành doanh nghiệp, lần đầu mở tài khoản thanh toán tại Agribank còn được tặng, giảm phí mở tài khoản số đẹp, hỗ trợ sử dụng sản phẩm Loa thần tài thông báo biến động số dư, ưu đãi áp dụng đến hết 30/6/2026. Ưu đãi tín dụng, giảm áp lực tài chính Ưu đãi lãi suất dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa lên tới 0,6%/năm Một trong những rào cản lớn đối với hộ kinh doanh khi chuyển đổi thành doanh nghiệp là chi phí vốn. Nhằm khơi thông nguồn vốn tín dụng phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, Agribank triển khai các chính sách tín dụng ưu đãi nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn vay dễ dàng hơn, với lãi suất cho vay thấp hơn sàn lãi suất cho vay thông thường đến 0,6%/năm, quy mô lên tới 100.000 tỷ đồng dành riêng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Bên cạnh đó, ngân hàng còn áp dụng các hình thức cấp vốn linh hoạt, phù hợp với đặc thù từng mô hình kinh doanh. Nhờ các chính sách này, doanh nghiệp sau chuyển đổi không chỉ có được nguồn vốn ổn định để duy trì hoạt động mà còn có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và từng bước tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng chính thức. Ưu đãi thương mại quốc tế Bên cạnh đó, Agribank còn mở rộng hỗ trợ cho doanh nghiệp thông qua các dịch vụ thương mại hiện đại. Doanh nghiệp sau chuyển đổi sẽ được tư vấn sử dụng sản phẩm dịch vụ thương mại quốc tế phù hợp với nhu cầu, cùng với chính sách hỗ trợ về tỷ giá và phí giao dịch, qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh và từng bước hội nhập vào các thị trường lớn hơn. Kết nối ngân hàng và cơ quan thuế Các chi nhánh Agribank chủ động phối hợp với cơ quan thuế tổ chức tư vấn, hướng dẫn trực tiếp các hộ kinh doanh tại địa bàn Một điểm nhấn trong chiến lược của Agribank là hợp tác chặt chẽ với cơ quan Thuế từ trung ương đến địa phương nhằm hỗ trợ hộ kinh doanh, doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế một cách thuận tiện hơn. Thông qua sự phối hợp này, hộ kinh doanh, doanh nghiệp được hỗ trợ mở tài khoản, nộp thuế điện tử, tiếp cận các giải pháp thanh toán và từng bước làm quen với phương thức quản lý hiện đại, hướng tới quy trình “1 chạm” trên nền tảng ngân hàng số. Tại các địa phương, chi nhánh Agribank chủ động phối hợp với cơ quan thuế tổ chức tư vấn, hướng dẫn trực tiếp, hỗ trợ đăng ký dịch vụ và triển khai các giải pháp phù hợp với thực tiễn kinh doanh. Nhờ đó, hộ kinh doanh có thể tự tin chuyển đổi, thích ứng nhanh với các quy định mới. Nhờ cách tiếp cận đồng bộ giữa tài chính – công nghệ – chính sách, Agribank đang thực hiện từng bước thúc đẩy hộ kinh doanh tuân thủ nghĩa vụ thuế, nâng cao năng lực quản trị và tiến tới chuyển đổi mô hình hoạt động trở thành doanh nghiệp. Đây không chỉ là nỗ lực của riêng Agribank, mà còn là một phần trong tiến trình lớn hơn nhằm hiện đại hóa nền kinh tế và thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển bền vững tại Việt Nam.

Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

Ngày 05/5/2026, tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody's Ratings công bố điều chỉnh triển vọng xếp hạng của Agribank từ “Ổn định” lên “Tích cực”, đồng thời giữ nguyên xếp hạng tiền gửi dài hạn của Agribank ở mức Ba2 và Đánh giá tín nhiệm cơ sở (BCA) ở mức b1. Theo Moody’s Ratings, việc điều chỉnh triển vọng phản ánh đánh giá tích cực đối với môi trường kinh tế vĩ mô và năng lực tín nhiệm quốc gia của Việt Nam, sau khi Moody’s Ratings nâng triển vọng xếp hạng quốc gia của Việt Nam từ “Ổn định” lên “Tích cực” vào ngày 04/5/2026. Moody’s Ratings nhận định năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam đang tiếp tục được cải thiện thông qua quá trình chuyển đổi số, đầu tư hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát triển thị trường vốn. Đối với Agribank, Moody’s Ratings đánh giá cao nền tảng huy động vốn ổn định với cơ sở khách hàng lớn và đa dạng, chất lượng tài sản duy trì ổn định cùng hiệu quả hoạt động tích cực. Theo Moody’s Ratings, nguồn vốn huy động mạnh là một trong những điểm mạnh tín nhiệm nổi bật của Agribank. Moody’s Ratings cũng cho biết, trong trường hợp xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam tiếp tục được nâng trong thời gian tới, xếp hạng của Agribank có khả năng được cải thiện tương ứng nhờ sự hỗ trợ cao của Chính phủ đối với Agribank. Việc Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng lên “Tích cực” tiếp tục khẳng định uy tín, vị thế và năng lực tài chính của Agribank trên thị trường trong nước và quốc tế, đồng thời phản ánh hiệu quả của chiến lược phát triển an toàn, bền vững, gắn với vai trò ngân hàng thương mại Nhà nước chủ lực trong đầu tư cho lĩnh vực “tam nông” và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Năm 2025 ghi dấu một năm hoạt động nổi bật của Agribank khi ngân hàng hoàn thành toàn diện và vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh, tài chính được Ngân hàng Nhà nước giao, tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột tài chính của nền kinh tế và chủ lực trong đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn. Tính đến 31/12/2025, tổng tài sản của Agribank đạt gần 2,7 triệu tỷ đồng; nguồn vốn huy động đạt trên 2,3 triệu tỷ đồng; dư nợ cho vay nền kinh tế hơn 1,97 triệu tỷ đồng, trong đó hơn 64% dư nợ tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Trong 4 tháng đầu năm 2026, Agribank tiếp tục duy trì tăng trưởng ổn định về quy mô huy động vốn và tín dụng, tập trung ưu tiên nguồn vốn cho các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, đặc biệt là “tam nông” và các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước. Bên cạnh hoạt động kinh doanh, Agribank tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại, mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt và nâng cao trải nghiệm khách hàng. Agribank đồng thời tăng cường năng lực quản trị điều hành, quản trị rủi ro theo chuẩn mực quốc tế, thúc đẩy tín dụng xanh, tài chính toàn diện và triển khai nhiều chương trình an sinh xã hội trên phạm vi cả nước. Với mạng lưới hoạt động rộng khắp và cơ sở khách hàng lớn, Agribank tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

Xây dựng đề cương thực hiện kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương

Chủ nhiệm: Ths. Nguyễn Khắc Chí và TS. Cù Hoàng Diệu Thư ký: Ths. Nguyễn Mạnh Cường Thành viên chính: Ths. Hoàng Liên Sơn                                 Ths. Nguyễn Thị Thu Hà Đơn vị thực hiện: Kiểm toán nhà nước Khu vực VII Sự cần thiết phải nghiên cứu Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Kiểm toán nhà nước khi kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách địa phương là thực hiện kiểm toán nợ chính quyền địa phương, trên cơ sở đó ngăn ngừa được các rủi ro phát sinh, từ đó đề ra các biện pháp quản lý nợ chính quyền địa phương một cách tốt hơn. Kiểm toán nhà nước Việt Nam đã trải qua gần 30 năm hoạt động, nhưng đến nay kiểm toán nợ chính quyền địa phương vẫn còn nhiều hạn chế. Trên thực tế, Kiểm toán nhà nước chưa thực hiện một cuộc kiểm toán độc lập đối với các khoản nợ chính quyền địa phương. Hằng năm, Kiểm toán nhà nước đã thực hiện cuộc kiểm toán nợ công, trong đó cũng đề cập đến nợ chính quyền địa phương; tuy nhiên cũng chưa đầy đủ và cụ thể. Bên cạnh đó, các cuộc kiểm toán quyết toán ngân sách nhà nước tại các địa phương cũng có đề cập đến các khoản vay, nợ chính quyền theo những quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Quản lý nợ công nhưng mới ở những nội dung hết sức đơn giản. Vì vậy việc nghiên cứu đề tài: “Xây dựng đề cương kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương” là hết sức cấp thiết. Mục tiêu nghiên cứu - Làm rõ cơ sở lý luận về nợ chính quyền địa phương; tình hình về vay, nợ chính quyền địa phương và kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương ở Việt Mam; - Đánh giá thực trạng kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương ở Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế; - Xây dựng đề cương kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương (bao gồm nội dung, trình tự các tiêu chí và phương thức tổ chức kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương). Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được chia làm 3 chương: Chương 1. Lý luận cơ bản về nợ chính quyền địa phương và kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương Đề tài trình bày về nợ chính quyền địa phương và cơ chế quản lý nợ chính quyền địa phương trong đó có các khái niệm cơ bản; phân loại nợ chính quyền địa phương; Sự khác nhau giữa nợ công, nợ chính phủ, nợ quốc gia, nợ chính quyền địa phương. Đề tài liệt kê một số chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán nợ gồm: Chỉ tiêu an toàn nợ công; Kế hoạch vay, trả nợ công và kế hoạch vay, trả nợ của chính quyền địa phương; Bảo đảm khả năng trả nợ công và nợ chính quyền địa phương. Đề tài tài trình bày một số rủi ro trong việc quản lý nợ chính quyền địa phương; cơ sở lý luận về kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương; mối liên hệ giữa quản lý, kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương với tính bền vững của ngân sách nhà nước tại địa phương. Bên cạnh đó đề tài tổng hợp số liệu và cơ cấu nợ công các năm 2017, 2018 và 2019 theo báo cáo của Bộ Tài chính. Chương 2. Thực trạng kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương ở Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế Đề tài khái quát thực trạng kiểm toán nợ công của Kiểm toán nhà nước (những kết quả đạt được, chỉ ra các tồn tại hạn chế và nguyên nhân của các tồn tại hạn chế. Đề tài trình bày thực trạng kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương của Kiểm toán nhà nước trong đó khái quát tình hình tổ chức thực hiện kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương của Kiểm toán nhà nước trong những năm qua; đánh giá thực trạng kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương của Kiểm toán nhà nước trong thời gian qua và chỉ ra các tồn tại, hạn chế; phân tích nguyên nhân của các tồn tại hạn chế. Bên cạnh đó, đề tài còn tổng hợp kinh nghiệm quốc tế về kiểm toán nợ của INTOSAI Chương 3. Xây dựng đề cương kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương tại Việt Nam Đề tài trình bày xu hướng quản lý nợ chính quyền địa phương ở Việt Nam trong tương lai; định hướng hoàn thiện kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương của Kiểm toán nhà nước. Đề cương kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương cần được xây dựng trên cơ sở cụ thể hóa các bước trong Hướng dẫn kiểm toán hoạt động và Hướng dẫn kiểm toán công tác quản lý nợ công. Trong đó những nội dung chính bao gồm: + Mục tiêu kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương; + Nội dung và tiêu chí kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương; + Trình tự kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương; + Xây dựng phương thức tổ chức kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương; Ngoài ra, đề tài còn đề xuất một số kiến nghị những điều kiện cần thiết để nâng cao chất lượng kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương./.

Quản lý, điều hành ngân sách địa phương - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện thông qua hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Hữu Hiểu và Ths. Đỗ Xuân Long Thư ký: Ths. Trịnh Thị Na     Thành viên chính: TS. Lê Đình Thăng                                Ths. Trương Khánh Hưng Đơn vị chủ trì: Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán  Sự cần thiết nghiên cứu đề tài Ngân sách nhà nước Việt Nam được quản lý thống nhất, gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Quản lý, điều hành ngân sách địa phương gắn với các cấp chính quyền địa phương, nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với ngân sách trung ương và ngân sách nhà nước. Công tác quản lý, điều hành ngân sách địa phương thời gian qua luôn được cải tiến và đạt nhiều kết quả tích cực góp phần lành mạnh tài chính quốc gia. Kiểm toán ngân sách nhà nước, trong đó có kiểm toán ngân sách địa phương là nhiệm vụ chủ yếu của Kiểm toán nhà nước. Thông qua hoạt động kiểm toán ngân sách địa phương, Kiểm toán nhà nước cung cấp thông tin cho Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân nơi kiểm toán và các cơ quan khác để phục vụ công tác quản lý, điều hành ngân sách địa phương. Những năm qua, Kiểm toán nhà nước đã thực hiện kiểm toán ngân sách địa phương với quy mô bao phủ tương đối rộng, qua kiểm toán đã phát hiện nhiều bất cập trong quản lý, điều hành ngân sách của các cấp chính quyền địa phương, từ đó Kiểm toán nhà nước kiến nghị hoàn thiện. Điều này đặt ra sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài. Mục tiêu nghiên cứu - Hệ thống hóa kiến thức lý luận về quản lý, điều hành ngân sách địa phương và vai trò của Kiểm toán nhà nước đối với quản lý, điều hành ngân sách địa phương. - Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động kiểm toán đánh giá công tác quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước. - Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động kiểm toán đánh giá công tác quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước. Nội dung đề tài: Ngoài phần Mở đầu, Mục lục, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài thể hiện ở 3 chương: Chương 1. Lý luận chung về quản lý, điều hành ngân sách địa phương Đề tài nêu tổng quan về quản lý, điều hành ngân sách địa phương. Trong đó đề cập đến các khái niệm, các yếu tố tác động đến quản lý, điều hành ngân sách địa phương (như hệ thống văn bản; tổ chức bộ máy; phân cấp quản lý; năng lực quản lý điều hành của chính quyền địa phương; hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra ngân sách địa phương). Đề tài khái quát vai trò của Kiểm toán nhà nước đối với công tác quản lý, điều hành ngân sách địa phương gồm 5 vai trò. Bên cạnh đó, đề tài còn nêu những nội dung chủ yếu đánh giá công tác quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước. Chương 2. Thực trạng công tác đánh giá việc quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước Đề tài khái quát một số kết quả chủ yếu trong quản lý, điều hành ngân sách địa phương được đánh giá thông qua hoạt động kiểm toán đồng thời chỉ ra hạn chế trong quản lý, điều hành ngân sách địa phương được đánh giá thông qua hoạt động kiểm toán và nguyên nhân cơ bản. Đó là việc phân cấp quản lý thu, chi ngân sách còn chưa hợp lý; công tác lập, quyết định, giao dự toán ngân sách nhà nước còn một số bất cập; quá trình chấp hành ngân sách nhà nước còn bộc lộ nhiều lỗi, sai sót ảnh hưởng đến kỷ luật tài khóa; công tác quyết toán ngân sách địa phương tại nhiều nơi còn mang tính hình thức, tính bền vững của ngân sách địa phương chưa được chú trọng. Đề tài còn phân tích nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến các bất cập nêu trên. Bên cạnh đó, đề tài trình bày chi tiết thực trạng công tác đánh giá việc quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước đồng thời chỉ ra 8 hạn chế cơ bản và phân tích nguyên nhân của các hạn chế đó. Chương 3. Giải pháp hoàn thiện công tác đánh giá việc quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước Đề tài trình bày 4 định hướng công tác đánh giá việc quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước. Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất 6 nhóm giải pháp hoàn thiện công tác đánh giá việc quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước gồm: cơ cấu nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách địa phương; Hoàn thiện việc phân cấp ngân sách địa phương; hoàn thiện công tác lập và quyết định dự toán ngân sách địa phương; hoàn thiện công tác tổ chức quản lý thu ngân sách nhà nước; hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách địa phương; hoàn thiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách địa phương; hoàn thiện công tác phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương./.

Quy trình kiểm toán quản lý và xử lý nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp

Chủ nhiệm: Ths. Đinh Văn Dũng và TS. Lê Doãn Hoài Thư ký: Ths. Nguyễn Ngọc Duyên Thành viên chính: Ths. Nguyễn Viết Hãnh                                 Ths. Vũ Đức Nam Đơn vị thực hiện: Kiểm toán nhà nước chuyên ngành III Sự cần thiết nghiên cứu đề tài Nước thải công nghiệp chứa nhiều chất ô nhiễm, xả thải ra môi trường khi chưa được xử lý gây ô nhiễm nước mặt, nước ngầm, gây ô nhiễm đất và ảnh hưởng tới sức khỏe người dân. Hầu hết các doanh nghiệp sản xuất trong ngành khai thác, công nghiệp chế biến thực phẩm, chế biến đồ uống, thuốc lá, giả da… đều sử dụng hóa chất độc hại, việc tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường còn mang tính hình thức, công tác bảo vệ môi trường chưa được quan tâm đúng mức, gây ra rò rỉ các hóa chất độc hại, xâm nhập vào môi trường gây ô nhiễm nguồn nước mà chưa có giải pháp ngăn chặn hiệu quả. Kiểm toán nhà nước đã thực hiện nhiều cuộc kiểm toán môi trường chuyên đề về hoạt động quản lý và bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp, khu kinh tế nhằm giúp Quốc hội và Chính phủ kiểm tra và giám sát công tác quản lý và bảo vệ môi trường của các cơ quan quản lý nhà nước. Tuy nhiên, kiểm toán môi trường mới xây dựng hướng dẫn/quy trình kiểm toán môi trường chung mà chưa có quy trình kiểm toán môi trường cho từng lĩnh vực cụ thể, đặc biệt là quy trình kiểm toán môi trường đối với công tác quản lý và xử lý nước thải khu công nghiệp. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Quy trình kiểm toán quản lý và xử lý nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp” là hết sức cần thiết. Mục tiêu nghiên cứu - Khái quát hóa cơ sở lý luận, hệ thống cơ cấu tổ chức, cơ chế chính sách, hành lang pháp lý liên quan đến công tác quản lý và xử lý nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp Việt Nam; - Phân tích thực trạng và hoạt động kiểm toán công tác quản lý và xử lý nước thải của Kiểm toán nhà nước và bài học kinh nghiệm của một số nước trên thế giới từ đó đưa ra cách xác định mục tiêu, nội dung và tiêu chí kiểm toán; - Xây dựng quy trình kiểm toán công tác quản lý và xử lý nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp. Nội dung nghiên cứu: Ngoài phần Mở đầu và kết luận, đề tài kết cấu thành 3 chương. Chương 1. Cơ sở lý luận về nước thải công nghiệp và kiểm toán nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp Đề tài trình bày những vấn đề cơ bản về nước thải công nghiệp, khái niệm, phân loại và cơ sở nhận biết về nước thải công nghiệp, các tác động của nước thải công nghiệp đến môi trường, đời sống kinh tế xã hội và sức khỏe của con người; công tác quản lý nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp. Bên cạnh đó, đề tài khái quát vai trò và vị thế của Kiểm toán nhà nước trong công tác bảo vệ môi trường; các khái niệm cơ bản về kiểm toán môi trường và kiểm toán nước thải công nghiệp; những chủ đề, khía cạnh cơ bản về kiểm toán môi trường và kiểm toán nước thải công nghiệp. Chương 2. Thực trạng công tác kiểm toán nước thải công nghiệp tại Việt Nam và một số nước trên thế giới Đề tài khái quát thực trạng kiểm toán liên quan đến hoạt động quản lý và xử lý nước thải ở Việt Nam, trong đó có thực trạng kiểm toán công tác quản lý và xử lý nước thải công nghiệp trên thế giới và tại Việt Nam. Đề tài đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng một số cuộc kiểm toán liên quan đến công tác quản lý và xử lý nước thải công nghiệp trên thế giới như cuộc kiểm toán nước thải khu công nghiệp của Trung Quốc, kiểm toán nước thải công nghiệp của Canada, kiểm toán nước thải công nghiệp của GAO. Trên cơ sở đó, đề tài rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Chương 3. Quy trình kiểm toán công tác quản lý và xử lý nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp. Đề tài khái quát quy trình kiểm toán, phương pháp xây dựng quy trình kiểm toán, nguyên tắc xây dựng quy trình kiểm toán. Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất quy trình kiểm toán công tác quản lý và xử lý nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp (từ khâu chuẩn bị kiểm toán; thực hiện kiểm toán; lập và gửi báo cáo kiểm toán; theo dõi, kiểm tra thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán). Bên cạnh đó, đề tài còn đề xuất các giải pháp và điều kiện thực hiện.