Thứ sáu, 11/9/2026

Điện thoại (024) 6287 3463

Đường dây nóng (024) 6287 3463

Liên hệ quảng cáo (+84)915.632.345

Thứ sáu, 11/9/2026
Share on Facebook
Copy to Clipboard

Nâng cao an toàn thông tin 4 lớp tại Kiểm toán nhà nước

Sáng 06/4, Hội đồng khoa học Kiểm toán nhà nước tổ chức họp nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở “Giải pháp nâng cao an toàn thông tin 4 lớp tại Kiểm toán nhà nước” do ThS. Trần Hoàng Minh - Cục Công nghệ thông tin làm Chủ nhiệm. ThS. Vương Nguyên Lượng, Giám đốc Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán, Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng Khoa học Kiểm toán nhà nước làm Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu.

thumbnail
Ban đề tài trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu trước Hội đồng

ThS Trần Hoàng Minh, Chủ nhiệm đề tài, cho biết định hướng Chiến lược phát triển Công nghệ thông tin của Kiểm toán nhà nước đã chỉ ra “Dữ liệu số là trung tâm và là tài sản quan trọng” và phải được phân ra nhiều mức theo yêu cầu khai thác của các nhóm đối tượng khác nhau, kéo theo các mức độ an toàn, bảo mật dữ liệu khác nhau. Vì vậy, chiến lược và các giải pháp đảm bảo an ninh, an toàn thông tin cho hệ thống công nghệ thông tin của Kiểm toán nhà nước cũng xây dựng theo hướng trọng tâm là bảo vệ dữ liệu. Đồng thời, chiến lược an ninh, an toàn thông tin cho Kiểm toán nhà nước phải đảm bảo tuân thủ quy định của Luật An toàn thông tin mạng, Luật An ninh mạng, Nghị định số 85/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 và các văn bản hướng dẫn đi kèm; đáp ứng nhu cầu thực tế, phù hợp chiến lược phát triển công nghệ thông tin của Kiểm toán nhà nước trong Chiến lược này và phù hợp với cấp độ an toàn thông tin tương ứng là cấp độ 3 và hướng đến tiệm cận cấp độ 4.

Theo đó, lớp thứ nhất trong mô hình an toàn thông tin 4 lớp là lực lượng bảo đảm an toàn thông tin tại chỗ, giữ vai trò nền tảng trong toàn bộ cấu trúc bảo vệ hệ thống; Lớp thứ hai là tổ chức, thuê dịch vụ giám sát, bảo vệ an toàn thông tin chuyên nghiệp, có chức năng hỗ trợ hoặc thay thế một phần năng lực giám sát, ứng cứu sự cố của lực lượng tại chỗ; Lớp thứ ba trong mô hình là tổ chức thuê dịch vụ của doanh nghiệp độc lập thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá an toàn thông tin mạng một cách định kỳ hoặc đột xuất; Lớp thứ tư là lớp kết nối, chia sẻ thông tin với hệ thống giám sát an toàn không gian mạng ở cấp quốc gia.

thumbnail
ThS Vương Nguyên Lượng đánh giá cao giá trị thực tiễn của Đề tài

Trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận về mô hình an toàn thông tin 4 lớp, làm rõ các khái niệm, nguyên tắc triển khai, cấu trúc và chức năng của từng lớp trong tổng thể hệ thống bảo đảm an toàn thông tin, đề tài phân tích thực trạng triển khai mô hình tại các cơ quan nhà nước và tại Kiểm toán nhà nước, qua đó chỉ ra những kết quả bước đầu đạt được, đồng thời nhận diện rõ các hạn chế, tồn tại và thách thức. Các vấn đề nổi bật được xác định bao gồm: nguồn lực tài chính chưa ổn định và mang tính dài hạn; hạ tầng kỹ thuật chưa đồng bộ; năng lực giám sát, kiểm tra và đánh giá an toàn thông tin còn hạn chế; cơ chế phối hợp trong công tác ứng cứu sự cố chưa thực sự hiệu quả.

Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả triển khai mô hình an toàn thông tin 4 lớp tại Kiểm toán nhà nước được Ban đề tài đưa ra theo hướng đồng bộ, toàn diện và bền vững. Các giải pháp bao phủ đầy đủ các nội dung trọng tâm của mô hình, bao gồm: bảo đảm và quản lý hiệu quả kinh phí cho an toàn thông tin; hoàn thiện, chuẩn hóa hạ tầng công nghệ thông tin theo yêu cầu an toàn ngay từ khâu thiết kế; phát triển nguồn nhân lực an toàn thông tin cả về số lượng, chất lượng và cơ chế giữ chân; tăng cường năng lực giám sát an toàn thông tin thông qua kết hợp giữa hệ thống nội bộ và thuê dịch vụ chuyên nghiệp; duy trì hoạt động kiểm tra, đánh giá an toàn thông tin định kỳ và đột xuất; hoàn thiện kết nối, chia sẻ thông tin với Trung tâm giám sát an toàn thông tin quốc gia; đồng thời rà soát, cập nhật hệ thống chính sách, quy định nội bộ liên quan. Trong đó, giải pháp về giám sát an toàn thông tin được xác định là trụ cột trung tâm, có vai trò quyết định trong việc phát hiện sớm, cảnh báo kịp thời và xử lý hiệu quả các sự cố an toàn thông tin.

thumbnail
ThS Trần Hoàng Minh, Cục Công nghệ thông tin, làm Chủ nhiệm đề tài

Thông qua kết quả nghiên cứu, Đề tài hướng tới mục tiêu nâng cao năng lực lực lượng tại chỗ đáp ứng yêu cầu mới thông qua đào tạo, tuyển dụng hoặc thuê chuyên gia; hoàn thành mở rộng phạm vi giám sát, bảo vệ cho 100% hệ thống thông tin thuộc phạm vi quản lý; kiểm tra, đánh giá an toàn thông tin định kỳ theo quy định cho hệ thống thông tin thuộc phạm vi quản lý; duy trì kết nối ổn định, chia sẻ đầy đủ dữ liệu giám sát theo thời gian thực về Hệ thống giám sát quốc gia để được hỗ trợ giám sát, phân tích, cảnh báo sớm các nguy cơ về an toàn thông tin mạng và tấn công mạng.

Đánh giá về kết quả nghiên cứu, Hội đồng nghiệm thu cho rằng Nhóm nghiên cứu đã tiếp cận theo hướng quản trị an toàn thông tin hiện đại, gắn giữa yếu tố công nghệ, con người, quy trình và cơ chế phối hợp liên ngành. Nội dung nghiên cứu có tính cập nhật, phù hợp với xu hướng chuyển đổi số và yêu cầu bảo vệ hệ thống thông tin trong cơ quan nhà nước hiện nay.

Đề tài đã khảo sát, đánh giá khá sát thực trạng triển khai mô hình an toàn thông tin 4 lớp tại Kiểm toán nhà nước; nhận diện được các tồn tại, hạn chế và nguyên nhân. Các nội dung về thiếu hụt nhân lực, phạm vi giám sát chưa đầy đủ, hạn chế trong kiểm tra đánh giá và kết nối giám sát quốc gia được phân tích tương đối rõ. Đưa ra các giải pháp, lộ trình và bản kiến nghị ứng dụng kết quả nghiên cứu có thể chuyển hóa thành chương trình, kế hoạch hành động cụ thể, góp phần nâng cao năng lực phòng ngừa, phát hiện và ứng cứu sự cố, bảo vệ dữ liệu kiểm toán trong chuyển đổi số. Các đánh giá thực tiễn có tính khả thi và bám sát điều kiện triển khai thực tế của Kiểm toán nhà nước.

Để hoàn thiện, tăng tính khả thi khi áp dụng trong thực tiễn, Hội đồng nghiệm thu khuyến nghị Ban Đề tài bổ sung bảng chỉ tiêu đo lường cụ thể cho từng lớp trong mô hình an toán thông tin 4 lớp tại Kiểm toán nhà nước; làm rõ hơn phương án tài chính - kinh tế cho các giải pháp công nghệ ưu tiên, phân tầng theo lộ trình ngắn - trung - dài hạn đã nêu, kèm ví dụ minh họa triển khai tại Trung tâm dữ liệu hoặc hệ thống nghiệp vụ trọng yếu của Kiểm toán nhà nước; bổ sung thêm số liệu thống kê, dẫn chứng thực tiễn và các minh chứng cụ thể liên quan đến tình hình triển khai mô hình 4 lớp tại Kiểm toán nhà nước để tăng tính thuyết phục.

Đánh giá cao giá trị thực tiễn của đề tài trong bối cảnh toàn Ngành đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, kết nối, liên thông dữ liệu quốc gia và tăng cường an ninh mạng, an toàn thông tin, ThS Vương Nguyên Lượng - Chủ tịch Hội đồng đề nghị Ban Đề tài tiếp thu tối đa các ý kiến của Hội đồng nghiệm thu. Đề tài cần được kết cấu cân đối giữa các chương mục, làm rõ hơn các khái niệm nghiên cứu, tăng lượng hoá, phân tích sâu hơn dựa trên các mô hình, dẫn chứng; minh chứng sát vào thực tiễn của Kiểm toán nhà nước, có thể nghiên cứu về các giải pháp tình huống phát sinh trong tương lai.

Hội đồng nghiệm thu đánh giá Đề tài xếp loại Khá./.

Lượt xem: 18

Vai trò của Kiểm toán nhà nước trong việc thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia về thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững

Là quốc gia đang phát triển có đường bờ biển dài, nhiều vùng đồng bằng thấp và mức độ phụ thuộc tương đối lớn vào tài nguyên thiên nhiên, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu. Các hiện tượng như nước biển dâng, xâm nhập mặn, hạn hán kéo dài, mưa lũ bất thường và sạt lở đất ngày càng gia tăng cả về tần suất lẫn cường độ, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của người dân, hệ sinh thái tự nhiên và quá trình phát triển kinh tế - xã hội. GS.TS Đoàn Xuân Tiên, Phó Chủ tịch Hội đồng khoa học Kiểm toán nhà nước làm Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu Trong bối cảnh đó, biến đổi khí hậu không chỉ là thách thức về môi trường mà còn trở thành vấn đề phát triển có tính liên ngành, tác động sâu rộng đến tăng trưởng, an sinh xã hội và mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia. Trước yêu cầu đó, Việt Nam đã chủ động tham gia và từng bước thực hiện nhiều cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Song song với việc tham gia các cam kết quốc tế, Việt Nam đã tích cực nội địa hóa các định hướng toàn cầu thông qua việc ban hành nhiều chính sách, chiến lược và chương trình hành động cấp quốc gia về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Các văn bản này đã tạo nền tảng quan trọng cho việc triển khai các cam kết trong thực tiễn. Trên thực tế, Việt Nam đã đạt được một số kết quả tích cực trong thực hiện Chương trình Nghị sự 2030, nhất là ở các lĩnh vực như giảm nghèo, giáo dục, y tế và bình đẳng giới. Tuy nhiên, quá trình thực hiện các mục tiêu gắn với môi trường, khí hậu và quản lý tài nguyên vẫn còn nhiều khó khăn. Tình trạng ô nhiễm môi trường, suy giảm hệ sinh thái, khai thác tài nguyên thiếu bền vững, cùng với những hạn chế trong phối hợp liên ngành, bố trí nguồn lực và giám sát thực hiện, đang làm giảm hiệu quả của nhiều chính sách, chương trình và dự án. Trên thế giới, nhiều Cơ quan Kiểm toán tối cao (SAI) đã từng bước khẳng định vai trò ngày càng rõ nét trong việc kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện các cam kết về khí hậu và phát triển bền vững. Phạm vi hoạt động của các SAI không còn chỉ giới hạn ở kiểm toán chi tiêu công, mà đã được mở rộng sang đánh giá hiệu quả các chính sách về giảm phát thải, chuyển đổi năng lượng, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs). Trong xu thế chung đó, Kiểm toán nhà nước Việt Nam cũng đã từng bước triển khai một số cuộc kiểm toán chuyên đề có liên quan, đồng thời tích cực thúc đẩy hợp tác quốc tế, tham gia các hoạt động của INTOSAI, ASOSAI và các cơ chế hợp tác khu vực trong lĩnh vực kiểm toán môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy hoạt động kiểm toán trong lĩnh vực này ở Việt Nam vẫn còn không ít hạn chế. Đặc biệt, còn thiếu các tiêu chí và công cụ phù hợp để đo lường, đánh giá mức độ thực hiện cam kết; việc phối hợp, chia sẻ thông tin giữa Kiểm toán nhà nước với các cơ quan chuyên trách về môi trường, tài chính khí hậu và phát triển bền vững chưa thật sự chặt chẽ; nhận thức về vai trò của kiểm toán trong thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia trong lĩnh vực này cũng chưa đầy đủ và toàn diện. ThS. Nguyễn Thị Kiều Thu, Kiểm toán nhà nước chuyên ngành III, thay mặt Ban đề tài báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu Đề tài “Vai trò của Kiểm toán nhà nước trong việc thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia về thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững” do ThS. Nguyễn Thị Kiều Thu - Kiểm toán nhà nước chuyên ngành III làm chủ nhiệm, trên cơ sở đó được tiến hành nghiên cứu góp phần làm rõ vị trí, vai trò, nội dung và phương thức phát huy chức năng của Kiểm toán nhà nước trong việc thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững trong điều kiện Việt Nam. Về phương diện thực tiễn, đề tài không chỉ đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế, phương thức và nội dung kiểm toán trong lĩnh vực này, mà còn xây dựng Bảng lộ trình triển khai kiểm toán biến đổi khí hậu và phát triển bền vững và Bảng khung tiêu chí kiểm toán lĩnh vực biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Đây là những kết quả có giá trị tham khảo trực tiếp cho việc tổ chức hoạt động kiểm toán, lựa chọn trọng tâm kiểm toán, xác định nội dung đánh giá và xem xét trách nhiệm thực hiện cam kết của các cơ quan, đơn vị liên quan, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường trách nhiệm giải trình, minh bạch trong quản lý nhà nước về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững ở Việt Nam. Tập trung nghiên cứu giai đoạn 2021-2025, là giai đoạn gắn với việc Việt Nam đẩy mạnh thực hiện các cam kết quốc tế sau COP26, đồng thời triển khai các định hướng, kế hoạch quan trọng như Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021-2030 theo Quyết định số 1422/QĐ-TTg và Lộ trình thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững theo Quyết định số 841/QĐ-TTg, đề tài nghiên cứu tập trung phân tích thực tiễn các cuộc kiểm toán và các quyết định giao nhiệm vụ kiểm toán có liên quan. Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn của Đề tài Kết quả nghiên cứu cho thấy, Kiểm toán nhà nước không chỉ thực hiện chức năng kiểm toán đối với việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công, mà còn góp phần nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực hiện chính sách thông qua các kết luận, kiến nghị kiểm toán. Trong điều kiện quản trị rủi ro khí hậu đòi hỏi sự phối hợp liên ngành, liên cấp và dựa trên bằng chứng, kiểm toán môi trường và kiểm toán hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá mức độ gắn kết giữa mục tiêu chính sách, tổ chức thực hiện và kết quả đạt được trên thực tế. Qua phân tích thực trạng cho thấy Việt Nam đã đạt được một số kết quả tích cực trong việc nội địa hóa các cam kết quốc gia về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững thông qua hệ thống chiến lược, quy hoạch và chương trình hành động tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, việc triển khai các cam kết này vẫn đối mặt với nhiều hạn chế như phân tán nguồn lực, thiếu đồng bộ dữ liệu, khó khăn trong lượng hóa kết quả, cũng như khoảng cách giữa mục tiêu đề ra và hiệu quả thực thi tại nhiều bộ, ngành và địa phương. Trong bối cảnh đó, hoạt động của Kiểm toán nhà nước liên quan đến môi trường, biến đổi khí hậu và phát triển bền vững đã bước đầu được mở rộng về phạm vi và nội dung, song mức độ lồng ghép các tiêu chí khí hậu và phát triển bền vững vào kiểm toán vẫn chưa thực sự hệ thống; các nội dung như tài chính khí hậu, giảm phát thải, thích ứng dựa vào hệ sinh thái, hay kiểm toán việc thực hiện các mục tiêu SDGs mới chỉ được tiếp cận ở mức độ ban đầu. Kết quả khảo sát các bên liên quan và phân tích mô hình nghiên cứu khẳng định vai trò của Kiểm toán nhà nước có mối liên hệ tích cực và có ý nghĩa thống kê với việc nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và mức độ thực hiện kiến nghị kiểm toán của các đơn vị được kiểm toán. Trên cơ sở đó, có thể nhận thấy hoạt động kiểm toán có khả năng góp phần hỗ trợ việc thực hiện các cam kết quốc gia về thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững, thông qua việc cung cấp thông tin, bằng chứng và kiến nghị phục vụ hoàn thiện quản lý, điều hành và sử dụng nguồn lực công. Kết quả này cũng cho thấy khi hoạt động kiểm toán được thiết kế phù hợp, có tiêu chí đánh giá rõ ràng và gắn với mục tiêu chính sách dài hạn, Kiểm toán nhà nước có thể phát huy tốt hơn vai trò của mình trong việc xem xét tiến độ thực hiện, phát hiện những hạn chế, bất cập trong cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện, qua đó hỗ trợ các cơ quan có thẩm quyền trong việc điều chỉnh phân bổ và sử dụng nguồn lực công cho ứng phó với biến đổi khí hậu. Đề tài được Hội đồng nghiệm thu xếp loại xuất sắc Từ các phân tích lý luận và thực tiễn, đề tài cho rằng việc nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước trong thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững không chỉ là yêu cầu đặt ra từ sự phát triển của hoạt động kiểm toán, mà còn phù hợp với đòi hỏi nâng cao chất lượng quản lý nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Trong điều kiện Việt Nam đang thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, phát thải thấp và thích ứng với khí hậu, Kiểm toán nhà nước cần tiếp tục phát huy vai trò của mình trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định, thông qua kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công và đưa ra các kết luận, kiến nghị kiểm toán có giá trị. Qua đó, Kiểm toán nhà nước góp phần tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực hiện các chương trình, dự án, chính sách công có liên quan đến các cam kết quốc gia về môi trường, khí hậu và phát triển bền vững. Đánh giá về Đề tài, Hội đồng nghiệm thu khẳng định đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao, nội dung công phu, cập nhật bối cảnh quốc tế và trong nước, bước đầu làm rõ vai trò của Kiểm toán nhà nước trong thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia về thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Đề tài cũng đã làm rõ mối quan hệ giữa biến đổi khí hậu, phát triển bền vững, cam kết quốc gia và yêu cầu giám sát độc lập; phân biệt các phạm vi kiểm toán có liên quan và khẳng định việc triển khai thông qua các loại hình kiểm toán hiện hành, không hình thành một loại hình kiểm toán mới ngoài quy định. Đề tài cũng đã nhận diện tương đối phù hợp các nhóm hạn chế về cơ sở pháp lý và tiêu chí, phương pháp tiếp cận, dữ liệu và bằng chứng, nhân lực chuyên sâu, phối hợp và chia sẻ thông tin, qua đó tạo căn cứ cho các giải pháp được đề xuất. Về giải pháp và khả năng ứng dụng, đề tài đã xây dựng năm nhóm giải pháp tương đối toàn diện, lộ trình ba giai đoạn, khung tiêu chí, tiêu chí lựa chọn chủ đề, danh mục dữ liệu và chương trình đào tạo có giá trị định hướng. Tuy nhiên, các nội dung này hiện phù hợp ở mức khung đề xuất và cần được lựa chọn thí điểm, đánh giá, chuẩn hóa trước khi sử dụng như hướng dẫn nghiệp vụ chính thức. Để hoàn thiện đề tài, Ban chủ nhiệm cần nhấn mạnh trọng tâm, tăng chiều sâu phân tích tác động và ưu tiên các giải pháp để nâng cao tính cô đọng, khả thi và giá trị ứng dụng của kết quả nghiên cứu. Ngoài ra, cần làm rõ phạm vi và trọng tâm nghiên cứu, cơ sở lý luận và chiếu sâu phân tích thực trạng, nghiên cứu định lượng và tính thống nhất của số liệu; hệ thống giải pháp, lộ trình và thẩm quyền kiến nghị. Đề tài cần hoàn thiện khung tiêu chí kiểm toán, làm tõ tính mới và khả năng ứng dụng, tiếp tục chuẩn hóa khung tiêu chí kiểm toán, phân biệt rõ tiêu chí hoặc chuẩn so sánh với câu hỏi kiểm toán, chỉ số đo lường, nguồn bằng chứng và thủ tục kiểm toán. Khung tiêu chí hiện có nên được xác định là danh mục định hướng cần tiếp tục thí điểm và hoàn thiện, chưa phải hướng dẫn nghiệp vụ có thể áp dụng trực tiếp cho mọi cuộc kiểm toán. Phát biểu kết luận tại buổi nghiệm thu, GS.TS Đoàn Xuân Tiên, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu cho rằng Đề tài cần ưu tiên giải pháp theo mức độ khả thi và thứ tự thực hiện; làm rõ giải pháp nào thuộc thẩm quyền Kiểm toán nhà nước, giải pháp nào cần kiến nghị Quốc hội, Chính phủ; cần rút gọn các phần liệt kê thông tin. Đề tài đã kết hợp phân tích thực tiễn với mô hình định lượng, tuy nhiên cần nhấn mạnh rõ hơn giá trị mới so với các đề tài kiểm toán môi trường trước đây của Kiểm toán nhà nước, đóng góp cụ thể của đề tài đối với việc xây dựng lộ trình kiểm toán biến đổi khí hậu đến 2030. Đề tài được Hội đồng nghiệm thu xếp loại xuất sắc.

Khai giảng Khóa bồi dưỡng “Nâng cao năng lực quản trị tài chính công, tài sản công cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp” tại thành phố Đà Nẵng

Được sự đồng ý của lãnh đạo Kiểm toán nhà nước và lãnh đạo Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng, nhằm nâng cao năng lực quản trị tài chính công, tài sản công cho cán bộ, công chức cấp xã, phường trong thực thi nhiệm theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, sáng ngày 4/9/2026 tại Trường Chính trị Thành phố Đà Nẵng, Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán phối hợp với Sở Nội vụ Thành phố Đà Nẵng tổ chức Khóa bồi dưỡng “Nâng cao năng lực quản trị tài chính công, tài sản công cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp”. Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Bùi Quốc Dũng phát biểu khai giảng Khóa bồi dưỡng Tới dự khai giảng Khóa bồi dưỡng, về phía Kiểm toán nhà nước, có ông Bùi Quốc Dũng, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước, ông Vũ Văn Họa - Nguyên Phó Tổng Kiểm toán nhà nước, đại diện lãnh đạo Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán, đại diện lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Kiểm toán nhà nước. Về phía thành phố Đà Nẵng có ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng, đại diện lãnh đạo các cơ quan của Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các sở, ban, ngành của Thành phố. Tham dự Khóa học, 287 học viên là cán bộ, công chức cấp xã, phường thuộc các nhóm vị trí việc làm liên quan trực tiếp đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tham mưu và tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý tài chính, ngân sách, đầu tư và tài sản công sẽ được các giảng viên giàu kinh nghiệm đến từ Kiểm toán nhà nước, Bộ Tài chính, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh truyền đạt 5 chuyên đề, gồm: Thể chế, phân cấp và trách nhiệm quản lý ngân sách cấp xã, phường; Lập dự toán và phân bổ ngân sách cấp xã, phường; Điều hành ngân sách và quản lý tài sản công; Xử lý ngân sách cuối năm và quyết toán ngân sách; Quản lý nguồn cải cách tiền lương, quỹ lương và biên chế. Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng phát biểu tại Khóa bồi dưỡng Phát biểu khai giảng Khóa học, Phó tổng Kiểm toán nhà nước Bùi Quốc Dũng cho biết, thời gian qua, trong quá trình kiểm toán tại các địa phương, đặc biệt trong bối cảnh triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, Kiểm toán nhà nước nhận thấy đội ngũ cán bộ ở cấp xã đang phải đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ mới, thẩm quyền mới, trách nhiệm mới. Có những công việc trước đây thuộc cấp trung gian, nay được phân cấp trực tiếp về xã, phường. Trong khi đó, các quy định về ngân sách, tài sản công, mua sắm, đấu thầu, quyết toán, công khai tài chính… vừa nhiều, vừa có tính chuyên môn cao, lại đang trong quá trình tiếp tục hoàn thiện để phù hợp với mô hình tổ chức mới. Vì vậy, việc cán bộ cơ sở còn có những bỡ ngỡ, lúng túng, có những vấn đề chưa thống nhất trong cách hiểu và cách thực hiện. Thông qua kết quả kiểm toán cho thấy, nhiều sai sót không xuất phát từ động cơ cố ý mà do chưa nắm chắc thẩm quyền; chưa cập nhật đầy đủ quy định mới; chưa phân biệt rõ trách nhiệm giữa các chủ thể; hoặc chưa nhận diện được rủi ro ngay từ khâu đầu của quy trình. Những vấn đề như vậy nếu được phát hiện ngay trong quá trình thực hiện thì việc khắc phục thường đơn giản hơn rất nhiều. Từ thực tiễn đó, Kiểm toán nhà nước không chỉ dừng ở việc kết luận đơn vị đã làm đúng hay chưa đúng, mà còn cùng đồng hành thông qua việc chia sẻ từ thực tiễn kiểm toán để giúp các cơ quan, đơn vị nhận diện được những điểm dễ sai, những khâu có rủi ro cao và những vấn đề cần kiểm soát trước khi ra quyết định. “Do vậy, chúng ta cần chuyển dần từ tư duy “phát hiện sai sót sau khi đã xảy ra” sang việc góp phần giúp đơn vị “phòng ngừa sai sót ngay từ đầu”. Qua Khóa bồi dưỡng này, tôi hy vọng các đồng chí chính là những người đang đứng ở tuyến đầu của bộ máy chính quyền địa phương hai cấp, mọi thay đổi về cơ cấu tổ chức, phân cấp và phân quyền cuối cùng đều đi qua những công việc rất cụ thể. Vì vậy, tôi mong rằng trong khóa bồi dưỡng này, các đồng chỉ không chỉ dừng ở mang theo giáo trình mà mang chính công việc của mình vào lớp học, tích cực trao đổi với các đồng chí giảng viên để làm rõ những bất cập đang gặp từ thực tiễn triển khai công việc. Đặc biệt, sau khóa học, mỗi đồng chí khi trở về đơn vị sẽ có thêm những công cụ để tự kiểm soát công việc của mình tốt hơn.” - Phó Tổng Kiểm toán nhà nước đề nghị. Tham dự Khóa học có 287 học viên đến từ các đơn vị cấp xã, phường của Thành phố Đà Nẵng Phát biểu tại lễ khai giảng, ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng cho biết, việc tổ chức và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp là một chủ trương lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiến trình xây dựng nền hành chính hiện đại, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, gần dân, sát dân và phục vụ Nhân dân tốt hơn. Đối với thành phố Đà Nẵng, năm 2026 được xác định là “Năm phát huy hiệu quả mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, các cơ chế, chính sách đặc thù, đẩy mạnh thu hút đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội”. “Trong mô hình mới, cấp xã được giao thêm nhiều nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm và ngày càng phải chủ động quyết định, tổ chức thực hiện, kiểm soát nguồn lực và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện. Yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã vì thế cũng cao hơn, toàn diện hơn. Do vậy, yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là “quản lý tài chính, tài sản công đúng quy định”, mà cao hơn là phải quản trị tài chính, tài sản công một cách chủ động, minh bạch, hiệu quả, tiết kiệm và hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Đội ngũ cán bộ, công chức phải có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực tiễn ngày càng cao. Khóa bồi dưỡng này với sự đồng hành của Kiểm toán nhà nước, trực tiếp là Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán là một cơ hội quý báu để các đồng chí cán bộ, công chức xã, phường trên địa bàn thành phố được trao đổi, tiếp cận kinh nghiệm thực tiễn từ hoạt động kiểm toán; qua đó nâng cao năng lực tham mưu, tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao.” Các đồng chí lãnh đạo, đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại buổi khai giảng Khóa bồi dưỡng Để lớp học đạt được kết quả tốt theo mục tiêu đề ra, đồng chí Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố đề nghị các đồng chí học viên tập trung tham gia Khóa bồi dưỡng đầy đủ, nghiêm túc. Sau Khóa bồi dưỡng, đề nghị các cơ quan, đơn vị, địa phương cần rà soát ngay những vấn đề đang tồn tại tại đơn vị mình; chủ động áp dụng các nội dung đã được trao đổi; kịp thời báo cáo những khó khăn, vướng mắc để thành phố nghiên cứu, hướng dẫn và xử lý theo thẩm quyền. Khóa bồi dưỡng diễn ra từ ngày 4/9/2026 - 7/9/2026.

Hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước

Sáng 12/8/2026, Hội đồng khoa học Kiểm toán nhà nước đã tổ chức nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước” do ThS. Đào Trọng Khánh (Kiểm toán nhà nước khu vực VIII) làm đồng chủ nhiệm. Hội đồng nghiệm thu do TS. Bùi Quốc Dũng, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Kiểm toán nhà nước làm Chủ tịch. TS Bùi Quốc Dũng, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu, đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn của đề tài Hoạt động kiểm toán môi trường ngày càng được các Cơ quan Kiểm toán tối cao sử dụng như một công cụ hữu hiệu nhằm đánh giá hiệu quả quản lý, sử dụng tài nguyên, kiểm soát ô nhiễm và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững. Nhận thức được vai trò ngày càng quan trọng của kiểm toán môi trường, thời gian qua, Kiểm toán nhà nước đã từng bước mở rộng phạm vi và nội dung kiểm toán. Giai đoạn 2018-2023, Kiểm toán nhà nước đã thực hiện hơn 40 cuộc kiểm toán có nội dung liên quan đến môi trường. Riêng năm 2024, Kiểm toán nhà nước đã triển khai nhiều cuộc kiểm toán chuyên đề như: quản lý, bảo vệ nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt; quản lý môi trường tại các khu kinh tế, khu công nghiệp; quản lý, sử dụng kinh phí bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu tại các bộ, ngành và địa phương. Thông qua hoạt động kiểm toán, Kiểm toán nhà nước đã phát hiện nhiều tồn tại, bất cập trong công tác quản lý môi trường, kiến nghị hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công dành cho bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, đại diện Ban đề tài - ThS Đào Trọng Khánh cho biết, mặc dù Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã quy định Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán trong lĩnh vực môi trường, nhưng Luật Kiểm toán nhà nước hiện hành chưa có quy định cụ thể về đối tượng, nội dung và phạm vi kiểm toán môi trường. Một số hoạt động có tác động trực tiếp đến môi trường của doanh nghiệp ngoài khu vực công chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng để đưa vào kế hoạch kiểm toán. Bên cạnh đó, hệ thống dữ liệu môi trường phục vụ kiểm toán còn phân tán, việc chia sẻ thông tin giữa các cơ quan quản lý và Kiểm toán nhà nước chưa thực sự đồng bộ. Ngoài ra, các quy định về kiểm toán môi trường trong khu vực doanh nghiệp, tiêu chuẩn chuyên môn và hướng dẫn kỹ thuật phục vụ hoạt động kiểm toán môi trường vẫn chưa được hoàn thiện. Trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện các cam kết quốc tế về phát triển bền vững, ứng phó biến đổi khí hậu và mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, yêu cầu đối với hoạt động kiểm toán môi trường ngày càng cao, đòi hỏi phải mở rộng phạm vi đánh giá đối với các vấn đề môi trường liên ngành, liên vùng và các mục tiêu phát triển bền vững. Nhóm nghiên cứu cho rằng, bên cạnh việc tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động kiểm toán môi trường, việc nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước trong giám sát, đánh giá hiệu quả chính sách môi trường, quản lý tài nguyên, sử dụng nguồn lực công cho bảo vệ môi trường và thực hiện các cam kết quốc tế là yêu cầu cấp thiết. Điều này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng quản trị môi trường quốc gia mà còn khẳng định vị thế của Kiểm toán nhà nước trong việc hỗ trợ Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện mục tiêu phát triển bền vững. Đề tài “Hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước” được thực hiện nhằm đề xuất định hướng, giải pháp hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường, đồng thời nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước trong giám sát việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công và nguồn lực công gắn với bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. ThS Đào Trọng Khánh đại diện Ban đề tài trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, đề tài đã hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề lý luận chung về môi trường, kiểm toán môi trường, cơ sở pháp lý kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước. Theo đó, kiểm toán môi trường được xác định là một lĩnh vực kiểm toán chuyên biệt, được thực hiện thông qua kiểm toán tài chính, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động. Đề tài đã phân tích, đánh giá thực trạng cơ sở pháp lý và thực tiễn triển khai kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước. Kết quả nghiên cứu cho thấy cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường ở Việt Nam đã từng bước được hình thành, nhất là khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 ghi nhận vai trò của Kiểm toán nhà nước trong lĩnh vực môi trường; đồng thời Kiểm toán nhà nước đã ban hành, cập nhật chuẩn mực, quy trình, hướng dẫn nghiệp vụ và triển khai nhiều cuộc kiểm toán có nội dung liên quan đến môi trường. Bên cạnh kết quả đạt được, đề tài cũng chỉ ra một số hạn chế, bất cập chủ yếu như: Luật Kiểm toán nhà nước chưa quy định cụ thể về đối tượng, phạm vi, nội dung, phương thức và tiêu chí kiểm toán môi trường; cơ chế tiếp cận, chia sẻ dữ liệu môi trường còn thiếu đồng bộ; thẩm quyền kiểm tra, đối chiếu đối với các chủ thể ngoài khu vực công có tác động đến môi trường còn chưa rõ; nguồn nhân lực chuyên sâu, hướng dẫn kỹ thuật và ứng dụng công nghệ còn hạn chế. Trên cơ sở đó, đề tài đã khẳng định vai trò của Kiểm toán nhà nước là công cụ giám sát độc lập, góp phần tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình, đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực công cho bảo vệ môi trường và hỗ trợ hoàn thiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường, tăng trưởng xanh, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Nhóm nghiên cứu cũng đã đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước, tập trung vào hoàn thiện Luật Kiểm toán nhà nước và pháp luật có liên quan; làm rõ phạm vi, đối tượng, thẩm quyền, quyền tiếp cận dữ liệu và trách nhiệm phối hợp; cập nhật hướng dẫn kiểm toán môi trường theo các chủ đề mới như khí nhà kính, thị trường các-bon, EPR, kinh tế tuần hoàn, tài chính xanh; đồng thời phát triển nguồn nhân lực, tăng cường sử dụng chuyên gia, ứng dụng công nghệ số và nâng cao hiệu lực thực hiện kiến nghị kiểm toán. Có thể khẳng định, việc hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường là yêu cầu cần thiết trong bối cảnh Việt Nam thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, tăng trưởng xanh và cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Việc hoàn thiện này không nhằm mở rộng Kiểm toán nhà nước thành cơ quan quản lý hay thanh tra môi trường, mà nhằm tạo hành lang pháp lý rõ ràng để Kiểm toán nhà nước thực hiện tốt chức năng kiểm toán độc lập trong lĩnh vực môi trường. Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật về kiểm toán môi trường ở Việt Nam, đồng thời đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng, hiệu lực và hiệu quả hoạt động kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước trong thời gian tới. Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn mà đề tài mang lại Nhận xét về kết quả nghiên cứu của đề tài, Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn mà đề tài mang lại. Đề tài đã nhận diện trúng các “nút thắt” pháp lý hiện nay cũng như thẳng thắn chỉ ra các khoảng trống pháp lý mang tính cốt lõi. Đặc biệt, Đề tài đã đưa ra được bộ 8 tiêu chí (trên giác độ tiếp cận là công cụ quản lý, kiểm soát môi trường) để phân tích, so sánh, phân biệt kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước với thanh tra môi trường, đánh giá tác động môi trường, quan trắc môi trường, kiểm toán nội bộ ISO14001. Đề tài nghiên cứu phản ánh thực tiễn pháp lý về kiểm toán môi trường hiện nay cũng như thực tiễn hoạt động kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước, giữa thực tiễn tác động công tác quản lý, bảo vệ môi trường từ hoạt động kiểm toán môi trường, đối sánh với vai trò kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước cần phải khẳng định; nêu được các nhân tố tác động đến kiểm toán môi trường ở Việt Nam; xây dựng ma trận so sánh một số tiêu chí để rút ra giá trị tham khảo kinh nghiệm quốc tế cho Kiểm toán nhà nước Việt Nam… Việc bổ sung bảng phân biệt kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước với thanh tra môi trường, đánh giá tác động môi trường, quan trắc môi trường và kiểm toán nội bộ theo ISO 14001 đã góp phần khắc phục tình trạng đồng nhất giữa các công cụ quản lý môi trường được phản biện kín chỉ ra. Đề tài đã đón đầu xu hướng công nghệ khi đưa các quy trình ứng dụng GIS, dữ liệu viễn thám, dữ liệu lớn (Big Data) và Trí tuệ nhân tạo (AI) vào việc thu thập bằng chứng kiểm toán xanh. Những đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường, đồng thời nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước có giá trị thực tiễn, với những nguyên tắc, giải pháp và lộ trình tương đối rõ ràng; có giá trị tham khảo thiết thực đối với định hướng phát triển kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước trong thời gian tới. Toàn cảnh buổi nghiệm thu Nhằm hoàn thiện đề tài, Hội đồng đề nghị Ban đề tài rà soát, biên tập lại một số nội dung kết cấu các mục; rà soát lại các kinh nghiệm quốc tế để gắn với nội dung nghiên cứu của đề tài. Ban đề tài nên tập trung vào các bất cập hiện tại của hoạt động kiểm toán môi trường và định hướng phát triển của Kiểm toán môi trường để đưa ra các giải pháp. Đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn cũng như công tác tổ chức nghiên cứu đề tài, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu - Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Bùi Quốc Dũng đề nghị Ban Đề tài khi tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý và xây dựng Chiến lược kiểm toán môi trường giai đoạn 5-10 năm tới, cần có cách tiếp cận toàn diện, phân định rõ giữa giải quyết bất cập hiện tại và định hướng tương lai. Theo đó, bên cạnh việc nhận diện, tháo gỡ những vướng mắc từ thực tiễn môi trường để kiến nghị hoàn thiện pháp luật, cần dự báo sớm những xu hướng mới của môi trường trên thế giới, nhất là các vấn đề về Net Zero, phát triển bền vững, các công cụ kinh tế môi trường. Chủ tịch Hội đồng cũng lưu ý yêu cầu mở rộng phạm vi, đối tượng và phương thức tiếp cận dữ liệu phục vụ môi trường, hướng tới cơ chế khai thác dữ liệu thường xuyên, liên tục, kết nối trực tiếp, thay vì chủ yếu tiếp cận theo từng cuộc kiểm toán.  Đề tài được Hội đồng nghiệm thu xếp loại Xuất sắc./.

Tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong thực hiện nhiệm vụ hằng ngày

Chiều 21/7, Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán (Trường) đã tổ chức Hội nghị tuyên truyền, phổ biến Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 (Luật số 110/2025/QH15 của Quốc hộ) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (Luật số 132/2025/QH15 của Quốc hội). Tham dự Hội nghị có Giám đốc Trường Đặng Thế Bình; các Phó Giám đốc: Hà Minh Tuấn, Nguyễn Huy Hoàng; cùng toàn thể viên chức, người lao động thuộc Trường. Giám đốc Trường Đặng Thế Bình chủ trì Hội nghị Phát biểu khai mạc Hội nghị, Ông Đặng Thế Bình, Giám đốc Trường nhấn mạnh, đối với Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán, việc quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật không chỉ là yêu cầu bắt buộc mà còn là trách nhiệm của mỗi đảng viên, viên chức và người lao động. “Mỗi cá nhân cần nhận thức đầy đủ rằng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và phòng, chống tham nhũng không chỉ là nhiệm vụ của người đứng đầu hay của một đơn vị chuyên trách mà phải trở thành ý thức tự giác trong thực hiện nhiệm vụ hằng ngày”. Tại Hội nghị, TS. Nguyễn Hữu Hiểu, Trưởng khoa Cơ sở đã phổ biến các quy định của Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025. Trong đó, làm rõ khái niệm tiết kiệm, chống lãng phí theo quy định hiện hành; các hành vi gây lãng phí; nguyên tắc tiết kiệm, chống lãng phí và trách nhiệm của công chức, viên chức và người lao động. Từ đó, xây dựng chương trình và lan toả văn hoá tiết kiệm, chống lãng phí gắn chặt với hoạt động của Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán. TS. Nguyễn Hữu Hiểu, Trưởng khoa Cơ sở phổ biến Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 Đối với Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng, Trưởng khoa Chuyên ngành Hoàng Thế Linh đã làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý và bối cảnh thực tiễn dấn đến việc ban hành Luật; các nội dung được sửa đổi, bổ sung trong Luật Tại Hội nghị, các đảng viên, viên chức, người lao động đã trao đổi, thảo luận về xây dựng chương trình, kế hoạch tiết kiệm, chống lãng phí, trong đó có việc lồng ghép vào nội quy, quy chế làm việc của Trường; tổ chức các hoạt động phong trào và lồng ghép nội dung giáo dục tiết kiệm, chống lãng phí trong hoạt động thường niên; trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu và từng cá nhân. Trưởng khoa Chuyên ngành Hoàng Thế Linh chia sẻ một số quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng Đánh giá cao các nội dung báo cáo viên đã truyền đạt, đặc biệt là những điểm mới của các Luật, phân tích, làm rõ nhiều vấn đề gắn với thực tiễn công tác quản lý nhà nước, quản lý tài chính công, tài sản công và công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Giám đốc Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán Đặng Thế Bình đề nghị, ngay sau Hội nghị, toàn thể viên chức, người lao động tiếp tục thực hiện tốt các quy định của pháp luật và tập trung vào một số nhiệm vụ trọng tâm: Thứ nhất, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong toàn Trường, bảo đảm mỗi viên chức, người lao động đều nắm được những quy định cơ bản, những yêu cầu cần thực hiện trong công việc hằng ngày. Thứ hai, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính; nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu và trách nhiệm của từng cá nhân trong quản lý, sử dụng nguồn kinh phí, tài sản, trang thiết bị được giao. Thứ ba, thực hiện công khai, minh bạch trong các hoạt động của Trường; chú trọng công tác kiểm tra, giám sát nội bộ nhằm phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật, góp phần xây dựng tập thể đoàn kết, trách nhiệm và liêm chính. Thứ tư, mỗi viên chức, người lao động cần phát huy tinh thần gương mẫu, tự giác thực hành tiết kiệm từ những việc nhỏ nhất; sử dụng hiệu quả điện, nước, văn phòng phẩm, thiết bị làm việc; bảo vệ tài sản chung; đồng thời tích cực tham gia xây dựng môi trường làm việc kỷ cương, lành mạnh, minh bạch. Giám đốc Đặng Thế Bình tin tưởng rằng, “với những kiến thức đã được tiếp thu, cùng tinh thần trách nhiệm và quyết tâm của toàn thể viên chức, người lao động thuộc Trường, các quy định của pháp luật sẽ được triển khai thực hiện nghiêm túc, thống nhất và hiệu quả, góp phần xây dựng Trường ngày càng phát triển, hoạt động chuyên nghiệp, minh bạch và đáp ứng yêu cầu đổi mới trong giai đoạn hiện nay.”

Nhận diện hành vi gây lãng phí liên quan đến đầu tư công thông qua kết quả kiểm toán các dự án đầu tư xây dựng cơ bản của Kiểm toán nhà nước

Thực hiện Quyết định số 1392/QĐ-KTNN ngày 28/8/2025 của Tổng Kiểm toán nhà nước về việc phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng của Kiểm toán nhà nước năm 2026; sáng 21/7, Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán phối hợp với Kiểm toán nhà nước chuyên ngành IV và Kiểm toán nhà nước chuyên ngành V đã tổ chức tọa đàm trao đổi kinh nghiệm với chủ đề “Nhận diện hành vi gây lãng phí liên quan đến đầu tư công thông qua kết quả kiểm toán các dự án đầu tư xây dựng cơ bản của Kiểm toán nhà nước”. Tọa đàm được tổ chức theo hình thức trực tiếp tại Hà Nội kết hợp kết nối trực tuyến tới các Kiểm toán nhà nước khu vực. Ông Ngô Minh Sơn, Phó Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước chuyên ngành V phát biểu khai mạc Tọa đàm Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng chiến lược, triển khai nhiều dự án trọng điểm quốc gia và thực hiện các mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, việc quản lý, sử dụng hiệu quả từng đồng vốn đầu tư công không chỉ là yêu cầu về kinh tế mà còn là trách nhiệm chính trị trước Đảng, Nhà nước và Nhân dân.  Phát biểu khai mạc tọa đàm, ông Ngô Minh Sơn, Phó Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước chuyên ngành V, cho biết qua thực tiễn kiểm toán trong những năm qua cho thấy, tình trạng lãng phí trong đầu tư công vẫn còn tiềm ẩn ở nhiều khâu, từ công tác chuẩn bị đầu tư, lập và phê duyệt dự án, bố trí nguồn vốn, giải phóng mặt bằng, lựa chọn nhà thầu, tổ chức thi công, nghiệm thu, thanh toán đến quản lý, vận hành và khai thác công trình. Những hạn chế, bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả đầu tư, kéo dài thời gian thực hiện dự án, phát sinh chi phí mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng nguồn lực công và niềm tin của Nhân dân đối với các chính sách phát triển của Nhà nước.  Trong bối cảnh đó, việc nhận diện đầy đủ, chính xác các hành vi, biểu hiện và nguyên nhân dẫn đến lãng phí thông qua kết quả kiểm toán có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là cơ sở để nâng cao chất lượng, hiệu lực và hiệu quả hoạt động kiểm toán mà còn góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong quản lý đầu tư công, qua đó thực hiện tốt chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Ông Vũ Duy Bắc, Phó Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước chuyên ngành IV chủ trì thảo luận tại Hội trường Chia sẻ về nhận diện hành vi lãng phí thông qua kết quả kiểm toán các dự án đầu tư công lĩnh vực đường bộ cao tốc, đại diện Kiểm toán nhà nước chuyên ngành IV cho biết, các sai sót dẫn đến lãng phí được nhận diện cụ thể trong từng giai đoạn khác nhau của quá trình thực hiện dự án đầu tư như: công tác lập, thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư dự án; lập, thẩm định, phê duyệt dự án; công tác khảo sát, lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán; lựa chọn nhà thầu, thương thảo, ký kết và thực hiện hợp đồng; nghiệm thu, thanh toán; công tác quản lý chất lượng công trình; quản lý tiến độ thực hiện dự án (cả tiến độ các gói thầu; tiến độ giải phóng mặt bằng); công tác quản lý, sử dụng nguồn vốn, chấp hành chế độ tài chính, kế toán (lập, phân bổ kế hoạch vốn; quản lý, sử dụng vốn; thanh toán, quyết toán, ...); công tác giải phóng mặt bằng; công tác nghiệm thu, bàn giao, đưa công trình vào khai thác, sử dụng; Trong thực hiện chính sách đặc thù và các nội dung khác có liên quan đến dự án. Đi sâu vào vấn đề kiểm toán công tác khảo sát, thiết kế, lập dự toán, Kiểm toán nhà nước chuyên ngành V chia sẻ về những sai sót chưa phù hợp quy hoạch, quy chuẩn, tiêu chuẩn, đơn giá, định mức của nhà nước dẫn đến thiết kế công trình chưa tối ưu, tăng tổng mức đầu tư. Chi phí cho các công tác khảo sát, thiết kế và lập dự toán với các dự án đầu tư công thường chiếm tỷ trọng chi phí không lớn trong tổng mức đầu tư. Tuy nhiên, việc thực hiện công tác khảo sát, thiết kế, lập dự toán của các đơn vị tư vấn có thể chưa phù hợp quy hoạch, quy chuẩn, tiêu chuẩn, đơn giá, định mức của Nhà nước. Quá trình thẩm tra, thẩm định chưa kịp thời phát hiện những vấn đề chưa phù hợp nói trên có thể dẫn đến công trình không được tối ưu về công năng sử dụng, công nghệ, yêu cầu kỹ thuật, thiết kế làm tăng chi phí thực tế của toàn bộ dự án hoặc sử dụng không hiệu quả, không hết công suất thiết kế, gây lãng phí nguồn lực đầu tư công. Thông qua kiểm toán công tác khảo sát, thiết kế, lập dự toán có thể xác định được sự phù hợp quy hoạch, quy chuẩn, tiêu chuẩn, đơn giá, định mức của Nhà nước để phần nào đánh giá sự tối ưu khi thiết kế công trình cũng như sự phù hợp của tổng mức đầu tư. Các đại biểu tham dự Tọa đàm Đối với hành vi lãng phí do chậm tiến độ dự án dẫn đến thời gian thi công kéo dài, phải điều chỉnh tăng tổng mức đầu tư, chậm đưa công trình vào khai thác, sử dụng, Kiểm toán nhà nước khu vực VI cho biết, nhiều dự án chậm tiến độ, kéo dài thời gian thi công, phải điều chỉnh quy mô, điều chỉnh thời gian thực hiện, tăng tổng mức đầu tư, phát sinh chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn, chi phí bù trượt giá vật liệu, nhân công và nhiều chi phí khác. Không ít công trình hoàn thành nhưng chậm được nghiệm thu, chậm quyết toán, chậm đưa vào khai thác, sử dụng hoặc đưa vào sử dụng nhưng chưa phát huy đầy đủ hiệu quả đầu tư. Tình trạng trên không chỉ làm giảm hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công mà còn có thể tạo ra lãng phí nguồn lực nhà nước, lãng phí đất đai, lãng phí cơ hội phát triển, làm tăng gánh nặng ngân sách và ảnh hưởng đến niềm tin của người dân, doanh nghiệp đối với hiệu quả quản lý, điều hành của cơ quan nhà nước. Vì vậy, việc nhận diện đúng, đầy đủ và kịp thời các hành vi, dấu hiệu gây lãng phí từ thực trạng chậm tiến độ dự án là yêu cầu cần thiết trong hoạt động kiểm toán. Qua thực tiễn kiểm toán các dự án đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn, Kiểm toán nhà nước khu vực VI nhận thấy nguyên nhân chủ yếu của tình trạng chậm tiến độ thường tập trung ở các khâu: chuẩn bị đầu tư chưa kỹ; khảo sát, thiết kế, dự toán chưa sát thực tế; giải phóng mặt bằng kéo dài; bố trí vốn chưa đáp ứng tiến độ; năng lực quản lý dự án, năng lực nhà thầu còn hạn chế; điều hành dự án thiếu quyết liệt; công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm chưa nghiêm. Để nhận diện đúng dấu hiệu lãng phí, kiểm toán cần đánh giá dự án theo chuỗi logic đầu vào - quá trình thực hiện - đầu ra - kết quả - tác động. Không nên chỉ xem xét riêng việc tăng tổng mức đầu tư hoặc chậm tiến độ ở thời điểm kiểm toán, mà cần phân tích nguyên nhân gốc rễ, trách nhiệm của từng chủ thể và ảnh hưởng của việc chậm tiến độ đến ngân sách, đến hiệu quả sử dụng vốn và đến mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Trong khi đó, thông qua hoạt động kiểm toán, Kiểm toán nhà nước khu vực XII nhận thấy, hành vi gây lãng phí ở giai đoạn quyết định đầu tư tập trung vào 02 nhóm hành vi điển hình: phê duyệt dự án chưa xác định rõ nhu cầu sử dụng và quyết định địa điểm đầu tư chưa phù hợp. Theo đó, phê duyệt dự án chưa xác định rõ nhu cầu sử dụng xuất phát từ việc khảo sát một cánh hình thức, tư duy nhiệm kỳ, hoặc áp đặt chủ quan dẫn đến quy mô công trình vượt quá xa nhu cầu thực tế, hoặc công trình xây xong không thể đưa vào khai thác. Lãng phí khi quyết định địa điểm đầu tư chưa phù hợp biểu hiện qua việc phê duyệt dự án không tuân thủ quy hoạch chung, chọn địa điểm bất lợi dẫn đến vướng mắc, khó khăn về pháp lý trong quá trình đầu tư dự án. Bên cạnh đó, Kiểm toán nhà nước khu vực XII cũng cho biết thêm hiện tượng lãng phí cũng xảy ra đối với các dự án đầu tư ngoài ngân sách. Đây là việc lãng phí rất lớn nguồn lực xã hội và nguồn lực đất đai của nhà nước mà nguyên nhân do địa phương xác định mục tiêu đầu tư chưa chuẩn xác (việc xác định mục tiêu dự án chưa thật sự phù hợp với mức độ đáp ứng của hạ tầng giao thông, hạ tầng kỹ thuật cũng như lực lượng lao động địa phương dẫn đến), chưa có cơ chế chính sách để phát triển đồng bộ các hạ tầng và các yếu tố liên quan khác để các dự án do các doanh nghiệp đầu tư phát huy hiệu quả, góp phần đóng góp nguồn thu cho địa phương. Đại biểu tham luận tại Hội trường Trong lĩnh vực giáo dục đại học, đại diện Kiểm toán nhà nước chuyên ngành III cho biết, đối với lĩnh vực giáo dục, các dự án đầu tư công chủ yếu bao gồm xây dựng trường học, trụ sở làm việc, đầu tư phòng thí nghiệm, máy móc, trang thiết bị chuyên ngành và các công trình phục vụ đào tạo, nghiên cứu. Một số hành vi gây lãng phí trong đầu tư công lĩnh vực giáo dục đại học được Kiểm toán nhà nước chuyên ngành III nhận diện như: lãng phí do công tác quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch; lãng phí do quy hoạch và đầu tư thiếu đồng bộ; lãng phí do bố trí vốn, giải ngân và thực hiện dự án chậm; lãng phí trong lập dự án, thiết kế và dự toán; Lãng phí do kéo dài thời gian thi công và đưa công trình vào sử dụng; Lãng phí trong khai thác, sử dụng tài sản sau đầu tư. Một số cơ sở đào tạo có quy mô tuyển sinh thực tế thấp hơn nhiều so với dự báo khi lập dự án, dẫn đến số lượng phòng học, phòng chức năng và phòng thí nghiệm được khai thác dưới công suất thiết kế. Nhiều máy móc, thiết bị phục vụ giảng dạy, nghiên cứu có tần suất sử dụng thấp, thậm chí không được đưa vào sử dụng. Một số dự án chưa tính toán đầy đủ nhu cầu kinh phí cho giai đoạn vận hành, bảo trì, bảo dưỡng và mua sắm vật tư, hóa chất phục vụ hoạt động chuyên môn. Do thiếu kinh phí vận hành, một số phòng thí nghiệm hoạt động không hiệu quả hoặc phải tạm dừng, làm giảm đáng kể hiệu quả đầu tư. Bên cạnh đó, một số máy móc, thiết bị được đầu tư đã lạc hậu hoặc ngừng sản xuất, không còn linh kiện thay thế, không tương thích với công nghệ mới nên không thể sửa chữa, nâng cấp hoặc tiếp tục khai thác. Điều này không chỉ làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản công mà còn làm phát sinh nhu cầu đầu tư thay thế trước thời hạn. Cũng tại tọa đàm, các đại biểu đã tập trung phân tích, nhận diện nhiều nguy cơ lãng phí vốn đầu tư công, những yếu tố ảnh hưởng đến tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả của các dự án đầu tư công, từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư đến giai đoạn nghiệm thu, vận hành, khai thác công trình cũng như đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực để nhân diện hành vi gây lãng phí trong kiểm toán dự án đầu tư công.

Hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước

Sáng 12/8/2026, Hội đồng khoa học Kiểm toán nhà nước đã tổ chức nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước” do ThS. Đào Trọng Khánh (Kiểm toán nhà nước khu vực VIII) làm đồng chủ nhiệm. Hội đồng nghiệm thu do TS. Bùi Quốc Dũng, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Kiểm toán nhà nước làm Chủ tịch. TS Bùi Quốc Dũng, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu, đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn của đề tài Hoạt động kiểm toán môi trường ngày càng được các Cơ quan Kiểm toán tối cao sử dụng như một công cụ hữu hiệu nhằm đánh giá hiệu quả quản lý, sử dụng tài nguyên, kiểm soát ô nhiễm và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững. Nhận thức được vai trò ngày càng quan trọng của kiểm toán môi trường, thời gian qua, Kiểm toán nhà nước đã từng bước mở rộng phạm vi và nội dung kiểm toán. Giai đoạn 2018-2023, Kiểm toán nhà nước đã thực hiện hơn 40 cuộc kiểm toán có nội dung liên quan đến môi trường. Riêng năm 2024, Kiểm toán nhà nước đã triển khai nhiều cuộc kiểm toán chuyên đề như: quản lý, bảo vệ nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt; quản lý môi trường tại các khu kinh tế, khu công nghiệp; quản lý, sử dụng kinh phí bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu tại các bộ, ngành và địa phương. Thông qua hoạt động kiểm toán, Kiểm toán nhà nước đã phát hiện nhiều tồn tại, bất cập trong công tác quản lý môi trường, kiến nghị hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công dành cho bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, đại diện Ban đề tài - ThS Đào Trọng Khánh cho biết, mặc dù Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã quy định Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán trong lĩnh vực môi trường, nhưng Luật Kiểm toán nhà nước hiện hành chưa có quy định cụ thể về đối tượng, nội dung và phạm vi kiểm toán môi trường. Một số hoạt động có tác động trực tiếp đến môi trường của doanh nghiệp ngoài khu vực công chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng để đưa vào kế hoạch kiểm toán. Bên cạnh đó, hệ thống dữ liệu môi trường phục vụ kiểm toán còn phân tán, việc chia sẻ thông tin giữa các cơ quan quản lý và Kiểm toán nhà nước chưa thực sự đồng bộ. Ngoài ra, các quy định về kiểm toán môi trường trong khu vực doanh nghiệp, tiêu chuẩn chuyên môn và hướng dẫn kỹ thuật phục vụ hoạt động kiểm toán môi trường vẫn chưa được hoàn thiện. Trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện các cam kết quốc tế về phát triển bền vững, ứng phó biến đổi khí hậu và mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, yêu cầu đối với hoạt động kiểm toán môi trường ngày càng cao, đòi hỏi phải mở rộng phạm vi đánh giá đối với các vấn đề môi trường liên ngành, liên vùng và các mục tiêu phát triển bền vững. Nhóm nghiên cứu cho rằng, bên cạnh việc tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động kiểm toán môi trường, việc nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước trong giám sát, đánh giá hiệu quả chính sách môi trường, quản lý tài nguyên, sử dụng nguồn lực công cho bảo vệ môi trường và thực hiện các cam kết quốc tế là yêu cầu cấp thiết. Điều này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng quản trị môi trường quốc gia mà còn khẳng định vị thế của Kiểm toán nhà nước trong việc hỗ trợ Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện mục tiêu phát triển bền vững. Đề tài “Hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước” được thực hiện nhằm đề xuất định hướng, giải pháp hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường, đồng thời nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước trong giám sát việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công và nguồn lực công gắn với bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. ThS Đào Trọng Khánh đại diện Ban đề tài trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, đề tài đã hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề lý luận chung về môi trường, kiểm toán môi trường, cơ sở pháp lý kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước. Theo đó, kiểm toán môi trường được xác định là một lĩnh vực kiểm toán chuyên biệt, được thực hiện thông qua kiểm toán tài chính, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động. Đề tài đã phân tích, đánh giá thực trạng cơ sở pháp lý và thực tiễn triển khai kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước. Kết quả nghiên cứu cho thấy cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường ở Việt Nam đã từng bước được hình thành, nhất là khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 ghi nhận vai trò của Kiểm toán nhà nước trong lĩnh vực môi trường; đồng thời Kiểm toán nhà nước đã ban hành, cập nhật chuẩn mực, quy trình, hướng dẫn nghiệp vụ và triển khai nhiều cuộc kiểm toán có nội dung liên quan đến môi trường. Bên cạnh kết quả đạt được, đề tài cũng chỉ ra một số hạn chế, bất cập chủ yếu như: Luật Kiểm toán nhà nước chưa quy định cụ thể về đối tượng, phạm vi, nội dung, phương thức và tiêu chí kiểm toán môi trường; cơ chế tiếp cận, chia sẻ dữ liệu môi trường còn thiếu đồng bộ; thẩm quyền kiểm tra, đối chiếu đối với các chủ thể ngoài khu vực công có tác động đến môi trường còn chưa rõ; nguồn nhân lực chuyên sâu, hướng dẫn kỹ thuật và ứng dụng công nghệ còn hạn chế. Trên cơ sở đó, đề tài đã khẳng định vai trò của Kiểm toán nhà nước là công cụ giám sát độc lập, góp phần tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình, đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực công cho bảo vệ môi trường và hỗ trợ hoàn thiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường, tăng trưởng xanh, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Nhóm nghiên cứu cũng đã đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước, tập trung vào hoàn thiện Luật Kiểm toán nhà nước và pháp luật có liên quan; làm rõ phạm vi, đối tượng, thẩm quyền, quyền tiếp cận dữ liệu và trách nhiệm phối hợp; cập nhật hướng dẫn kiểm toán môi trường theo các chủ đề mới như khí nhà kính, thị trường các-bon, EPR, kinh tế tuần hoàn, tài chính xanh; đồng thời phát triển nguồn nhân lực, tăng cường sử dụng chuyên gia, ứng dụng công nghệ số và nâng cao hiệu lực thực hiện kiến nghị kiểm toán. Có thể khẳng định, việc hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường là yêu cầu cần thiết trong bối cảnh Việt Nam thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, tăng trưởng xanh và cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Việc hoàn thiện này không nhằm mở rộng Kiểm toán nhà nước thành cơ quan quản lý hay thanh tra môi trường, mà nhằm tạo hành lang pháp lý rõ ràng để Kiểm toán nhà nước thực hiện tốt chức năng kiểm toán độc lập trong lĩnh vực môi trường. Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật về kiểm toán môi trường ở Việt Nam, đồng thời đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng, hiệu lực và hiệu quả hoạt động kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước trong thời gian tới. Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn mà đề tài mang lại Nhận xét về kết quả nghiên cứu của đề tài, Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn mà đề tài mang lại. Đề tài đã nhận diện trúng các “nút thắt” pháp lý hiện nay cũng như thẳng thắn chỉ ra các khoảng trống pháp lý mang tính cốt lõi. Đặc biệt, Đề tài đã đưa ra được bộ 8 tiêu chí (trên giác độ tiếp cận là công cụ quản lý, kiểm soát môi trường) để phân tích, so sánh, phân biệt kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước với thanh tra môi trường, đánh giá tác động môi trường, quan trắc môi trường, kiểm toán nội bộ ISO14001. Đề tài nghiên cứu phản ánh thực tiễn pháp lý về kiểm toán môi trường hiện nay cũng như thực tiễn hoạt động kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước, giữa thực tiễn tác động công tác quản lý, bảo vệ môi trường từ hoạt động kiểm toán môi trường, đối sánh với vai trò kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước cần phải khẳng định; nêu được các nhân tố tác động đến kiểm toán môi trường ở Việt Nam; xây dựng ma trận so sánh một số tiêu chí để rút ra giá trị tham khảo kinh nghiệm quốc tế cho Kiểm toán nhà nước Việt Nam… Việc bổ sung bảng phân biệt kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước với thanh tra môi trường, đánh giá tác động môi trường, quan trắc môi trường và kiểm toán nội bộ theo ISO 14001 đã góp phần khắc phục tình trạng đồng nhất giữa các công cụ quản lý môi trường được phản biện kín chỉ ra. Đề tài đã đón đầu xu hướng công nghệ khi đưa các quy trình ứng dụng GIS, dữ liệu viễn thám, dữ liệu lớn (Big Data) và Trí tuệ nhân tạo (AI) vào việc thu thập bằng chứng kiểm toán xanh. Những đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường, đồng thời nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước có giá trị thực tiễn, với những nguyên tắc, giải pháp và lộ trình tương đối rõ ràng; có giá trị tham khảo thiết thực đối với định hướng phát triển kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước trong thời gian tới. Toàn cảnh buổi nghiệm thu Nhằm hoàn thiện đề tài, Hội đồng đề nghị Ban đề tài rà soát, biên tập lại một số nội dung kết cấu các mục; rà soát lại các kinh nghiệm quốc tế để gắn với nội dung nghiên cứu của đề tài. Ban đề tài nên tập trung vào các bất cập hiện tại của hoạt động kiểm toán môi trường và định hướng phát triển của Kiểm toán môi trường để đưa ra các giải pháp. Đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn cũng như công tác tổ chức nghiên cứu đề tài, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu - Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Bùi Quốc Dũng đề nghị Ban Đề tài khi tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý và xây dựng Chiến lược kiểm toán môi trường giai đoạn 5-10 năm tới, cần có cách tiếp cận toàn diện, phân định rõ giữa giải quyết bất cập hiện tại và định hướng tương lai. Theo đó, bên cạnh việc nhận diện, tháo gỡ những vướng mắc từ thực tiễn môi trường để kiến nghị hoàn thiện pháp luật, cần dự báo sớm những xu hướng mới của môi trường trên thế giới, nhất là các vấn đề về Net Zero, phát triển bền vững, các công cụ kinh tế môi trường. Chủ tịch Hội đồng cũng lưu ý yêu cầu mở rộng phạm vi, đối tượng và phương thức tiếp cận dữ liệu phục vụ môi trường, hướng tới cơ chế khai thác dữ liệu thường xuyên, liên tục, kết nối trực tiếp, thay vì chủ yếu tiếp cận theo từng cuộc kiểm toán.  Đề tài được Hội đồng nghiệm thu xếp loại Xuất sắc./.

Khai giảng Khóa bồi dưỡng “Nâng cao năng lực quản trị tài chính công, tài sản công cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp” tại thành phố Đà Nẵng

Được sự đồng ý của lãnh đạo Kiểm toán nhà nước và lãnh đạo Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng, nhằm nâng cao năng lực quản trị tài chính công, tài sản công cho cán bộ, công chức cấp xã, phường trong thực thi nhiệm theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, sáng ngày 4/9/2026 tại Trường Chính trị Thành phố Đà Nẵng, Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán phối hợp với Sở Nội vụ Thành phố Đà Nẵng tổ chức Khóa bồi dưỡng “Nâng cao năng lực quản trị tài chính công, tài sản công cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp”. Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Bùi Quốc Dũng phát biểu khai giảng Khóa bồi dưỡng Tới dự khai giảng Khóa bồi dưỡng, về phía Kiểm toán nhà nước, có ông Bùi Quốc Dũng, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước, ông Vũ Văn Họa - Nguyên Phó Tổng Kiểm toán nhà nước, đại diện lãnh đạo Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán, đại diện lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Kiểm toán nhà nước. Về phía thành phố Đà Nẵng có ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng, đại diện lãnh đạo các cơ quan của Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các sở, ban, ngành của Thành phố. Tham dự Khóa học, 287 học viên là cán bộ, công chức cấp xã, phường thuộc các nhóm vị trí việc làm liên quan trực tiếp đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tham mưu và tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý tài chính, ngân sách, đầu tư và tài sản công sẽ được các giảng viên giàu kinh nghiệm đến từ Kiểm toán nhà nước, Bộ Tài chính, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh truyền đạt 5 chuyên đề, gồm: Thể chế, phân cấp và trách nhiệm quản lý ngân sách cấp xã, phường; Lập dự toán và phân bổ ngân sách cấp xã, phường; Điều hành ngân sách và quản lý tài sản công; Xử lý ngân sách cuối năm và quyết toán ngân sách; Quản lý nguồn cải cách tiền lương, quỹ lương và biên chế. Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng phát biểu tại Khóa bồi dưỡng Phát biểu khai giảng Khóa học, Phó tổng Kiểm toán nhà nước Bùi Quốc Dũng cho biết, thời gian qua, trong quá trình kiểm toán tại các địa phương, đặc biệt trong bối cảnh triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, Kiểm toán nhà nước nhận thấy đội ngũ cán bộ ở cấp xã đang phải đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ mới, thẩm quyền mới, trách nhiệm mới. Có những công việc trước đây thuộc cấp trung gian, nay được phân cấp trực tiếp về xã, phường. Trong khi đó, các quy định về ngân sách, tài sản công, mua sắm, đấu thầu, quyết toán, công khai tài chính… vừa nhiều, vừa có tính chuyên môn cao, lại đang trong quá trình tiếp tục hoàn thiện để phù hợp với mô hình tổ chức mới. Vì vậy, việc cán bộ cơ sở còn có những bỡ ngỡ, lúng túng, có những vấn đề chưa thống nhất trong cách hiểu và cách thực hiện. Thông qua kết quả kiểm toán cho thấy, nhiều sai sót không xuất phát từ động cơ cố ý mà do chưa nắm chắc thẩm quyền; chưa cập nhật đầy đủ quy định mới; chưa phân biệt rõ trách nhiệm giữa các chủ thể; hoặc chưa nhận diện được rủi ro ngay từ khâu đầu của quy trình. Những vấn đề như vậy nếu được phát hiện ngay trong quá trình thực hiện thì việc khắc phục thường đơn giản hơn rất nhiều. Từ thực tiễn đó, Kiểm toán nhà nước không chỉ dừng ở việc kết luận đơn vị đã làm đúng hay chưa đúng, mà còn cùng đồng hành thông qua việc chia sẻ từ thực tiễn kiểm toán để giúp các cơ quan, đơn vị nhận diện được những điểm dễ sai, những khâu có rủi ro cao và những vấn đề cần kiểm soát trước khi ra quyết định. “Do vậy, chúng ta cần chuyển dần từ tư duy “phát hiện sai sót sau khi đã xảy ra” sang việc góp phần giúp đơn vị “phòng ngừa sai sót ngay từ đầu”. Qua Khóa bồi dưỡng này, tôi hy vọng các đồng chí chính là những người đang đứng ở tuyến đầu của bộ máy chính quyền địa phương hai cấp, mọi thay đổi về cơ cấu tổ chức, phân cấp và phân quyền cuối cùng đều đi qua những công việc rất cụ thể. Vì vậy, tôi mong rằng trong khóa bồi dưỡng này, các đồng chỉ không chỉ dừng ở mang theo giáo trình mà mang chính công việc của mình vào lớp học, tích cực trao đổi với các đồng chí giảng viên để làm rõ những bất cập đang gặp từ thực tiễn triển khai công việc. Đặc biệt, sau khóa học, mỗi đồng chí khi trở về đơn vị sẽ có thêm những công cụ để tự kiểm soát công việc của mình tốt hơn.” - Phó Tổng Kiểm toán nhà nước đề nghị. Tham dự Khóa học có 287 học viên đến từ các đơn vị cấp xã, phường của Thành phố Đà Nẵng Phát biểu tại lễ khai giảng, ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng cho biết, việc tổ chức và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp là một chủ trương lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiến trình xây dựng nền hành chính hiện đại, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, gần dân, sát dân và phục vụ Nhân dân tốt hơn. Đối với thành phố Đà Nẵng, năm 2026 được xác định là “Năm phát huy hiệu quả mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, các cơ chế, chính sách đặc thù, đẩy mạnh thu hút đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội”. “Trong mô hình mới, cấp xã được giao thêm nhiều nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm và ngày càng phải chủ động quyết định, tổ chức thực hiện, kiểm soát nguồn lực và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện. Yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã vì thế cũng cao hơn, toàn diện hơn. Do vậy, yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là “quản lý tài chính, tài sản công đúng quy định”, mà cao hơn là phải quản trị tài chính, tài sản công một cách chủ động, minh bạch, hiệu quả, tiết kiệm và hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Đội ngũ cán bộ, công chức phải có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực tiễn ngày càng cao. Khóa bồi dưỡng này với sự đồng hành của Kiểm toán nhà nước, trực tiếp là Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán là một cơ hội quý báu để các đồng chí cán bộ, công chức xã, phường trên địa bàn thành phố được trao đổi, tiếp cận kinh nghiệm thực tiễn từ hoạt động kiểm toán; qua đó nâng cao năng lực tham mưu, tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao.” Các đồng chí lãnh đạo, đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại buổi khai giảng Khóa bồi dưỡng Để lớp học đạt được kết quả tốt theo mục tiêu đề ra, đồng chí Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố đề nghị các đồng chí học viên tập trung tham gia Khóa bồi dưỡng đầy đủ, nghiêm túc. Sau Khóa bồi dưỡng, đề nghị các cơ quan, đơn vị, địa phương cần rà soát ngay những vấn đề đang tồn tại tại đơn vị mình; chủ động áp dụng các nội dung đã được trao đổi; kịp thời báo cáo những khó khăn, vướng mắc để thành phố nghiên cứu, hướng dẫn và xử lý theo thẩm quyền. Khóa bồi dưỡng diễn ra từ ngày 4/9/2026 - 7/9/2026.

Vai trò của Kiểm toán nhà nước trong việc thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia về thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững

Là quốc gia đang phát triển có đường bờ biển dài, nhiều vùng đồng bằng thấp và mức độ phụ thuộc tương đối lớn vào tài nguyên thiên nhiên, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu. Các hiện tượng như nước biển dâng, xâm nhập mặn, hạn hán kéo dài, mưa lũ bất thường và sạt lở đất ngày càng gia tăng cả về tần suất lẫn cường độ, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của người dân, hệ sinh thái tự nhiên và quá trình phát triển kinh tế - xã hội. GS.TS Đoàn Xuân Tiên, Phó Chủ tịch Hội đồng khoa học Kiểm toán nhà nước làm Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu Trong bối cảnh đó, biến đổi khí hậu không chỉ là thách thức về môi trường mà còn trở thành vấn đề phát triển có tính liên ngành, tác động sâu rộng đến tăng trưởng, an sinh xã hội và mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia. Trước yêu cầu đó, Việt Nam đã chủ động tham gia và từng bước thực hiện nhiều cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Song song với việc tham gia các cam kết quốc tế, Việt Nam đã tích cực nội địa hóa các định hướng toàn cầu thông qua việc ban hành nhiều chính sách, chiến lược và chương trình hành động cấp quốc gia về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Các văn bản này đã tạo nền tảng quan trọng cho việc triển khai các cam kết trong thực tiễn. Trên thực tế, Việt Nam đã đạt được một số kết quả tích cực trong thực hiện Chương trình Nghị sự 2030, nhất là ở các lĩnh vực như giảm nghèo, giáo dục, y tế và bình đẳng giới. Tuy nhiên, quá trình thực hiện các mục tiêu gắn với môi trường, khí hậu và quản lý tài nguyên vẫn còn nhiều khó khăn. Tình trạng ô nhiễm môi trường, suy giảm hệ sinh thái, khai thác tài nguyên thiếu bền vững, cùng với những hạn chế trong phối hợp liên ngành, bố trí nguồn lực và giám sát thực hiện, đang làm giảm hiệu quả của nhiều chính sách, chương trình và dự án. Trên thế giới, nhiều Cơ quan Kiểm toán tối cao (SAI) đã từng bước khẳng định vai trò ngày càng rõ nét trong việc kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện các cam kết về khí hậu và phát triển bền vững. Phạm vi hoạt động của các SAI không còn chỉ giới hạn ở kiểm toán chi tiêu công, mà đã được mở rộng sang đánh giá hiệu quả các chính sách về giảm phát thải, chuyển đổi năng lượng, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs). Trong xu thế chung đó, Kiểm toán nhà nước Việt Nam cũng đã từng bước triển khai một số cuộc kiểm toán chuyên đề có liên quan, đồng thời tích cực thúc đẩy hợp tác quốc tế, tham gia các hoạt động của INTOSAI, ASOSAI và các cơ chế hợp tác khu vực trong lĩnh vực kiểm toán môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy hoạt động kiểm toán trong lĩnh vực này ở Việt Nam vẫn còn không ít hạn chế. Đặc biệt, còn thiếu các tiêu chí và công cụ phù hợp để đo lường, đánh giá mức độ thực hiện cam kết; việc phối hợp, chia sẻ thông tin giữa Kiểm toán nhà nước với các cơ quan chuyên trách về môi trường, tài chính khí hậu và phát triển bền vững chưa thật sự chặt chẽ; nhận thức về vai trò của kiểm toán trong thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia trong lĩnh vực này cũng chưa đầy đủ và toàn diện. ThS. Nguyễn Thị Kiều Thu, Kiểm toán nhà nước chuyên ngành III, thay mặt Ban đề tài báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu Đề tài “Vai trò của Kiểm toán nhà nước trong việc thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia về thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững” do ThS. Nguyễn Thị Kiều Thu - Kiểm toán nhà nước chuyên ngành III làm chủ nhiệm, trên cơ sở đó được tiến hành nghiên cứu góp phần làm rõ vị trí, vai trò, nội dung và phương thức phát huy chức năng của Kiểm toán nhà nước trong việc thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững trong điều kiện Việt Nam. Về phương diện thực tiễn, đề tài không chỉ đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế, phương thức và nội dung kiểm toán trong lĩnh vực này, mà còn xây dựng Bảng lộ trình triển khai kiểm toán biến đổi khí hậu và phát triển bền vững và Bảng khung tiêu chí kiểm toán lĩnh vực biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Đây là những kết quả có giá trị tham khảo trực tiếp cho việc tổ chức hoạt động kiểm toán, lựa chọn trọng tâm kiểm toán, xác định nội dung đánh giá và xem xét trách nhiệm thực hiện cam kết của các cơ quan, đơn vị liên quan, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường trách nhiệm giải trình, minh bạch trong quản lý nhà nước về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững ở Việt Nam. Tập trung nghiên cứu giai đoạn 2021-2025, là giai đoạn gắn với việc Việt Nam đẩy mạnh thực hiện các cam kết quốc tế sau COP26, đồng thời triển khai các định hướng, kế hoạch quan trọng như Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021-2030 theo Quyết định số 1422/QĐ-TTg và Lộ trình thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững theo Quyết định số 841/QĐ-TTg, đề tài nghiên cứu tập trung phân tích thực tiễn các cuộc kiểm toán và các quyết định giao nhiệm vụ kiểm toán có liên quan. Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn của Đề tài Kết quả nghiên cứu cho thấy, Kiểm toán nhà nước không chỉ thực hiện chức năng kiểm toán đối với việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công, mà còn góp phần nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực hiện chính sách thông qua các kết luận, kiến nghị kiểm toán. Trong điều kiện quản trị rủi ro khí hậu đòi hỏi sự phối hợp liên ngành, liên cấp và dựa trên bằng chứng, kiểm toán môi trường và kiểm toán hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá mức độ gắn kết giữa mục tiêu chính sách, tổ chức thực hiện và kết quả đạt được trên thực tế. Qua phân tích thực trạng cho thấy Việt Nam đã đạt được một số kết quả tích cực trong việc nội địa hóa các cam kết quốc gia về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững thông qua hệ thống chiến lược, quy hoạch và chương trình hành động tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, việc triển khai các cam kết này vẫn đối mặt với nhiều hạn chế như phân tán nguồn lực, thiếu đồng bộ dữ liệu, khó khăn trong lượng hóa kết quả, cũng như khoảng cách giữa mục tiêu đề ra và hiệu quả thực thi tại nhiều bộ, ngành và địa phương. Trong bối cảnh đó, hoạt động của Kiểm toán nhà nước liên quan đến môi trường, biến đổi khí hậu và phát triển bền vững đã bước đầu được mở rộng về phạm vi và nội dung, song mức độ lồng ghép các tiêu chí khí hậu và phát triển bền vững vào kiểm toán vẫn chưa thực sự hệ thống; các nội dung như tài chính khí hậu, giảm phát thải, thích ứng dựa vào hệ sinh thái, hay kiểm toán việc thực hiện các mục tiêu SDGs mới chỉ được tiếp cận ở mức độ ban đầu. Kết quả khảo sát các bên liên quan và phân tích mô hình nghiên cứu khẳng định vai trò của Kiểm toán nhà nước có mối liên hệ tích cực và có ý nghĩa thống kê với việc nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và mức độ thực hiện kiến nghị kiểm toán của các đơn vị được kiểm toán. Trên cơ sở đó, có thể nhận thấy hoạt động kiểm toán có khả năng góp phần hỗ trợ việc thực hiện các cam kết quốc gia về thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững, thông qua việc cung cấp thông tin, bằng chứng và kiến nghị phục vụ hoàn thiện quản lý, điều hành và sử dụng nguồn lực công. Kết quả này cũng cho thấy khi hoạt động kiểm toán được thiết kế phù hợp, có tiêu chí đánh giá rõ ràng và gắn với mục tiêu chính sách dài hạn, Kiểm toán nhà nước có thể phát huy tốt hơn vai trò của mình trong việc xem xét tiến độ thực hiện, phát hiện những hạn chế, bất cập trong cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện, qua đó hỗ trợ các cơ quan có thẩm quyền trong việc điều chỉnh phân bổ và sử dụng nguồn lực công cho ứng phó với biến đổi khí hậu. Đề tài được Hội đồng nghiệm thu xếp loại xuất sắc Từ các phân tích lý luận và thực tiễn, đề tài cho rằng việc nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước trong thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững không chỉ là yêu cầu đặt ra từ sự phát triển của hoạt động kiểm toán, mà còn phù hợp với đòi hỏi nâng cao chất lượng quản lý nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Trong điều kiện Việt Nam đang thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, phát thải thấp và thích ứng với khí hậu, Kiểm toán nhà nước cần tiếp tục phát huy vai trò của mình trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định, thông qua kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công và đưa ra các kết luận, kiến nghị kiểm toán có giá trị. Qua đó, Kiểm toán nhà nước góp phần tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực hiện các chương trình, dự án, chính sách công có liên quan đến các cam kết quốc gia về môi trường, khí hậu và phát triển bền vững. Đánh giá về Đề tài, Hội đồng nghiệm thu khẳng định đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao, nội dung công phu, cập nhật bối cảnh quốc tế và trong nước, bước đầu làm rõ vai trò của Kiểm toán nhà nước trong thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia về thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Đề tài cũng đã làm rõ mối quan hệ giữa biến đổi khí hậu, phát triển bền vững, cam kết quốc gia và yêu cầu giám sát độc lập; phân biệt các phạm vi kiểm toán có liên quan và khẳng định việc triển khai thông qua các loại hình kiểm toán hiện hành, không hình thành một loại hình kiểm toán mới ngoài quy định. Đề tài cũng đã nhận diện tương đối phù hợp các nhóm hạn chế về cơ sở pháp lý và tiêu chí, phương pháp tiếp cận, dữ liệu và bằng chứng, nhân lực chuyên sâu, phối hợp và chia sẻ thông tin, qua đó tạo căn cứ cho các giải pháp được đề xuất. Về giải pháp và khả năng ứng dụng, đề tài đã xây dựng năm nhóm giải pháp tương đối toàn diện, lộ trình ba giai đoạn, khung tiêu chí, tiêu chí lựa chọn chủ đề, danh mục dữ liệu và chương trình đào tạo có giá trị định hướng. Tuy nhiên, các nội dung này hiện phù hợp ở mức khung đề xuất và cần được lựa chọn thí điểm, đánh giá, chuẩn hóa trước khi sử dụng như hướng dẫn nghiệp vụ chính thức. Để hoàn thiện đề tài, Ban chủ nhiệm cần nhấn mạnh trọng tâm, tăng chiều sâu phân tích tác động và ưu tiên các giải pháp để nâng cao tính cô đọng, khả thi và giá trị ứng dụng của kết quả nghiên cứu. Ngoài ra, cần làm rõ phạm vi và trọng tâm nghiên cứu, cơ sở lý luận và chiếu sâu phân tích thực trạng, nghiên cứu định lượng và tính thống nhất của số liệu; hệ thống giải pháp, lộ trình và thẩm quyền kiến nghị. Đề tài cần hoàn thiện khung tiêu chí kiểm toán, làm tõ tính mới và khả năng ứng dụng, tiếp tục chuẩn hóa khung tiêu chí kiểm toán, phân biệt rõ tiêu chí hoặc chuẩn so sánh với câu hỏi kiểm toán, chỉ số đo lường, nguồn bằng chứng và thủ tục kiểm toán. Khung tiêu chí hiện có nên được xác định là danh mục định hướng cần tiếp tục thí điểm và hoàn thiện, chưa phải hướng dẫn nghiệp vụ có thể áp dụng trực tiếp cho mọi cuộc kiểm toán. Phát biểu kết luận tại buổi nghiệm thu, GS.TS Đoàn Xuân Tiên, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu cho rằng Đề tài cần ưu tiên giải pháp theo mức độ khả thi và thứ tự thực hiện; làm rõ giải pháp nào thuộc thẩm quyền Kiểm toán nhà nước, giải pháp nào cần kiến nghị Quốc hội, Chính phủ; cần rút gọn các phần liệt kê thông tin. Đề tài đã kết hợp phân tích thực tiễn với mô hình định lượng, tuy nhiên cần nhấn mạnh rõ hơn giá trị mới so với các đề tài kiểm toán môi trường trước đây của Kiểm toán nhà nước, đóng góp cụ thể của đề tài đối với việc xây dựng lộ trình kiểm toán biến đổi khí hậu đến 2030. Đề tài được Hội đồng nghiệm thu xếp loại xuất sắc.