Thứ tư, 10/6/2026

Điện thoại (024) 6287 3463

Đường dây nóng (024) 6287 3463

Liên hệ quảng cáo (+84)915.632.345

Thứ tư, 10/6/2026
Share on Facebook
Copy to Clipboard

Phát triển kinh tế tư nhân gắn với xây dựng nền công nghiệp tự chủ và hiện đại

Bài viết phân tích vai trò và vị trí của kinh tế tư nhân trong chiến lược xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại ở Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới. Trên cơ sở quan điểm của Đảng về phát triển đồng bộ các thành phần kinh tế, bài viết làm rõ yêu cầu tái định vị kinh tế tư nhân từ một động lực tăng trưởng sang một cấu phần quan trọng của năng lực công nghiệp quốc gia. Phân tích thực trạng cho thấy các điểm nghẽn chủ yếu của khu vực tư nhân ở quy mô, công nghệ, liên kết chuỗi và đổi mới sáng tạo. Từ đó, bài viết đề xuất định hướng hoàn thiện thể chế tương ứng, bảo đảm quyền tài sản, phân bổ nguồn lực theo tín hiệu thị trường, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hình thành các tập đoàn tư nhân công nghiệp đủ mạnh. Phát triển kinh tế tư nhân gắn liền với xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại là yêu cầu chiến lược nhằm nâng cao năng lực nội sinh, sức cạnh tranh và tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế trong kỷ nguyên mới.

Từ khóa: Kinh tế tư nhân; công nghiệp tự chủ; công nghiệp hóa, hiện đại hóa; thể chế kinh tế; năng lực nội sinh.

Developing the private sector in association with building an autonomous and modern industry

This article analyzes the role and position of the private sector in the strategy of building an autonomous and modern industrial base in Vietnam during the new development phase. Based on the Party's viewpoint on the comprehensive development of all economic sectors, it clarifies the requirement to reposition the private sector from a growth driver to a vital component of national industrial capacity. Analysis of the current situation reveals that the main bottlenecks in the private sector lie in scale, technology, supply chain integration and innovation. The paper proposes institutional refinements to secure property rights, market-based resource allocation and the formation of strong private industrial conglomerates. Developing the private economy in conjunction with building an autonomous and modern industrial base is a strategic requirement to enhance the endogenous capacity, competitiveness and independence and self-reliance of the economy in the new era.

Keywords: Private economy; autonomous industry; industrialization and modernization; economic institutions; endogenous capacity.

JEL classification: P12, O14, O31

https://doi.org/10.65771/ati-jas.04202606

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự dịch chuyển mạnh mẽ của các chuỗi cung ứng toàn cầu, nền kinh tế thế giới đang chứng kiến nhiều biến đổi sâu sắc về cơ cấu sản xuất, công nghệ và quan hệ kinh tế. Cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc, xu hướng chuyển đổi số và kinh tế xanh cũng đặt ra nhiều thách thức mới đối với mỗi quốc gia trong việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và có năng lực cạnh tranh cao. Đối với Việt Nam, một quốc gia đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, những thay đổi này vừa tạo ra cơ hội, vừa đặt ra yêu cầu cấp bách phải nâng tầm nền công nghiệp quốc gia. Muốn vậy, nền kinh tế không thể chỉ dựa vào lợi thế lao động giá rẻ hay vốn đầu tư nước ngoài mà phải chuyển đổi mô hình phát triển sang nền kinh tế dựa trên đổi mới sáng tạo, công nghệ chủ động và hệ sinh thái doanh nghiệp nội địa mạnh.

Trước bối cảnh đó, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ mục tiêu chiến lược “đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, nâng cao năng lực chống chịu và thích ứng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Đây không chỉ là bài toán kinh tế thuần túy mà còn là vấn đề then chốt bảo đảm an ninh kinh tế, chủ quyền quốc gia trong điều kiện hội nhập sâu rộng và cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt. Việc xây dựng một nền công nghiệp tự chủ, hiện đại trở thành yêu cầu chiến lược nhằm tạo dựng nguồn lực nội sinh bền vững, giảm thiểu sự phụ thuộc vào công nghệ, nguyên liệu, cũng như các yếu tố bên ngoài có thể gây ảnh hưởng đến ổn định và phát triển kinh tế đất nước.

Một điểm nhấn quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam hiện nay là sự phát triển đồng bộ giữa các thành phần kinh tế: Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, trong khi kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các loại hình kinh tế khác giữ vai trò quan trọng (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Tuy nhiên, thực tế cho thấy khu vực kinh tế tư nhân, dù đã có bước phát triển nhanh chóng về số lượng và quy mô, vẫn còn nhiều hạn chế trong việc vươn lên trở thành trụ cột thực sự của nền công nghiệp quốc gia. Khu vực này chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ tạo việc làm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ngắn hạn và đóng góp vào thương mại, dịch vụ nhiều hơn là tham gia sâu và chủ động trong các ngành công nghiệp then chốt, công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ.

Do đó, vấn đề đặt ra là cần có sự tái định vị căn bản vai trò của kinh tế tư nhân trong giai đoạn phát triển mới: từ một động lực tăng trưởng sang cấu phần quan trọng trong năng lực công nghiệp quốc gia. Việc này đòi hỏi phải thay đổi tư duy và chiến lược phát triển, không chỉ tập trung vào mở rộng số lượng doanh nghiệp mà phải nâng cao chất lượng, năng lực nội sinh, khả năng làm chủ công nghệ và đổi mới sáng tạo của khu vực tư nhân. Đây cũng đồng thời là yêu cầu bức thiết nhằm hiện thực hóa chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước một cách bền vững, góp phần xây dựng nền kinh tế Việt Nam tự chủ, vững mạnh trước các biến động toàn cầu.

Song hành với việc nâng cao năng lực của khu vực tư nhân, cần phải giải quyết những điểm nghẽn về quy mô vốn, công nghệ, năng lực quản trị, cũng như thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị giữa các doanh nghiệp tư nhân với kinh tế nhà nước và FDI. Điều này càng trở nên quan trọng khi Việt Nam hướng tới phát triển các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo công nghệ cao, công nghiệp phụ trợ và công nghệ số, những lĩnh vực đòi hỏi sự tham gia năng động, liên kết chặt chẽ và khả năng đổi mới sáng tạo cao. Thêm vào đó, việc thiết kế và hoàn thiện thể chế kinh tế theo hướng minh bạch, bình đẳng, tạo động lực đầu tư dài hạn cho doanh nghiệp tư nhân cũng là một nhân tố quyết định thành công cho định vị chiến lược này.

Những phân tích này cho thấy cần tập trung làm rõ vai trò, vị trí và thách thức của kinh tế tư nhân trong bối cảnh xây dựng nền công nghiệp tự chủ và hiện đại, đồng thời đề xuất các định hướng chiến lược và chính sách hỗ trợ nhằm chuyển hóa khu vực này trở thành trụ cột nội sinh quan trọng trong phát triển công nghiệp quốc gia.

2. Cấu trúc ba khu vực kinh tế trong nền công nghiệp quốc gia

Việt Nam phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với điểm đặc thù là sự tồn tại đồng thời, phát triển hài hòa của ba thành phần kinh tế cơ bản: kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Sự phối hợp và phân công rõ ràng vai trò, thế mạnh của từng khu vực được xác định là nhân tố then chốt cấu thành nền công nghiệp quốc gia đa dạng, năng động và bền vững. Đây là mô hình kinh tế chiến lược nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa với tầm nhìn xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trong bối cảnh toàn cầu có nhiều biến động phức tạp.

Kinh tế nhà nước: vai trò chủ đạo, định hướng chiến lược

Kinh tế nhà nước vẫn là trụ cột quan trọng trong nền kinh tế quốc dân với nhiệm vụ giữ vai trò chủ đạo, đặc biệt trong các ngành kinh tế trọng yếu mang tính chiến lược và quốc phòng an ninh như năng lượng, truyền tải điện, dầu khí, sản xuất vật liệu cơ bản, giao thông, viễn thông, công nghiệp quốc phòng… Khu vực này không chỉ đảm bảo quyền chủ động của Nhà nước trong hoạch định chính sách, điều tiết kinh tế vĩ mô mà còn là lực lượng đóng vai trò ổn định xã hội và dẫn dắt phát triển đồng bộ các lĩnh vực công nghiệp quan trọng. Việc duy trì vai trò này nhằm khắc phục sự phân tán nguồn lực và nguy cơ lệ thuộc vào các yếu tố ngoại sinh, đồng thời đảm nhận trọng trách thúc đẩy chuyển đổi công nghiệp truyền thống sang công nghiệp hiện đại, đổi mới sáng tạo có tính hệ thống và sức ảnh hưởng quy mô lớn.

Điểm đặc biệt của kinh tế nhà nước không nằm ở việc sở hữu hay quản lý mọi lĩnh vực mà quan trọng là sự định hướng chiến lược và kiểm soát các “điểm mấu chốt”, tạo ra những “mỏ neo” trong nền kinh tế giúp định hướng và thúc đẩy sự phát triển cân bằng cho các thành phần kinh tế khác. Điều này góp phần kiến tạo môi trường thể chế minh bạch, ổn định và công bằng để khu vực tư nhân và FDI yên tâm đầu tư phát triển.

Kinh tế tư nhân: một động lực quan trọng nhất của tăng trưởng và đổi mới

Khu vực kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế xuất phát từ bản chất năng động, linh hoạt và khả năng đổi mới sáng tạo của khu vực này, phù hợp với xu hướng phát triển công nghiệp hiện đại dựa trên tri thức, công nghệ và dịch vụ có giá trị gia tăng cao.

Kinh tế tư nhân có khả năng nhanh chóng thích ứng với biến động của thị trường, sáng tạo trong tổ chức quản trị, đổi mới công nghệ và đa dạng hóa sản phẩm. Đặc biệt, trong các ngành chế biến - chế tạo, công nghiệp phụ trợ, công nghệ số, kinh tế tư nhân thực sự là lực lượng chủ lực thúc đẩy gia tăng tỷ lệ nội địa hóa, phát triển chuỗi giá trị sản xuất ngành công nghiệp nội địa nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế. Các doanh nghiệp tư nhân cũng là “đầu tàu” trong phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, thúc đẩy cơ cấu nền kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hiện đại và bền vững.

Tuy nhiên, diễn ra song song với ưu thế, kinh tế tư nhân vẫn còn nhiều hạn chế lớn về quy mô, năng lực tài chính và trình độ quản trị, khoa học công nghệ thấp khiến cho nhiều doanh nghiệp tư nhân còn khó tiếp cận công nghệ lõi, thiếu nguồn lực đầu tư dài hạn và hạn chế trong thực thi đổi mới sáng tạo. Chính vì vậy, việc phát triển kinh tế tư nhân cần đi đôi với các giải pháp hoàn thiện thể chế tạo hành lang pháp lý minh bạch, bình đẳng; đồng thời nâng cao khả năng tiếp cận tài chính, đất đai, lao động có kỹ năng và công nghệ để khu vực này phát huy tối đa thế mạnh sáng tạo và năng lực sản xuất.

Khu vực FDI: nguồn vốn, công nghệ và cầu nối toàn cầu quan trọng

Khu vực FDI tiếp tục giữ vai trò không thể thay thế trong việc cung cấp vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản trị mới và kết nối Việt Nam với các mạng sản xuất, chuỗi giá trị đa quốc gia. Đặc biệt tại Việt Nam, khu vực FDI đóng vai trò trung tâm trong thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu chủ lực, đưa Việt Nam gia nhập sâu hơn các thị trường quốc tế lớn như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản.

Theo Văn kiện Đại hội XIV, phát triển FDI gắn với chuyển giao công nghệ có chọn lọc và phát triển công nghiệp phụ trợ là nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực tự chủ công nghiệp của quốc gia (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Điều này đòi hỏi xây dựng các cơ chế thúc đẩy liên kết hiệu quả giữa khu vực FDI với doanh nghiệp nội địa, nhất là doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước.

Mặc dù vậy, khu vực FDI hiện nay vẫn còn tồn tại các rào cản về liên kết chuỗi giá trị với thị trường trong nước, tỷ lệ nội địa hóa còn thấp và độ sâu tham gia vào đổi mới sáng tạo chưa tương xứng. Do đó, việc nâng cao năng lực liên kết và hợp tác giữa FDI và kinh tế nội địa là một trong những yêu cầu trọng tâm nhằm hiện thực hóa mô hình công nghiệp tự chủ, hiện đại.

Sự vận hành đồng bộ, phối hợp có hiệu quả của ba thành phần kinh tế

Mô hình kinh tế ba thành phần này không chỉ đơn thuần là sự tồn tại song song mà là mối quan hệ tương hỗ phức hợp, đan xen, trong đó mỗi thành phần giữ vị trí, vai trò khác biệt nhưng cùng bổ trợ và thúc đẩy phát triển lẫn nhau. Sự vận hành hiệu quả của nền kinh tế thường gắn liền với chất lượng điều tiết và quản lý của Nhà nước theo nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và ổn định.

Cấu trúc ba khu vực kinh tế phải được phân công vai trò rõ ràng: kinh tế nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, điều tiết, phát triển các ngành then chốt, công nghiệp nặng; kinh tế tư nhân tập trung vào phát triển các ngành chế biến, chế tạo, công nghệ số và phụ trợ đồng thời trở thành động lực cơ bản của tăng trưởng và đổi mới sáng tạo; khu vực FDI cung cấp nguồn lực vốn, công nghệ tiên tiến và liên kết quốc tế. Sự kết hợp này tạo thành một hệ sinh thái sản xuất công nghiệp đồng bộ, đa dạng và có khả năng thích ứng cao, góp phần nâng cao tỷ trọng giá trị gia tăng trong các sản phẩm công nghiệp xuất khẩu và trong nước.

Việc điều phối vận hành linh hoạt ba khu vực kinh tế còn góp phần giảm thiểu các rủi ro do biến động thị trường quốc tế, đảm bảo tính tự chủ và ổn định cho nền công nghiệp quốc gia trước các cú sốc kinh tế toàn cầu hoặc các đứt gãy chuỗi cung ứng thế giới.

Nền công nghiệp tự chủ và hiện đại không thể xây dựng thành công nếu thiếu sự kết hợp đồng bộ, hài hòa giữa ba thành phần kinh tế đặc trưng này. Việc xây dựng cấu trúc kinh tế ba khu vực: nhà nước, tư nhân và FDI phát triển cân bằng, phối hợp nhịp nhàng, dưới sự điều tiết của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, là cơ sở lập luận và thực tiễn quyết định cho chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Chỉ khi nào kinh tế tư nhân được nâng lên tầm động lực quan trọng nhất, đồng thời khu vực FDI và nhà nước cùng phối hợp hiệu quả, thì Việt Nam mới có thể từng bước nâng cao năng lực nội sinh, phát triển công nghiệp hỗ trợ, đổi mới sáng tạo và làm chủ công nghệ. Điều này sẽ góp phần giảm thiểu sự lệ thuộc vào nhập khẩu, tăng cường sức chống chịu và thích ứng trước những thay đổi không dự đoán trước của kinh tế thế giới và xu hướng chuyển đổi kinh tế toàn cầu.

Như vậy, sự vận hành đồng bộ và phối hợp hài hòa ba khu vực kinh tế chính là trục nâng đỡ chiến lược phát triển bền vững, nền công nghiệp tự chủ và hiện đại, từ đó góp phần thực hiện thành công mục tiêu trở thành nước phát triển, có công nghiệp hiện đại theo hướng bền vững.

3. Thực trạng và điểm nghẽn của kinh tế tư nhân

Trong hơn ba thập niên đổi mới, kinh tế tư nhân tại Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc cả về số lượng doanh nghiệp và đóng góp vào GDP, đồng thời tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho xã hội. Có thể khẳng định rằng khu vực tư nhân đã trở thành động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế đất nước. Theo các số liệu mới nhất, kinh tế tư nhân hiện chiếm khoảng 43%-45% GDP và chiếm tới hơn 96% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, phần lớn là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh nhưng thiếu chiều sâu, đặc biệt là về quy mô, năng lực công nghệ và đổi mới sáng tạo, vẫn là những điểm nghẽn lớn cản trở kinh tế tư nhân trở thành trụ cột thực sự của nền công nghiệp tự chủ và hiện đại.

thumbnail

Quy mô vốn và năng lực tài chính hạn chế

Một trong những điểm nghẽn nổi bật nhất của khu vực tư nhân là quy mô tài chính còn rất hạn chế và không đồng đều. Phần lớn doanh nghiệp tư nhân là các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, vốn trung bình chỉ đạt khoảng 12 tỷ đồng, thấp hơn nhiều so với doanh nghiệp nhà nước (120 tỷ đồng) và FDI (300 tỷ đồng). Quy mô nhỏ khiến doanh nghiệp tư nhân khó tiếp cận nguồn vốn vay lớn và các nguồn tài chính dài hạn cần thiết cho đầu tư vào công nghệ, thiết bị hiện đại, nghiên cứu phát triển (R&D) và mở rộng quy mô sản xuất (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2024).

Năng lực tài chính thấp cũng ảnh hưởng tới khả năng doanh nghiệp tư nhân chịu đựng các cú sốc thị trường và áp lực cạnh tranh khốc liệt trong quá trình hội nhập toàn cầu. Do đó, nhiều doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chủ yếu hoạt động trên các lĩnh vực có vốn thấp, rủi ro cao và giá trị gia tăng ít, khó vươn ra quy mô công nghiệp hóa.

Vị thế và vai trò trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo

Khu vực tư nhân tham gia mạnh vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, tuy nhiên đa phần tham gia ở các công đoạn gia công, lắp ráp với công nghệ và giá trị gia tăng thấp. Tỷ trọng nội địa hóa trong các khâu sản xuất của khối tư nhân thường thấp, do phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu linh kiện, vật liệu.

Ngược lại, khu vực FDI chiếm ưu thế áp đảo với tỷ lệ đến 72%-75% tổng kim ngạch xuất khẩu, đặc biệt trong các lĩnh vực kỹ thuật cao như điện tử, dệt may, da giày… Điều này cho thấy doanh nghiệp tư nhân chưa có nhiều doanh nghiệp đủ lớn, đủ năng lực cạnh tranh để tham gia sâu và chủ động trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Điều này đặt ra thách thức cấp bách đối với khu vực tư nhân là phải nâng cao năng lực sản xuất, tập trung phát triển công nghiệp phụ trợ, đẩy mạnh nội địa hóa và tạo ra các sản phẩm có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn nhằm từng bước giảm lệ thuộc vào nguồn nhập khẩu, tăng tính cạnh tranh trong nước và quốc tế.

Hạn chế về năng lực đổi mới sáng tạo

Một trong những điểm nghẽn cơ bản khác của kinh tế tư nhân là năng lực đổi mới sáng tạo còn rất hạn chế. Mức đầu tư cho nghiên cứu và phát triển của khu vực tư nhân đang chiếm chưa đến 1% GDP, thấp hơn nhiều so với khu vực nhà nước (1,8%) và FDI (2,4%). Doanh nghiệp tư nhân còn thiếu nguồn lực tài chính, nhân lực và công nghệ để đầu tư mạnh mẽ vào hoạt động R&D.

Tỷ lệ doanh nghiệp tư nhân sở hữu bằng sáng chế, phát minh cũng chỉ chiếm khoảng 15% tổng số sáng chế quốc gia, phân bổ chủ yếu tập trung ở một số doanh nghiệp lớn. Phần lớn doanh nghiệp tư nhân vẫn dựa vào công nghệ nhập khẩu hoặc gia công theo đơn đặt hàng, chưa đủ năng lực để chủ động phát triển công nghệ lõi hay tạo ra sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam có giá trị cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế.

Hệ thống hỗ trợ đổi mới sáng tạo, liên kết giữa doanh nghiệp tư nhân với viện nghiên cứu, trường đại học và các trung tâm chuyển giao công nghệ còn yếu, chưa phát huy vai trò thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực công nghệ một cách bền vững.

Liên kết chuỗi giá trị và hệ sinh thái công nghiệp còn yếu

Hiện trạng liên kết giữa doanh nghiệp tư nhân với khu vực nhà nước và đặc biệt là các doanh nghiệp FDI còn phân tán, thiếu chiều sâu và thiếu sự phối hợp chiến lược. Các chuỗi cung ứng trong nước còn nhỏ lẻ, phân mảnh và chưa tạo thành các hệ sinh thái công nghiệp đủ sức cạnh tranh. Hệ lụy là rất ít các doanh nghiệp tư nhân lớn có khả năng dẫn dắt, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và lan tỏa giá trị gia tăng cho các doanh nghiệp nhỏ hơn trong chuỗi.

Không có các tập đoàn tư nhân công nghiệp lớn, có chiều sâu và quy mô đủ mạnh, kéo theo sự thiếu hụt nguồn lực để đầu tư dài hạn, nghiên cứu phát triển sản phẩm công nghệ cao. Điều này khiến doanh nghiệp tư nhân thường bị bó hẹp trong các phân khúc thị trường thấp về giá trị kỹ thuật hoặc các công đoạn sản xuất thâm dụng lao động.

Các thách thức về thể chế và môi trường kinh doanh

Bên cạnh những hạn chế nội tại, môi trường thể chế và chính sách hỗ trợ cho phát triển kinh tế tư nhân còn nhiều bất cập, rào cản. Việc tiếp cận đất đai, các nguồn vốn tín dụng, chính sách hỗ trợ công nghiệp phụ trợ và công nghệ chưa đồng bộ và còn nhiều thủ tục phức tạp, dẫn đến thiếu động lực đầu tư dài hạn cho doanh nghiệp tư nhân.

Tình trạng chưa minh bạch và chưa bình đẳng về tài chính, thị trường và nguồn lực khác cũng tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh và kìm hãm khả năng phát triển bứt phá của doanh nghiệp tư nhân. Ngoài ra, nhu cầu nâng cao năng lực quản trị, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và kỹ năng đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp tư nhân vẫn còn là yêu cầu chưa được giải quyết triệt để.

4. Định vị lại kinh tế tư nhân trong chiến lược công nghiệp hóa

Để kinh tế tư nhân trở thành một cấu phần thiết yếu trong năng lực công nghiệp quốc gia, việc định vị lại vai trò của khu vực này trong chiến lược công nghiệp hóa của Việt Nam là vô cùng cần thiết. Trước hết, cần xác lập rõ vai trò chiến lược của kinh tế tư nhân trong việc nâng cao năng lực sản xuất, làm chủ công nghệ và mở rộng chuỗi giá trị, nhất là trong các ngành chế biến, chế tạo, công nghiệp phụ trợ và công nghệ số. Việc này đòi hỏi khu vực tư nhân không chỉ là một bộ phận tham gia mà phải trở thành lực lượng dẫn dắt, thúc đẩy sự phát triển công nghiệp bền vững và hiện đại, tương xứng với vị trí “động lực quan trọng nhất” được Đại hội Đảng XIV khẳng định.

Song song đó, cần có sự phân công rõ ràng vai trò giữa ba khu vực kinh tế là nhà nước, tư nhân và vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc nắm giữ các ngành then chốt, đảm bảo an ninh kinh tế và chủ quyền quốc gia, đồng thời làm đầu tàu cho sự ổn định và phát triển dài hạn nền công nghiệp. Kinh tế tư nhân được phát huy tính linh hoạt, đổi mới và sáng tạo, làm trụ cột công nghiệp trong các lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh và tiềm năng phát triển công nghệ cao. Trong khi đó, khu vực FDI đóng vai trò cung cấp vốn, công nghệ tiên tiến và kết nối toàn cầu cho nền công nghiệp, đồng thời cần tăng cường liên kết và chuyển giao công nghệ với doanh nghiệp tư nhân trong nước, qua đó hỗ trợ phát triển năng lực công nghiệp nội địa bền vững.

Việc thúc đẩy đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) là yếu tố then chốt để tạo nên hệ sinh thái đổi mới sáng tạo giữa doanh nghiệp tư nhân, viện nghiên cứu và các trường đại học. Đây là nền móng giúp doanh nghiệp tư nhân nâng cao năng lực sản xuất, phát triển công nghệ lõi, tạo ra sản phẩm mới mang giá trị gia tăng cao và đón đầu xu hướng chuyển đổi số, công nghiệp xanh. Thực tế đòi hỏi chính sách không chỉ dừng lại ở việc khuyến khích mà còn phải hỗ trợ thiết thực nhằm giúp doanh nghiệp tư nhân vượt qua những rào cản về vốn, nhân lực và kỹ thuật.

Ngoài ra, cần tập trung hình thành những tập đoàn tư nhân công nghiệp quy mô lớn, đủ sức cạnh tranh quốc tế và có khả năng dẫn dắt sự phát triển chuỗi cung ứng nội địa. Những tập đoàn này sẽ trở thành đầu tàu thúc đẩy mạng lưới doanh nghiệp phụ trợ phát triển đồng bộ, từ đó tạo ra sức mạnh tổng hợp, đóng góp quan trọng trong việc từng bước hiện thực hóa mục tiêu công nghiệp tự chủ và hiện đại.

Để đạt được các mục tiêu trên, việc hoàn thiện thể chế kinh tế là điều kiện tiên quyết. Cần bảo đảm quyền sở hữu tài sản và quyền kinh doanh tự do, bình đẳng cho các thành phần kinh tế, giảm thiểu những chồng chéo và phức tạp trong pháp luật, tạo dựng môi trường pháp lý minh bạch, ổn định, giúp doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn. Sự công bằng trong phân bổ nguồn lực đất đai, tín dụng và đầu tư công cũng rất quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực xã hội và phát huy tối đa tiềm năng khu vực tư nhân.

Song song với đó, việc phát triển thị trường vốn dài hạn, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ công nghệ là những giải pháp cần được đẩy mạnh nhằm tạo thêm kênh huy động nguồn vốn cho đổi mới sáng tạo và mở rộng sản xuất của doanh nghiệp tư nhân. Chính sách công nghiệp cũng cần được xây dựng trên nguyên tắc chọn lọc và dựa trên tín hiệu thị trường, ưu tiên các ngành có tiềm năng công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, năng lượng tái tạo và kinh tế số, đi kèm với các công cụ ưu đãi thuế, quỹ hỗ trợ đổi mới sáng tạo nhằm tạo động lực cho doanh nghiệp phát triển.

Việc thúc đẩy liên kết chặt chẽ trong nước giữa các doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp nhỏ và vừa, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo cũng đóng vai trò quan trọng. Điều này tạo nên hệ sinh thái đổi mới sáng tạo liên ngành, tăng khả năng chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực cán bộ kỹ thuật và quản lý trong khu vực tư nhân. Đồng thời, khuyến khích khu vực FDI hợp tác hiệu quả hơn trong chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao tại Việt Nam, góp phần nâng cao năng lực nội sinh cho nền công nghiệp.

Cuối cùng, phát triển các cơ chế hợp tác công - tư (PPP) nhằm huy động hiệu quả nguồn vốn tư nhân cho phát triển hạ tầng kinh tế và công nghiệp chiến lược là điều kiện cần thiết để tạo nền tảng vật chất và kỹ thuật thuận lợi cho sự phát triển công nghiệp tư nhân lớn mạnh. Môi trường hợp tác minh bạch, cạnh tranh công bằng và chính sách ưu đãi hợp lý sẽ thu hút đầu tư tư nhân vào các dự án có quy mô lớn và tiềm năng công nghệ cao, góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trên nền tảng phát triển bền vững.

Tóm lại, định vị lại và phát triển kinh tế tư nhân trong chiến lược công nghiệp hóa đòi hỏi sự phối hợp đa dạng về chiến lược, tổ chức thực hiện và hoàn thiện thể chế, nhằm tạo nên lực lượng sản xuất năng động, sáng tạo và có quy mô, sức cạnh tranh quốc tế; qua đó góp phần nâng cao năng lực nội sinh và tính tự chủ của nền công nghiệp Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số sâu rộng.

Kết luận

Xây dựng nền công nghiệp tự chủ và hiện đại không chỉ là một mục tiêu kinh tế đơn thuần mà còn là nhiệm vụ chiến lược tối quan trọng, gắn liền chặt chẽ với sự độc lập và tự chủ kinh tế quốc gia. Trong bối cảnh kỷ nguyên chuyển đổi số diễn ra nhanh chóng và sự cạnh tranh toàn cầu ngày càng quyết liệt, việc phụ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu công nghệ và gia công sẽ khiến nền công nghiệp dễ bị tổn thương và khó bền vững. Một nền công nghiệp tự chủ đòi hỏi không chỉ khả năng sản xuất mà còn phải có năng lực làm chủ công nghệ, đổi mới sáng tạo và xây dựng chuỗi giá trị công nghiệp nội địa vững chắc, qua đó giảm dần sự lệ thuộc vào nguồn cung bên ngoài và tăng cường khả năng thích ứng trước những sóng gió của kinh tế thế giới. Trong đó, kinh tế tư nhân cần được định vị lại, vượt qua vai trò đơn thuần là động lực tăng trưởng kinh tế ngắn hạn để trở thành trụ cột chủ chốt, trung tâm phát triển năng lực nội sinh của nền công nghiệp quốc gia. Khu vực tư nhân phải trở thành lực lượng sản xuất năng động, sáng tạo và linh hoạt, có khả năng cạnh tranh không chỉ trong phạm vi khu vực mà trên cả thị trường quốc tế.

Việc nâng tầm vai trò của kinh tế tư nhân còn đồng nghĩa với việc tạo dựng những tập đoàn công nghiệp tư nhân có quy mô lớn, đủ sức dẫn dắt chuỗi giá trị ngành, thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ và đổi mới công nghệ. Sự phối hợp hiệu quả giữa ba khu vực kinh tế: kinh tế nhà nước với vai trò chủ đạo trong các ngành then chốt, kinh tế tư nhân với thế mạnh đổi mới sáng tạo và tính linh hoạt cao, cùng khu vực đầu tư nước ngoài (FDI) cung cấp vốn, công nghệ và cầu nối thị trường toàn cầu, chính là nền tảng vững chắc để thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Việc phối hợp này chỉ có thể phát huy tối đa khi được vận hành trong khuôn khổ thể chế kinh tế minh bạch, công bằng, ổn định và dự báo được, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực xã hội. Hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế theo hướng kiến tạo cấu trúc phát triển, nâng cao năng lực quản lý nhà nước và xây dựng thị trường vốn dài hạn hiệu quả là những điều kiện tiên quyết để tạo môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo và phát triển các tập đoàn công nghiệp tư nhân mạnh. Đây chính là nền móng để Việt Nam hiện thực hóa định vị chiến lược nâng cao vai trò kinh tế tư nhân trong phát triển công nghiệp, từ đó kiên định bước đi vững chắc trên con đường xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại, góp phần nâng cao sức cạnh tranh tổng thể và bền vững của nền kinh tế quốc gia trong kỷ nguyên số và hội nhập mạnh mẽ toàn cầu.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư. (2024). Sách trắng Doanh nghiệp Việt Nam 2024. Hà Nội: Bộ Kế hoạch và Đầu tư;

2. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật;

3. Tổng cục Hải quan; Tổng cục Thống kê. (2024). Báo cáo xuất nhập khẩu năm 2024. Hà Nội;

4. Tổng cục Thống kê. (2024). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2024. Hà Nội.

Ngày nhận bài: 25/02/2026

Ngày biên tập: 02/3/2026

Ngày duyệt đăng: 10/4/2026

Tác giả:

Nguyễn Trọng Khang

Tập đoàn MK

Email: khangnt@mkgroup.com.vn

(Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, số tháng 4/2026)

Lượt xem: 0

Tác động của tăng trưởng kinh tế tới ô nhiễm môi trường thông qua các kênh tài chính và năng lượng: bằng chứng quốc tế và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và ô nhiễm môi trường đã trở thành một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu. Quá trình mở rộng sản xuất và gia tăng tiêu thụ năng lượng, đặc biệt là năng lượng hóa thạch, đã góp phần làm gia tăng đáng kể lượng phát thải khí nhà kính. Tuy nhiên, ở các giai đoạn phát triển cao hơn, tăng trưởng kinh tế có thể tạo điều kiện cải thiện chất lượng môi trường thông qua đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng bền vững. Trên cơ sở đó, nghiên cứu này tập trung phân tích tác động của tăng trưởng kinh tế đến phát thải CO2 bình quân đầu người, đồng thời xem xét vai trò của các kênh truyền dẫn quan trọng như phát triển tài chính, độ mở thương mại và năng lượng. Thông qua việc đánh giá các yếu tố này, nghiên cứu nhằm làm rõ cơ chế tác động giữa tăng trưởng và môi trường trong bối cảnh các nền kinh tế có mức độ phát triển khác nhau. Bên cạnh đó, nghiên cứu tiến hành so sánh sự khác biệt giữa nhóm quốc gia phát triển và đang phát triển, từ đó rút ra các hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy tăng trưởng theo hướng xanh, tăng cường sử dụng năng lượng sạch và hướng tới phát triển bền vững, đặc biệt đối với Việt Nam. Từ khóa: Tăng trưởng kinh tế, ô nhiễm môi trường, CO2, tài chính, năng lượng tái tạo, phát triển bền vững. Impact of economic growth on environmental pollution through financial, energy and trade channels: International evidence and lessons for Vietnam In the context of increasing globalization and climate change, the nexus between economic growth and environmental pollution is a primary global concern. The expansion of production and increased energy consumption, especially of fossil fuels, has contributed significantly to the increase in greenhouse gas emissions. However, at higher stages of development, economic growth can facilitate improvements in environmental quality through technological innovation, enhanced energy efficiency and a sustainable economic restructuring. This study analyzes the impact of growth on per capita CO2 emissions, considering the roles of financial development, trade openness and energy channels. By evaluating these factors, the study aims to clarify the mechanisms of interaction between growth and the environment in the context of economies with different levels of development. In addition, the study compares the differences between developed and developing countries and draws policy implications for green growth and clean energy adoption in Vietnam. Keywords: Economic growth, environmental pollution, CO_2, finance, renewable energy, sustainable development. JEL classification: O44, Q43, Q56, G23 https://doi.org/10.65771/ati-jas.04202605 1. Đặt vấn đề Trong bối cảnh toàn cầu hóa và tăng trưởng kinh tế diễn ra mạnh mẽ, mối quan hệ giữa tăng trưởng và ô nhiễm môi trường ngày càng trở thành một trong những vấn đề trung tâm trong nghiên cứu và hoạch định chính sách. Mặc dù tăng trưởng kinh tế góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống, quá trình này đồng thời tạo ra áp lực đáng kể lên môi trường thông qua gia tăng tiêu thụ năng lượng, đặc biệt là năng lượng hóa thạch và kéo theo sự gia tăng phát thải khí nhà kính. Trong đó, phát thải CO2 được xem là chỉ tiêu quan trọng phản ánh mức độ ô nhiễm gắn liền với hoạt động kinh tế. Các nghiên cứu trước đây, đặc biệt dựa trên khung lý thuyết Đường cong Kuznets môi trường (EKC), cho thấy mối quan hệ phi tuyến giữa tăng trưởng kinh tế và ô nhiễm môi trường, trong đó ô nhiễm có xu hướng gia tăng ở giai đoạn đầu và giảm dần khi thu nhập đạt mức cao hơn. Tuy nhiên, bằng chứng thực nghiệm vẫn chưa thống nhất, đặc biệt khi so sánh giữa các quốc gia có trình độ phát triển khác nhau. Các quốc gia phát triển thường kiểm soát ô nhiễm hiệu quả hơn nhờ vào công nghệ tiên tiến và hệ thống chính sách chặt chẽ, trong khi các quốc gia đang phát triển vẫn phải đối mặt với sự đánh đổi giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường. Xuất phát từ thực tế đó, nghiên cứu này tập trung phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát thải CO2 trên dữ liệu của 28 quốc gia trong giai đoạn 2006-2024, đồng thời xem xét sự khác biệt giữa nhóm nước phát triển và đang phát triển. Bên cạnh việc đánh giá tác động trực tiếp của tăng trưởng kinh tế, nghiên cứu còn chú trọng làm rõ vai trò của các kênh truyền dẫn quan trọng như tài chính và năng lượng trong việc định hình mối quan hệ này. Cụ thể, phát triển tài chính có thể tác động đến môi trường theo hai chiều: vừa thúc đẩy mở rộng sản xuất và gia tăng phát thải, vừa có khả năng hỗ trợ đầu tư vào công nghệ sạch và cải thiện chất lượng môi trường. Đồng thời, cơ cấu và hiệu quả sử dụng năng lượng được xem là yếu tố then chốt quyết định mức độ phát thải, đặc biệt trong bối cảnh chuyển dịch từ năng lượng hóa thạch sang năng lượng tái tạo. Việc xem xét đồng thời các yếu tố này không chỉ giúp làm rõ cơ chế tác động giữa tăng trưởng và môi trường mà còn góp phần lý giải sự khác biệt giữa các nhóm quốc gia. Trên cơ sở đó, nghiên cứu hướng tới việc đề xuất các hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng bền vững, tăng cường sử dụng năng lượng sạch và nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường, đặc biệt đối với Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng. 2. Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyết Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và ô nhiễm môi trường là một trong những chủ đề trung tâm của kinh tế học môi trường trong nhiều thập kỷ qua. Về mặt lý thuyết, tăng trưởng kinh tế phản ánh sự gia tăng sản lượng và thu nhập, thường được đo lường thông qua GDP hoặc GDP bình quân đầu người. Tuy nhiên, quá trình này đồng thời tạo ra áp lực lớn lên môi trường thông qua gia tăng tiêu thụ năng lượng, khai thác tài nguyên và phát thải chất ô nhiễm. Khung lý thuyết phổ biến nhất để phân tích mối quan hệ này là giả thuyết Đường cong Kuznets môi trường (Environmental Kuznets Curve - EKC). Theo đó, mối quan hệ giữa thu nhập và ô nhiễm môi trường có dạng phi tuyến hình chữ U ngược: ở giai đoạn đầu phát triển, tăng trưởng kinh tế làm gia tăng ô nhiễm do công nghiệp hóa và tiêu dùng tăng; tuy nhiên, khi thu nhập đạt đến một ngưỡng nhất định, ô nhiễm có xu hướng giảm nhờ tiến bộ công nghệ, thay đổi cơ cấu kinh tế và chính sách môi trường hiệu quả hơn. Dù được kiểm định rộng rãi, các bằng chứng thực nghiệm về EKC vẫn chưa thống nhất, đặc biệt giữa nhóm nước phát triển và đang phát triển. Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy ba hướng tác động chính. Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế có thể làm gia tăng ô nhiễm trong giai đoạn đầu do mở rộng sản xuất, sử dụng năng lượng hóa thạch và gia tăng phát thải. Thứ hai, tăng trưởng có thể góp phần cải thiện môi trường khi đi kèm với đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả năng lượng và tăng cường thể chế môi trường. Thứ ba, nhiều nghiên cứu gần đây chỉ ra mối quan hệ phi tuyến và không đối xứng, phụ thuộc vào cấu trúc kinh tế, mức độ đô thị hóa, toàn cầu hóa và chất lượng thể chế. Về phương pháp đo lường, tăng trưởng kinh tế thường được đại diện bởi GDP hoặc GDP bình quân đầu người, trong khi ô nhiễm môi trường được đo lường thông qua các chỉ số trực tiếp như chất lượng không khí (AQI), ô nhiễm nước hoặc các chỉ số tổng hợp. Tuy nhiên, trong các nghiên cứu kinh tế thực nghiệm, phát thải CO2 được sử dụng phổ biến nhất như một biến đại diện cho ô nhiễm môi trường do phản ánh tương đối đầy đủ áp lực môi trường gắn với hoạt động kinh tế và có tính sẵn có cao trong dữ liệu quốc tế. Bên cạnh các cách tiếp cận truyền thống, các nghiên cứu gần đây nhấn mạnh vai trò của các kênh truyền dẫn trung gian, đặc biệt là kênh tài chính, kênh năng lượng và kênh thương mại trong việc định hình mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và ô nhiễm môi trường. Về mặt lý thuyết, kênh tài chính được lý giải thông qua vai trò của hệ thống tài chính trong phân bổ nguồn lực và thúc đẩy đầu tư. Sự phát triển tài chính có thể làm gia tăng ô nhiễm thông qua việc mở rộng tín dụng, kích thích sản xuất và tiêu dùng, từ đó làm tăng nhu cầu năng lượng và phát thải. Đối với kênh năng lượng, lý thuyết kinh tế môi trường chỉ ra rằng cơ cấu năng lượng và hiệu quả sử dụng năng lượng là yếu tố quyết định trực tiếp đến mức độ ô nhiễm. Các nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào năng lượng hóa thạch thường có mức phát thải CO2 cao hơn, trong khi việc gia tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo và cải thiện cường độ năng lượng (energy intensity) có thể làm giảm đáng kể tác động tiêu cực đến môi trường. Ngoài ra, toàn cầu hóa và độ mở thương mại cũng có thể ảnh hưởng gián tiếp thông qua việc dịch chuyển các ngành thâm dụng năng lượng và phát thải giữa các quốc gia. Đối với kênh thương mại, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, cần xây dựng các chính sách thương mại gắn với tiêu chuẩn môi trường. Việc tăng cường kiểm soát đối với các ngành thâm dụng năng lượng và phát thải cao, đồng thời khuyến khích xuất khẩu các sản phẩm thân thiện với môi trường, sẽ giúp hạn chế tác động tiêu cực từ hiệu ứng “thiên đường ô nhiễm”. Ngoài ra, cần tận dụng thương mại quốc tế như một kênh tiếp cận công nghệ sạch và nâng cao tiêu chuẩn sản xuất trong nước. Từ góc độ tích hợp, việc xem xét đồng thời tăng trưởng kinh tế cùng với các yếu tố tài chính và năng lượng cho phép mở rộng khung phân tích EKC theo hướng đa chiều hơn, phản ánh đầy đủ các cơ chế tác động trong bối cảnh toàn cầu hóa và biến đổi khí hậu. Cách tiếp cận này cũng giúp giải thích rõ hơn sự khác biệt trong kết quả thực nghiệm giữa các nhóm quốc gia, khi mà cùng một mức tăng trưởng nhưng mức độ ô nhiễm có thể khác nhau đáng kể do khác biệt về phát triển tài chính, cơ cấu năng lượng và năng lực công nghệ. Từ tổng quan lý thuyết và thực nghiệm, có thể thấy rằng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và ô nhiễm môi trường không mang tính tuyến tính đơn giản mà phụ thuộc vào nhiều yếu tố trung gian. Điều này đặt ra yêu cầu cần kiểm định thực nghiệm trong từng bối cảnh cụ thể nhằm làm rõ cơ chế tác động và đề xuất các chính sách phù hợp cho Việt Nam. 3. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu này được thực hiện dựa trên cách tiếp cận định lượng kết hợp với phân tích kinh tế nhằm làm rõ mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát thải CO2, đồng thời xem xét vai trò của các kênh truyền dẫn trung gian như tài chính, năng lượng và thương mại. Trên cơ sở khung lý thuyết về tăng trưởng kinh tế và môi trường, nghiên cứu lựa chọn hệ thống các biến đại diện phù hợp. Cụ thể, phát thải CO2 bình quân đầu người được sử dụng để phản ánh mức độ ô nhiễm môi trường, trong khi GDP bình quân đầu người đại diện cho tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, các yếu tố như phát triển tài chính, độ mở thương mại, cơ cấu năng lượng và bất ổn năng lượng được đưa vào phân tích nhằm phản ánh các kênh tác động khác nhau đến môi trường. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ các nguồn thứ cấp đáng tin cậy như Ngân hàng Thế giới và các tổ chức quốc tế trong giai đoạn 2006-2024. Trên cơ sở dữ liệu này, nghiên cứu tiến hành phân tích xu hướng, so sánh và đánh giá sự biến động của các biến theo thời gian và giữa các quốc gia, từ đó làm rõ đặc điểm và chiều hướng tác động giữa tăng trưởng kinh tế và ô nhiễm môi trường. Bên cạnh đó, các phương pháp phân tích dữ liệu bảng được sử dụng như một công cụ hỗ trợ nhằm củng cố các nhận định từ phân tích. Nghiên cứu cũng xem xét các đặc điểm của dữ liệu như sự khác biệt giữa các quốc gia và biến động theo thời gian, qua đó áp dụng các phương pháp xử lý phù hợp nhằm đảm bảo độ tin cậy của kết quả. Việc sử dụng các kỹ thuật ước lượng thích hợp giúp hạn chế các sai lệch tiềm ẩn trong dữ liệu và nâng cao tính vững của các kết luận nghiên cứu. 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận Kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại mối quan hệ phi tuyến dạng chữ U ngược giữa GDP bình quân đầu người và phát thải CO2, qua đó khẳng định sự phù hợp của Đường cong Kuznets môi trường (EKC) trong bối cảnh nghiên cứu. Xét về bản chất kinh tế, kết quả này phản ánh sự vận động đồng thời của ba hiệu ứng chính gồm hiệu ứng quy mô, hiệu ứng cơ cấu và hiệu ứng kỹ thuật. Trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển, tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào mở rộng sản xuất và gia tăng tiêu thụ năng lượng, đặc biệt là năng lượng hóa thạch, dẫn đến sự gia tăng phát thải CO2. Tuy nhiên, khi nền kinh tế đạt đến một mức thu nhập nhất định, xu hướng chuyển dịch sang các ngành ít phát thải hơn, cùng với việc ứng dụng công nghệ sạch và nâng cao tiêu chuẩn môi trường, góp phần làm giảm mức độ ô nhiễm. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu kinh điển như Stern (1996), Dinda (2004) và Cole (2004), đồng thời tương đồng với các nghiên cứu gần đây như Alam và cộng sự (2016) hay Shahbaz & cộng sự (2018). Tuy nhiên, cần lưu ý rằng mối quan hệ này không mang tính tự động, mà phụ thuộc đáng kể vào chất lượng thể chế, trình độ công nghệ và cơ cấu năng lượng của từng quốc gia. Đối với phát triển tài chính, kết quả cho thấy yếu tố này có tác động theo hướng làm gia tăng phát thải CO2. Về mặt kinh tế, điều này phản ánh hiệu ứng mở rộng quy mô khi sự phát triển của hệ thống tài chính giúp gia tăng khả năng huy động và phân bổ vốn, từ đó thúc đẩy đầu tư và tiêu dùng. Trong bối cảnh các hoạt động sản xuất vẫn mang tính thâm dụng năng lượng, dòng vốn có xu hướng chảy vào các ngành phát thải cao, qua đó làm gia tăng ô nhiễm môi trường. Phát hiện này tương đồng với nghiên cứu của Tamazian & cộng sự (2009) và Ozturk & Acaravci (2013). Tuy nhiên, tác động của phát triển tài chính được nhận thấy là mang tính điều kiện, phụ thuộc vào định hướng phân bổ vốn và mức độ phát triển của thị trường tài chính. Điều này hàm ý rằng trong các nền kinh tế đang phát triển, tài chính có thể khuếch đại ô nhiễm, trong khi ở các nền kinh tế phát triển hơn, hệ thống tài chính có thể đóng vai trò hỗ trợ quá trình chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng xanh. Đối với kênh năng lượng, kết quả nghiên cứu cho thấy tác động không đồng nhất giữa các yếu tố đại diện. Cụ thể, việc gia tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo có tác động làm giảm phát thải CO2, phản ánh vai trò quan trọng của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong việc cải thiện chất lượng môi trường. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Apergis & Payne (2010) cũng như Majeed & Luni (2019), nhấn mạnh rằng thay thế năng lượng hóa thạch bằng năng lượng sạch là một trong những giải pháp hiệu quả nhằm giảm phát thải. Ngược lại, bất ổn năng lượng không cho thấy tác động rõ ràng đến phát thải CO2. Điều này có thể được lý giải bởi đây là một chỉ tiêu tổng hợp, chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như cơ cấu ngành, trình độ công nghệ và hiệu quả sử dụng năng lượng, dẫn đến sự khác biệt đáng kể giữa các quốc gia. Kết quả này tương đồng với Sadorsky (2014) và Shahbaz và cộng sự (2013), nhưng khác với Ang (2007), cho thấy tác động của yếu tố năng lượng mang tính điều kiện và phụ thuộc vào bối cảnh cụ thể. Như vậy, có thể thấy rằng chuyển dịch cơ cấu năng lượng đóng vai trò quan trọng hơn so với việc chỉ kiểm soát mức tiêu thụ năng lượng trong việc giảm phát thải CO2. Đối với độ mở thương mại, kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố này có tác động làm gia tăng phát thải CO2 trong bối cảnh nghiên cứu. Về mặt kinh tế, điều này phản ánh hiệu ứng quy mô khi hội nhập thương mại thúc đẩy mở rộng sản xuất, gia tăng lưu chuyển hàng hóa và hoạt động vận tải, từ đó làm tăng tiêu thụ năng lượng và phát thải khí nhà kính. Đồng thời, kết quả này cũng gợi ý sự tồn tại của giả thuyết “thiên đường ô nhiễm”, khi các quốc gia có tiêu chuẩn môi trường thấp có xu hướng thu hút các ngành sản xuất gây ô nhiễm. Phát hiện này phù hợp với các nghiên cứu của Suri & Chapman (1996) và Cole (2004), nhưng khác với Frankel & Rose (2005), khi cho rằng thương mại có thể góp phần cải thiện môi trường thông qua chuyển giao công nghệ và nâng cao tiêu chuẩn sản xuất. Sự khác biệt này cho thấy tác động của thương mại phụ thuộc lớn vào trình độ phát triển, chất lượng thể chế và khả năng hấp thụ công nghệ của từng quốc gia. 5. Khuyến nghị Dựa trên kết quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, năng lượng và phát thải CO2, bài viết đề xuất một số khuyến nghị chính sách nhằm hướng tới mục tiêu tăng trưởng bền vững tại Việt Nam. Thứ nhất, hoàn thiện chính sách năng lượng và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng Kết quả nghiên cứu cho thấy gia tăng hoạt động kinh tế và tiêu thụ năng lượng có xu hướng làm gia tăng phát thải CO2, đặc biệt trong bối cảnh các quốc gia đang phát triển. Do đó, việc xây dựng và thực thi chính sách năng lượng hiệu quả là yếu tố then chốt nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường. Trong thời gian tới, Chính phủ cần tiếp tục hoàn thiện khung chính sách năng lượng theo hướng giảm dần sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và thúc đẩy phát triển các nguồn năng lượng tái tạo như điện gió, điện mặt trời. Đồng thời, cần đẩy mạnh các chương trình tiết kiệm năng lượng, nâng cao nhận thức của người dân và doanh nghiệp về sử dụng năng lượng hiệu quả. Việc kết hợp giữa điều chỉnh cơ cấu năng lượng và cải thiện hành vi tiêu dùng sẽ góp phần giảm áp lực lên môi trường và hệ thống năng lượng quốc gia. Thứ hai, thúc đẩy chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng xanh Kết quả thực nghiệm cho thấy tăng trưởng kinh tế có thể làm gia tăng ô nhiễm trong giai đoạn đầu phát triển, phù hợp với giả thuyết EKC. Điều này đặt ra yêu cầu chuyển đổi từ mô hình tăng trưởng truyền thống sang mô hình tăng trưởng xanh nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Nhà nước cần hoàn thiện các cơ chế, chính sách thúc đẩy kinh tế xanh, bao gồm khuyến khích đầu tư vào công nghệ sạch, áp dụng các công cụ kinh tế như thuế môi trường và tiêu chuẩn khí thải, đồng thời tăng cường phối hợp giữa các bộ, ngành trong triển khai chính sách. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của các chủ thể kinh tế về lợi ích dài hạn của tăng trưởng bền vững. Thứ ba, tăng cường hợp tác quốc tế trong phát triển bền vững Kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm quốc tế cho thấy các quốc gia phát triển có thể giảm phát thải khi đạt mức thu nhập cao nhờ áp dụng công nghệ tiên tiến và chính sách môi trường hiệu quả. Do đó, Việt Nam cần chủ động tăng cường hợp tác quốc tế nhằm tiếp cận nguồn vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý. Việc tham gia các sáng kiến toàn cầu về biến đổi khí hậu và chuyển dịch năng lượng sẽ giúp Việt Nam rút ngắn quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế carbon thấp, đồng thời nâng cao năng lực hoạch định chính sách môi trường trong nước. Thứ tư, thúc đẩy đầu tư vào công nghệ xanh và năng lượng tái tạo Kết quả nghiên cứu cho thấy năng lượng tái tạo có tác động tích cực trong việc giảm phát thải CO2, trong khi hiệu quả sử dụng năng lượng chưa cho thấy tác động rõ ràng về mặt thống kê. Điều này hàm ý rằng việc chuyển đổi cơ cấu năng lượng đóng vai trò quan trọng hơn so với chỉ cải thiện hiệu quả sử dụng năng lượng đơn thuần. Do đó, Chính phủ cần khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ sản xuất sạch, vật liệu thân thiện với môi trường và các dự án năng lượng tái tạo thông qua các chính sách ưu đãi thuế, tín dụng xanh và hỗ trợ tài chính. Đồng thời, cần thúc đẩy hoạt động nghiên cứu - phát triển nhằm nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ môi trường. Thứ năm, thắt chặt quản lý môi trường đối với đầu tư và hoạt động sản xuất Kết quả nghiên cứu cho thấy phát triển tài chính và độ mở thương mại có thể làm gia tăng phát thải CO2 nếu thiếu cơ chế kiểm soát phù hợp. Điều này phản ánh nguy cơ trở thành “thiên đường ô nhiễm” tại các quốc gia đang phát triển. Do đó, Chính phủ cần thắt chặt khung pháp lý trong việc lựa chọn và giám sát các dự án đầu tư, đặc biệt là các dự án có nguy cơ gây ô nhiễm cao. Đồng thời, cần tăng cường kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường của doanh nghiệp và áp dụng các chế tài xử phạt nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm. Việc nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật sẽ góp phần đảm bảo tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường. Tài liệu tham khảo 1. Ang, J. B. (2007). CO₂ emissions, energy consumption, and output in France. Energy Policy, 35(10), 4772–4778. https://doi.org/10.1016/j.enpol.2007.03.032; 2. Apergis, N., & Payne, J. E. (2010). Renewable energy consumption and economic growth. Energy Economics, 32(6), 1392–1397. https://doi.org/10.1016/j.eneco.2010.04.003; 3. Cole, M. A. (2004). Trade, the pollution haven hypothesis and environmental Kuznets curve. Ecological Economics, 48(1), 71–81. https://doi.org/10.1016/j.ecolecon.2003.09.007; 4. Dinda, S. (2004). Environmental Kuznets curve hypothesis: A survey. Ecological Economics, 49(4), 431–455. https://doi.org/10.1016/j.ecolecon.2004.02.011; 5. Frankel, J. A., & Rose, A. K. (2005). Is trade good or bad for the environment? The Review of Economics and Statistics, 87(1), 85–91. https://doi.org/10.1162/0034653053327577; 6. Majeed, M. T., & Luni, T. (2019). Renewable energy, economic growth and CO₂ emissions. Environmental Science and Pollution Research, 26, 1–13. https://doi.org/10.1007/s11356-019- 05032-0; 7. Ozturk, I., & Acaravci, A. (2013). The long-run and causal analysis of energy, growth, openness and financial development on carbon emissions. Energy Economics, 36, 262–267. https://doi. org/10.1016/j.eneco.2012.08.025; 8. Sadorsky, P. (2014). The effect of urbanization on CO₂ emissions. Energy Economics, 41, 147– 153. https://doi.org/10.1016/j.eneco.2013.11.007; 9. Shahbaz, M., Nasir, M. A., & Roubaud, D. (2018). Environmental degradation in France: The effects of FDI, financial development, and energy innovations. Energy Economics, 74, 843–857. https://doi.org/10.1016/j.eneco.2018.07.020; 10. Shahbaz, M., Lean, H. H., & Shabbir, M. S. (2013). Environmental Kuznets curve hypothesis in Pakistan. Energy Policy, 55, 230–239. https://doi.org/10.1016/j.enpol.2012.12.015; 11. Stern, D. I. (1996). Progress on the environmental Kuznets curve? Environment and Development Economics, 1(3), 273–285. https://doi.org/10.1017/S1355770X00000419; 12. Suri, V., & Chapman, D. (1998). Economic growth, trade and energy. Energy Economics, 20(2), 195–216. https://doi.org/10.1016/S0140-9883(97)00033-8; 13. Tamazian, A., Chousa, J. P., & Vadlamannati, K. C. (2009). Does higher economic and financial development lead to environmental degradation? Energy Policy, 37(1), 246–253. https://doi. org/10.1016/j.enpol.2008.08.025. Ngày nhận bài: 12/02/2026 Ngày biên tập: 23/02/2026 Ngày duyệt đăng: 30/3/2026 Tác giả: Bùi Thị Giang Thanh Học viện Ngân hàng Nguyễn Hồng Yến Học viện Ngân hàng Email: 25A4010440@hvnh.edu.vn (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, số tháng 4/2026)

Một số lưu ý về nội dung kiểm toán đơn vị hành chính sự nghiệp trong bối cảnh áp dụng chế độ kế toán mới theo Thông tư 24/2024/TT-BTC

Việc ban hành Thông tư số 24/2024/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp áp dụng từ năm 2025 đã tạo ra nhiều thay đổi quan trọng trong tổ chức công tác kế toán, hệ thống chứng từ, sổ kế toán và báo cáo kế toán tại các đơn vị hành chính sự nghiệp. Những thay đổi này tác động đến hoạt động quản lý tài chính - kế toán của đơn vị và đặt ra yêu cầu điều chỉnh nội dung, phương pháp và trọng tâm kiểm toán đối với loại hình đơn vị này trong hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước. Bài viết phân tích một số điểm mới của chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp theo Thông tư 24/2024/TT-BTC có ảnh hưởng đến nội dung kiểm toán, đồng thời đề xuất một số lưu ý trong việc đánh giá tính tuân thủ pháp luật về kế toán, tính trung thực và hợp lý của thông tin tài chính, cũng như việc lập và trình bày báo cáo quyết toán, báo cáo tài chính theo quy định mới. Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng kiểm toán và hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn lực tài chính công tại các đơn vị hành chính sự nghiệp. Từ khóa: Đơn vị hành chính sự nghiệp; Thông tư 24/2024/TT-BTC; kiểm toán. Key considerations for auditing administrative and non-business units under the new accounting regime of Circular 24/2024/TT-BTC Circular 24/2024/TT-BTC, effective from 2025, introduces significant changes to accounting organizations, documentation and reporting within administrative and non-business units. These changes impact the financial and accounting management of the entity and necessitate adjustments to the content, methods and focus of audits for this type of entity within the State Audit Office's auditing activities. This article analyzes the new features of the administrative and non-business accounting regime according to Circular 24/2024/TT-BTC that affect audit content, and proposes considerations for evaluating legal compliance and the fairness of financial information as well as the preparation and presentation of final accounts reports and financial statements according to the new regulations. This contributes to enhancing audit quality and public resource management at administrative and non-business units. Keywords: Administrative and non-business units; Circular 24/2024/TT-BTC; auditing. JEL classification: H83, M42, M48 https://doi.org/10.65771/ati-jas.04202604 1. Đặt vấn đề Đơn vị hành chính sự nghiệp là tổ chức thuộc khu vực công, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập để thực hiện chức năng quản lý nhà nước hoặc cung cấp dịch vụ công phục vụ xã hội, hoạt động chủ yếu bằng nguồn ngân sách nhà nước hoặc các nguồn thu hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. Các đơn vị này không hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, mà nhằm thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội do Nhà nước giao trong các lĩnh vực như giáo dục, y tế, khoa học, văn hóa, thể thao, thông tin truyền thông và quản lý hành chính nhà nước. Thông tư 24/2024/TT-BTC quy định đơn vị hành chính, sự nghiệp là các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và các tổ chức khác có sử dụng ngân sách nhà nước hoặc nguồn kinh phí có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, phải thực hiện chế độ kế toán để phản ánh đầy đủ tình hình tài chính, tài sản và kết quả hoạt động theo quy định của pháp luật. * Đơn vị hành chính sự nghiệp có một số đặc điểm nổi bật: Mục tiêu hoạt động của các đơn vị này không nhằm tối đa hóa lợi nhuận mà chủ yếu hướng tới phục vụ lợi ích công cộng và thực hiện nhiệm vụ chính trị - xã hội do Nhà nước giao, vì vậy cơ chế quản lý tài chính của đơn vị hành chính sự nghiệp khác biệt so với khu vực doanh nghiệp nên quyết định tài chính phải gắn với yêu cầu phục vụ cộng đồng và tuân thủ kỷ luật ngân sách. Nguồn tài chính của đơn vị hành chính sự nghiệp mang tính đa dạng nhưng vẫn phụ thuộc đáng kể vào ngân sách nhà nước. Bên cạnh kinh phí do ngân sách cấp, nhiều đơn vị còn có các nguồn thu hợp pháp khác như phí, lệ phí, thu từ hoạt động dịch vụ sự nghiệp hoặc nguồn viện trợ, tài trợ theo quy định của pháp luật. Cơ cấu nguồn thu này đòi hỏi việc quản lý, hạch toán và kiểm soát tài chính phải bảo đảm tính minh bạch và tuân thủ các quy định của pháp luật về ngân sách, kế toán và quản lý tài sản công. Hoạt động tài chính của đơn vị hành chính sự nghiệp chịu sự kiểm soát chặt chẽ của hệ thống pháp luật và các cơ quan giám sát nhà nước. Việc lập dự toán, chấp hành và quyết toán ngân sách phải tuân thủ các quy định của pháp luật về ngân sách, đồng thời chịu sự kiểm tra, thanh tra và kiểm toán của các cơ quan có thẩm quyền nhằm bảo đảm việc quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính công, tài sản công được thực hiện đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả. Đơn vị hành chính sự nghiệp gắn liền với quá trình cải cách quản lý tài chính công và đổi mới cơ chế tự chủ. Cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập đều có quy định về cơ chế quản lý tài chính, được giao tự chủ để có thể chủ động trong quá trình hoạt động và quản lý, sử dụng nguồn kinh phí. Sự thay đổi trong cách thức quản lý này làm cho cơ chế quản lý tài chính và kế toán tại các đơn vị hành chính sự nghiệp ngày càng tiệm cận với quản trị hiện đại, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn đối với công tác kiểm toán và giám sát tài chính công. Từ năm 2025, các đơn vị hành chính sự nghiệp áp dụng chế độ kế toán mới cũng là thời điểm sắp xếp lại đơn vị hành chính. Bộ Tài chính đã ban hành các văn bản để hướng dẫn cụ thể việc thực hiện công việc kế toán đảm bảo phù hợp với tình hình thực tế (Công văn số 13749/BTC-NSNN ngày 14/12/2024 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn nguyên tắc xử lý tài sản, tài chính, ngân sách nhà nước trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy; Công văn số 1010/BTC-QLKT ngày 23/01/2025 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn công tác kế toán khi tổ chức thực hiện sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy; Công văn số 2454/BTC-QLCS ngày 28/02/2025 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn xử lý tài sản khi thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy). Trước tình hình đó, Kiểm toán viên nhà nước cần phải hiểu rõ những quy định mới và những tác động đến nội dung kiểm toán để điều chỉnh, thay đổi cách thức kiểm toán nhằm hoàn thành nhiệm vụ và nâng cao chất lượng kiểm toán của Kiểm toán nhà nước. 2. Phương pháp nghiên cứu Tác giả áp dụng phương pháp phân tích và tổng hợp dữ liệu tham khảo từ các hướng dẫn và báo cáo của Bộ Tài chính về triển khai, thực hiện chế độ kế toán theo Thông tư 24/2024/TT-BTC tại các đơn vị hành chính, sự nghiệp và những văn bản của cơ quan tài chính (tại các bộ, ngành) và Sở Tài chính của các địa phương về những khó khăn trong thời gian đầu áp dụng chế độ kế toán mới; tổng hợp thông tin được Bộ Tài chính giải đáp cho các đơn vị hành chính sự nghiệp tại mục “Hỏi đáp chính sách tài chính” trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính (dữ liệu được tổng hợp từ 01/01/2025 đến 01/3/2026) để chỉ ra các điểm mới của Chế độ kế toán hành chính sự nghiệp theo Thông tư 24/2024/TT-BTC so với chế độ kế toán được thay thế và phân tích ảnh hưởng của các điểm mới tới nội dung kiểm toán đơn vị hành chính sự nghiệp của Kiểm toán nhà nước. Từ những ảnh hưởng đó, bài viết sẽ hoàn thiện các nội dung kiểm toán đơn vị hành chính sự nghiệp trong điều kiện áp dụng chế độ kế toán mới. 3. Tổng hợp kết quả nghiên cứu 3.1. Những điểm mới của Chế độ kế toán theo Thông tư 24/2024/TT-BTC ảnh hưởng nội dung kiểm toán đơn vị hành chính, sự nghiệp Thứ nhất, việc mở rộng đối tượng áp dụng của chế độ kế toán mới đã bao quát đầy đủ phạm vi, đối tượng và nội dung của công tác kế toán, qua đó bảo đảm không còn khoảng trống pháp lý khi các đơn vị bắt đầu triển khai thực hiện từ năm 2025. Quy định này góp phần tạo sự phù hợp và thống nhất trong tổ chức thực hiện công tác kế toán tại các đơn vị kế toán khi được giao thực hiện nhiều loại hoạt động khác nhau. Khi áp dụng chung một chế độ kế toán, các đơn vị có điều kiện tổ chức một hệ thống kế toán thống nhất và xây dựng hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin với cơ chế phân quyền phù hợp tại từng đơn vị, giúp việc tổng hợp thông tin của các cơ quan cấp trên thuận lợi, đồng bộ chế độ kế toán cũng góp phần rút ngắn thời gian cung cấp hồ sơ, tài liệu để kiểm toán hiệu quả hơn. Thứ hai, chế độ kế toán mới hướng dẫn cụ thể các mô hình tổ chức hoạt động của các đơn vị, gồm đơn vị kế toán, đơn vị hạch toán phụ thuộc, đầu mối chi tiêu giúp cho các đơn vị có thể áp dụng linh hoạt, phù hợp với tổ chức bộ máy kế toán hiện nay, giải quyết các tồn tại, vướng mắc trong việc tổ chức công tác kế toán tại các các đơn vị có mô hình tổ chức khác nhau, hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán khác nhau ảnh hưởng việc đánh giá và xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp kiểm toán của Kiểm toán nhà nước. Thứ ba, không quy định mẫu chứng từ và mẫu sổ bắt buộc. Các đơn vị được thiết kế mẫu chứng từ, mẫu sổ kế toán phù hợp với các nghiệp vụ kinh tế phát sinh của đơn vị mình mà vẫn cung cấp đầy đủ thông tin phục vụ cho việc hạch toán kế toán tuân thủ các nội dung quy định tại Luật Kế toán. Các đơn vị sẽ linh hoạt hơn trong quá trình ban hành hệ thống chứng từ, hệ thống mẫu sổ kế toán áp dụng tại đơn vị mình phù hợp mục tiêu của đơn vị, tuy nhiên cũng dẫn đến việc các đơn vị trong cùng loại hình, cùng đơn vị, cơ quan quản lý cấp trên quy định hệ thống mẫu chứng từ, hệ thống mẫu sổ kế toán không thống nhất gây khó khăn trong công tác quản lý, đặc biệt là ảnh hưởng việc hướng dẫn, tổng hợp, thực hiện công việc kiểm tra, kiểm toán qua đánh giá hệ thống chứng từ và sổ kế toán mà đơn vị áp dụng. Thứ tư, Chế độ kế toán quy định theo Thông tư 24/2024/TT-BTC đã hệ thống hóa lại các tài khoản kế toán và hướng dẫn hạch toán phù hợp với cơ chế tài chính, Chuẩn mực kế toán công Việt Nam và thực tế hoạt động của các đơn vị. Bổ sung các nguyên tắc hạch toán của các tài khoản trong đó hướng dẫn cụ thể các nguyên tắc ghi nhận doanh thu, chi phí; khắc phục tồn tại trong việc kế toán nhận kinh phí và theo dõi nguồn mua sắm tài sản công, hàng tồn kho, nguồn cải cách tiền lương của đơn vị, kinh phí được chuyển năm sau, điều chỉnh số liệu kế toán… Đảm bảo việc ghi chép kế toán được thực hiện thống nhất và số liệu báo cáo tài chính được trình bày đầy đủ, phù hợp. Bổ sung hướng dẫn hạch toán và đối chiếu công nợ phải thu, phải trả của đơn vị kế toán, hạch toán tỷ giá phù hợp với quy định; sửa đổi một số nội dung liên quan đến hạch toán các nghiệp vụ phát sinh trong hoạt động liên doanh, liên kết; hạch toán ghi nhận doanh thu, chi phí, các quỹ; hướng dẫn hạch toán chi phí xây dựng cơ bản chờ phê duyệt quyết toán để đảm bảo việc trình bày tài sản trên báo cáo tài chính chính xác, đầy đủ. Sửa đổi và hướng dẫn hạch toán tài khoản ngoại bảng “Dự toán viện trợ không hoàn lại” để phù hợp với quản lý vốn viện trợ hiện nay. Cập nhật thêm các hướng dẫn hạch toán liên quan đến tiếp nhận kinh phí ủy quyền, ủy thác để chi trả cho các đối tượng có liên quan theo quy định; hướng dẫn hạch toán mua sắm tài sản cố định, vật tư, nguyên liệu của đơn vị kế toán cấp trên để cấp phát cho các đơn vị kế toán (theo ngành dọc); hướng dẫn hạch toán các khoản dự phòng áp dụng cho đơn vị sự nghiệp công lập và đơn vị khác có hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ theo quy định; hướng dẫn kế toán tài sản thuê, mượn, đặt máy, tài sản đặc thù… theo quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng tài sản công. Hướng dẫn hạch toán hàng dự trữ quốc gia cho các đơn vị thuộc các bộ, ngành được giao quản lý; kế toán tài sản kết cấu hạ tầng nói chung (trong đó có tài sản kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi), trừ tài sản kết cấu hạ tầng được tính thành phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp; kế toán của ban quản lý dự án phù hợp với cơ chế tài chính và mô hình hoạt động hiện nay (là đơn vị sự nghiệp công lập). Đây là thay đổi lớn nhất của chế độ kế toán mới, giúp kiểm toán viên có đầy đủ căn cứ để đưa ra các ý kiến đảm bảo có sơ sở pháp lý, phản ánh trung thực, đúng bản chất các chỉ tiêu và thông tin kế toán cung cấp, không như trước đây, đôi khi kiểm toán viên phải đưa ra các ý kiến xác nhận bị phụ thuộc vào quan điểm còn có nhiều tranh cãi. Thứ năm, về báo cáo quyết toán. Thông tư 24/2024/TT-BTC quy định 5 mẫu biểu quyết toán kinh phí hoạt động, quy định rõ nội dung mẫu biểu và việc lập các chỉ tiêu báo cáo trong từng mẫu biểu để đảm bảo đầy đủ thông tin, thống nhất việc lập báo cáo. Bổ sung thêm một số chỉ tiêu báo cáo theo đề nghị của các đơn vị chức năng có liên quan để đảm bảo đầy đủ thông tin trên báo cáo, hướng dẫn rõ về việc lập báo cáo quyết toán đối với các trường hợp đơn vị ngân sách cấp trên và ngân sách cấp dưới hỗ trợ qua lại và cấp kinh phí ủy quyền, để có đầy đủ số liệu tổng hợp quyết toán ngân sách. Những thay đổi này yêu cầu cần mở rộng nội dung kiểm toán, không chỉ kiểm tra tổng số kinh phí quyết toán mà còn đánh giá tính đầy đủ, chính xác của từng chỉ tiêu báo cáo theo mẫu biểu mới, đòi hỏi cần phải đối chiếu số liệu giữa báo cáo quyết toán với sổ kế toán, chứng từ kế toán và dữ liệu trên hệ thống kế toán, đặc biệt đối với các chỉ tiêu có thay đổi do điều chỉnh tài khoản và phương pháp hạch toán như doanh thu, chi phí, nợ phải trả, tài sản thuần và các khoản dự phòng mới bảo đảm tính trung thực, đầy đủ và nhất quán của thông tin quyết toán ngân sách tại đơn vị. Thứ sáu, về báo cáo tài chính. Quy định thống nhất một mẫu biểu báo cáo lưu chuyển tiền tệ (theo phương pháp trực tiếp) tạo thuận lợi trong công tác kế toán cũng như kiểm tra, đánh giá. Trong hệ thống mẫu biểu có 02 mẫu biểu thuyết minh chi tiết số liệu tài sản kết cấu hạ tầng đơn vị được giao trực tiếp quản lý nhưng không trực tiếp khai thác, sử dụng (Mẫu B04a/BCTC) và báo cáo về những thay đổi trong tài sản thuần (B05/ BCTC), mẫu thuyết minh báo cáo tài chính cụ thể, chi tiết đến 18 trang, sẽ cung cấp nhiều thông tin chi tiết, kịp thời. Quy định các trường hợp được điều chỉnh hồi tố số liệu vào số dư đầu năm trước đã trình bày trên báo cáo tài chính, nghiêm cấm đơn vị tự ý làm thay đổi thông tin, số liệu trình bày trên báo cáo tài chính đã được nộp cho cơ quan có thẩm quyền hoặc báo cáo tài chính đã được công khai theo quy định giúp kiểm toán viên có thể kiểm tra đánh giá các trường hợp vi phạm khi kiểm tra thấy số liệu trên báo cáo tài chính đơn vị cung cấp và báo cáo tài chính đã nộp có chênh lệch, từ đó đánh giá, kiến nghị đơn vị phải chỉnh sửa khi phát hiện sai sót theo quy định tại Thông tư 24/2024/ TT-BTC. Thứ bảy, về in, sắp xếp, đóng để lưu trữ tài liệu kế toán và ứng dụng công nghệ thông tin. Quy định và hướng dẫn rất cụ thể, chi tiết, rõ ràng về cách lưu trữ hồ sơ, tài liệu kế toán đảm bảo thống nhất trong quá trình thực hiện theo đúng quy định của pháp luật kế toán. Việc quy định về sử dụng phần mềm kế toán và các yêu cầu đối với phần mềm kế toán tại đơn vị đảm bảo chất lượng công tác kế toán và số liệu các báo cáo, sử dụng chứng từ điện tử và phần mềm kế toán hiện đại tuân thủ đầy đủ quy trình, nghiệp vụ kế toán đảm bảo tính bảo mật, an toàn. Đây là thay đổi giúp cho việc sử dụng phần mềm kế toán được thống nhất, tránh việc áp dụng phần mềm kế toán mỗi đơn vị trong cùng phạm vi quản lý của cơ quan cấp trên lại do một bên khác nhau cung cấp, không đồng nhất với nhau, mẫu biểu khác nhau, gây khó khăn trong quá trình thực hiện. Với những quy định mới này, việc thực hiện kiểm toán sẽ thuận tiện hơn khi khai thác dữ liệu của đơn vị được kiểm toán. Bước cung cấp hồ sơ tài liệu cho Kiểm toán nhà nước khoa học, dễ tìm kiếm so với trước đây, kịp thời loại bỏ dần lý do đơn vị trì hoãn việc cung cấp tài liệu là “chưa tìm thấy hồ sơ, tài liệu kế toán”. Thứ tám, về chuyển đổi số dư. Sau khi khóa sổ kế toán lập báo cáo tài chính năm 2024, đơn vị phải thực hiện chuyển đổi số dư sang tài khoản mới theo quy định tại Thông tư 24/2024/TT-BTC. Số dư đầu năm 2025 trên báo cáo tình hình tài chính và thuyết minh báo cáo tài chính cho phần báo cáo tình hình tài chính được áp dụng hồi tố sau khi kết chuyển số dư từ năm 2024 sang. Cuối năm 2024 và năm 2025 là thời điểm cả nước thực hiện sắp xếp lại đơn vị hành chính, Bộ Tài chính đã có các văn bản hướng dẫn cụ thể việc chuyển đổi số dư, bàn giao ở các thời điểm các đơn vị giải thể, chia tách, sáp nhập. Việc hướng dẫn cụ thể, rõ ràng như thế này giúp cho các đơn vị dễ áp dụng trong quá trình chuyển đổi. Kiểm toán viên có căn cứ để kiểm tra, xác định và làm rõ thời điểm chốt số liệu về tài sản, tài chính, ngân sách nhà nước, kế toán của các đơn vị để xử lý, bàn giao, tiếp nhận và tiếp tục theo dõi, quản lý, hạch toán kế toán. 3.2. Một số lưu ý nhằm hoàn thiện nội dung kiểm toán đơn vị hành chính, sự nghiệp trong bối cảnh áp dụng chế độ kế toán mới theo Thông tư 24/2024/TT-BTC Thứ nhất, Kiểm toán nhà nước cần đánh giá xem các đơn vị hành chính sự nghiệp là đơn vị kế toán (có hay không có đơn vị hạch toán phụ thuộc và đầu mối chi tiêu) hay chỉ là đơn vị hạch toán phụ thuộc và đầu mối chi tiêu. Từ khâu thu thập thông tin để lập kế hoạch kiểm toán đến quá trình triển khai thực hiện kiểm toán thì kiểm toán viên phải đánh giá chuẩn xác để từ đó lựa chọn đơn vị kiểm toán chi tiết phù hợp. Thứ hai, hoàn thiện nội dung kiểm toán gắn với đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ và tổ chức công tác kế toán khi chuyển đổi chế độ kế toán mới. Hoàn thiện theo hướng xem xét cả điều kiện tổ chức thực hiện của đơn vị từ việc ban hành quy trình nội bộ, phân công trách nhiệm giữa kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết, việc cập nhật phần mềm, chuyển đổi tài khoản, khóa sổ, lưu trữ hồ sơ và kiểm tra nội bộ trước khi lập báo cáo. Kiểm toán viên có trách nhiệm đánh giá xem sai sót phát sinh là sai sót đơn lẻ hay là hệ quả của khiếm khuyết hệ thống. Nếu chỉ dừng ở việc nêu ra sai sót số liệu mà không chỉ ra nguyên nhân quản trị, kiểm toán sẽ khó tạo ra giá trị cải thiện dài hạn. Vì vậy, Kiểm toán viên cần mở rộng trọng tâm từ “kiểm tra kết quả cuối cùng” sang “đánh giá quy trình hình thành số liệu”, từ đó kiến nghị trúng hơn về hoàn thiện kiểm soát nội bộ, chuẩn hóa quy trình kế toán và nâng cao năng lực cán bộ kế toán tại đơn vị hành chính sự nghiệp. Đây là trách nhiệm nghề nghiệp quan trọng để Kiểm toán nhà nước không chỉ phát hiện sai phạm, mà còn góp phần phòng ngừa sai sót trong bối cảnh chuyển đổi chế độ kế toán. Thứ ba, lưu ý đánh giá về công tác xử lý tài chính công, tài sản công khi thực hiện sắp xếp để chuyển tiếp số liệu trên hệ thống sổ sách kế toán, kiểm tra việc các đơn vị thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính tại Công văn số 13749/BTC-NSNN ngày 14/12/2024, Công văn số 1010/BTC-QLKT ngày 23/01/2025 và Công văn số 2454/BTC-QLCS ngày 28/02/2025. * Đối với số các đơn vị không thực hiện sắp xếp lại đơn vị hành chính: Kiểm tra việc chuyển đổi số dư của các tài khoản kế toán từ cuối năm 2024 sang đầu năm 2025 có đúng theo hướng dẫn của Thông tư 24/2024/TT-BTC (Phụ lục số VI), chuyển đổi nhầm lẫn ở chỉ tiêu nào cần chỉ ra và yêu cầu đơn vị chỉnh sửa phù hợp, đặc biệt đánh giá ảnh hưởng tới tình hình tài chính đơn vị phản ánh trong năm 2025 để kiểm tra chi tiết hơn các khoản mục có liên quan bị ảnh hưởng. * Đối với các đơn vị thực hiện sắp xếp lại: Ngoài việc kiểm tra việc chuyển đổi số dư của các tài khoản kế toán như đối với các đơn vị không tiến hành sắp xếp, cần kiểm tra thời điểm chốt số liệu về tài sản, tài chính, ngân sách, kế toán của đơn vị khi bàn giao, tiếp nhận đơn vị có thực hiện kiểm kê tài sản, tài chính, ngân sách theo chế độ quy định vào thời điểm chính thức sắp xếp lại; có lập đầy đủ hồ sơ và đối chiếu với kết quả kiểm kê vào thời điểm gần nhất để xác định tính chính xác, đầy đủ, thống nhất, liên tục của các số liệu, tài liệu kiểm kê; cũng như có phương án điều chỉnh, xử lý sai sót, chênh lệch cho phù hợp, từ đó đưa ra ý kiến đánh giá trung thực, hợp lý và khách quan. Thứ tư, kiểm toán viên cần lưu ý đánh giá các nội dung công việc thuộc trách nhiệm của các bộ phận có liên quan về việc tập hợp, thu thập đầy đủ các chứng từ kế toán và hồ sơ, tài liệu, số liệu liên quan đến các khoản chi tiêu phát sinh cho hoạt động của đơn vị theo từng nguồn kinh phí. Kiểm tra từng tài khoản phản ánh tình hình tài sản, nguồn vốn làm căn cứ lập các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính; việc nộp đầy đủ các khoản phải nộp vào ngân sách; hoàn trả các khoản đã rút tạm ứng kinh phí ngân sách nhà nước về quỹ tiền mặt nhưng chưa sử dụng hết, có đối chiếu công nợ, lập biên bản ghi rõ lý do, yêu cầu các tổ chức, cá nhân đến xác nhận lại công nợ để đơn vị tiếp tục theo dõi, thu hồi theo quy định, tránh thất thoát tiền, tài sản và các nguồn lực của Nhà nước hay không. Thứ năm, hoàn thiện nội dung kiểm toán đối với công tác lập và trình bày báo cáo quyết toán. Nội dung kiểm toán cần được hoàn thiện theo hướng không chỉ kiểm tra tính đúng đắn số học của báo cáo mà còn phải đánh giá đầy đủ logic lập báo cáo, căn cứ ghi nhận từng chỉ tiêu, sự nhất quán giữa báo cáo quyết toán với sổ kế toán, chứng từ, dự toán được giao và báo cáo tài chính. Không dừng lại ở việc phát hiện chênh lệch số liệu, mà phải xác định nguyên nhân sai lệch do hạch toán sai, phân loại sai nguồn kinh phí, ghi nhận chưa đúng thời điểm hay do đơn vị chưa nắm được chế độ mới. Kiểm toán viên chủ động cập nhật mẫu biểu mới, hiểu được mối liên hệ giữa các chỉ tiêu và xây dựng thủ tục kiểm toán phù hợp với từng loại đơn vị để vừa kiểm tra tính trung thực của số liệu, vừa đánh giá được mức độ tuân thủ kỹ thuật lập báo cáo theo chế độ kế toán mới. Thứ sáu, hoàn thiện nội dung kiểm toán về phân loại, hạch toán và quyết toán các nguồn kinh phí. Nội dung kiểm toán phải chuyển từ cách tiếp cận “kiểm tra chi tiêu” sang cách tiếp cận sâu hơn là “kiểm tra bản chất nguồn lực tài chính công”. Tập trung làm rõ đơn vị đã xác định đúng nguồn, hạch toán riêng từng nguồn, có tình trạng dùng sai nguồn, quyết toán lẫn giữa nguồn tự chủ và không tự chủ, giữa nguồn giao dự toán và nguồn tiếp nhận hỗ trợ không. Đối với kinh phí được cấp có tính chất ủy quyền hoặc hỗ trợ chéo giữa các cấp ngân sách cần phải truy xét được đường đi của kinh phí, đánh giá tính hợp pháp của căn cứ giao, mức độ phù hợp trong hạch toán và nguy cơ trùng lặp hoặc bỏ sót khi tổng hợp quyết toán. Đây là khâu rất dễ phát sinh sai sót khi áp dụng chế độ mới. Kiểm toán viên cần nâng cao năng lực phân tích ngân sách, am hiểu mục lục ngân sách, nắm chắc chế độ tự chủ và có khả năng đối chiếu liên thông giữa hồ sơ dự toán, quyết định giao kinh phí, sổ kế toán và báo cáo quyết toán. Thứ bảy, hoàn thiện nội dung kiểm toán theo hướng tăng cường kiểm tra tính liên thông giữa báo cáo quyết toán và báo cáo tài chính. Phải nhìn nhận hai hệ thống báo cáo trong mối quan hệ hữu cơ, đối chiếu giữa số liệu kinh phí đã nhận, đã sử dụng, tạm ứng, công nợ, tài sản hình thành từ kinh phí và kết quả trình bày trên các báo cáo có liên quan; phát hiện những trường hợp quyết toán đúng hình thức nhưng chưa phản ánh đầy đủ bản chất tài chính và ngược lại. Kiểm toán viên phải là người kiểm tra tính nhất quán của toàn bộ hệ thống thông tin kế toán nên cần nâng cao năng lực đọc hiểu các chỉ tiêu báo cáo tài chính khu vực công, hiểu quan hệ giữa tài khoản kế toán với từng chỉ tiêu báo cáo và biết sử dụng thủ tục phân tích để phát hiện rủi ro bất thường. Đây là điều kiện quan trọng để nâng cao độ tin cậy của kết luận kiểm toán trong bối cảnh chế độ kế toán mới ngày càng chú trọng chuẩn hóa và minh bạch thông tin. Thứ tám, nâng cao trách nhiệm nghề nghiệp của Kiểm toán viên nhà nước trong cập nhật quy định, chế độ mới, ứng dụng công nghệ và đưa ra kiến nghị kiểm toán có tính khả thi. Kiểm toán viên cần nắm vững sự khác biệt giữa quy định cũ và mới, nhận diện đúng các rủi ro chuyển đổi chế độ, biết sử dụng dữ liệu kế toán điện tử để đối chiếu, chọn mẫu và phân tích biến động. Trong điều kiện nhiều đơn vị hành chính sự nghiệp sử dụng phần mềm kế toán, kiểm toán viên cần kiểm tra tính tin cậy của dữ liệu đầu ra, không chỉ dựa vào bản in báo cáo giấy mà đơn vị cung cấp. Kết luận, kiến nghị kiểm toán phải thay đổi theo hướng cụ thể, khả thi và mang tính hướng dẫn hệ thống hơn. Kết luận Tóm lại, từ những lưu ý trên, để hoàn thiện nội dung kiểm toán đơn vị hành chính sự nghiệp và nâng cao chất lượng kiểm toán trong bối cảnh đơn vị hành chính sự nghiệp áp dụng chế độ kế toán mới từ năm 2025 cũng là thời điểm cả nước sắp xếp đơn vị hành chính, Kiểm toán nhà nước cần nâng cao năng lực chuyên môn của kiểm toán viên thông qua tổ chức đào tạo chuyên sâu về chế độ kế toán mới, tăng cường cập nhật kiến thức và kỹ năng phân tích dữ liệu; đổi mới phương pháp kiểm toán, tăng cường kiểm toán dựa trên đánh giá rủi ro; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và phân tích dữ liệu trong kiểm toán; tăng cường phối hợp giữa cơ quan kiểm toán và đơn vị hành chính sự nghiệp từ đó hỗ trợ các đơn vị trong quá trình chuyển đổi chế độ kế toán, nâng cao chất lượng hệ thống kiểm soát nội bộ và quản lý tài chính tại đơn vị thông qua các ý kiến và kiến nghị kiểm toán kịp thời, hiệu quả. Tài liệu tham khảo 1. Quốc hội (2015), Luật Kế toán số 88/2015/QH13, ban hành ngày 20/11/2015; 2. Quốc hội (2019), Luật Kiểm toán nhà nước, Luật số 81/2015/QH13, được sửa đổi, bổ sung năm 2019; 3. Bộ Tài chính (2024), Thông tư số 24/2024/TT-BTC ngày 17/4/2024 hướng dẫn Chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp (Văn bản này thay thế các Thông tư 107/2017/TT-BTC, 108/2018/TT-BTC, 76/2019/TT-BTC và 79/2019/TT-BTC, có hiệu lực từ 01/01/2025, Thông tư 70/2019/TT-BTC); 4. Kiểm toán nhà nước (2024), Quyết định số 08/2024/QĐ-KTNN ngày 15/11/2024 ban hành Hệ thống chuẩn mực kiểm toán nhà nước, có hiệu lực từ ngày 30/12/2024; 5. Kiểm toán nhà nước (2025), Quy trình kiểm toán của Kiểm toán nhà nước, ban hành kèm theo Quyết định số 10/2025/QĐ-KTNN ngày 03/3/2025 của Tổng Kiểm toán nhà nước. Ngày nhận bài: 04/3/2026 Ngày biên tập: 06/3/2026 Ngày duyệt đăng: 10/4/2026 Tác giả: Nguyễn Thị Thu Trung Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán Email:nguyenthutrungktnn@gmail.com (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, số tháng 4/2026)

Khung kế toán cho tài sản mã hóa tại Việt Nam trong giai đoạn thí điểm: trao đổi từ Nghị quyết 05/2025/NQ-CP và Thông tư 15/2026/TT-BTC

Việc Chính phủ ban hành Nghị quyết 05/2025/NQ-CP về triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam và Bộ Tài chính ban hành Thông tư 15/2026/TT-BTC hướng dẫn nguyên tắc kế toán đối với các tổ chức tham gia thị trường này đã mở ra một khuôn khổ pháp lý và kế toán ban đầu cho một nhóm tài sản mới trong nền kinh tế số. Tuy nhiên, xét từ góc độ kế toán, điểm đáng chú ý không phải là sự xuất hiện của một chuẩn mực kế toán độc lập cho tài sản mã hóa, mà là việc Việt Nam đang lựa chọn một cách tiếp cận chuyển tiếp: tổ chức thị trường bằng một khung pháp lý chuyên biệt, nhưng xử lý kế toán chủ yếu trên cơ sở Luật Kế toán, các chuẩn mực kế toán hiện hành và chế độ kế toán doanh nghiệp, kết hợp với hướng dẫn theo bản chất kinh tế của giao dịch. Bài viết phân tích cấu trúc của cách tiếp cận này, đối chiếu với quyết định của Ủy ban Giải thích Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế năm 2019 về khoản nắm giữ tiền mã hóa, IAS 38, ASU 2023-08 của Hoa Kỳ và một số tài liệu quản lý thị trường của OECD, IOSCO, ESMA. Trên cơ sở đó, bài viết cho rằng khung kế toán hiện hành của Việt Nam có ưu điểm về tính khả thi và sự thận trọng trong giai đoạn thí điểm, nhưng mới dừng ở mức định hướng nguyên tắc, chưa hình thành đầy đủ nền tảng khái niệm và kỹ thuật để xử lý thống nhất một loại tài sản có biến động giá lớn, rủi ro công nghệ cao và quan hệ pháp lý tương đối phức tạp như tài sản mã hóa. Từ khóa: Tài sản mã hóa; tiền mã hóa; kế toán tài sản số; Nghị quyết 05/2025/NQ-CP; Thông tư 15/2026/TT-BTC. Accounting framework for crypto assets in Vietnam during the pilot phase: Discussions on Resolution 05/2025/NQ-CP and Circular 15/2026/TT-BTC Resolution 05/2025/NQ-CP and Circular 15/2026/TT-BTC have established an initial legal and accounting framework for a new type of asset in Vietnam's digital economy. However, from an accounting perspective, the noteworthy point is not the emergence of an independent accounting standard for crypto assets, but rather Vietnam's choice of a transitional approach: organizing the market within a specialized legal framework, but primarily handling accounting based on the Law on Accounting and existing accounting standards and corporate accounting regulations, guided by the economic substance of transactions. This paper analyzes this structure in reference to the 2019 International Financial Reporting Standards Interpretations Committee on cryptocurrency holdings, IAS 38, US ASU 2023-08 and OECD/IOSCO guidelines. The fndings suggest that while the current framework is feasible and prudent for the pilot phase, it remains at the principle-based level and lacks a comprehensive conceptual and technical foundation to handle a type of asset with the high volatility and technological risks and relatively complex legal relationships, such as cryptocurrencies. Keywords: Crypto assets; cryptocurrency; digital asset accounting; Resolution 05/2025/NQ-CP; Circular 15/2026/TT-BTC. JEL classifcation: M41, M48, E42, G23 https://doi.org/10.65771/ati-jas.04202602 1. Đặt vấn đề Sự phát triển của kinh tế số đang đặt ra những thách thức mới cho lý luận và thực hành kế toán. Trong số đó, tài sản mã hóa là một trường hợp đặc biệt vì đối tượng này không dễ được xếp gọn vào các phạm trù quen thuộc như tiền, công cụ tài chính, hàng tồn kho hay tài sản vô hình. Vấn đề không chỉ nằm ở việc ghi nhận một khoản mục mới trên sổ kế toán, mà còn nằm ở chỗ phải xác định cho được bản chất kinh tế của quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh từ giao dịch gắn với loại tài sản này. Chính vì vậy, kế toán đối với tài sản mã hóa đã trở thành một chủ đề thu hút nhiều trao đổi học thuật và thực tiễn trong những năm gần đây. Tại Việt Nam, Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP của Chính phủ về triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa và Thông tư số 15/2026/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn nguyên tắc kế toán đối với các tổ chức tham gia thị trường này là hai văn bản đánh dấu bước chuyển đáng chú ý về mặt thể chế. Lần đầu tiên, tài sản mã hóa được đặt trong một khuôn khổ pháp lý tương đối rõ về hoạt động phát hành, giao dịch, lưu ký và cung cấp dịch vụ; đồng thời, việc hạch toán kế toán đối với các chủ thể tham gia thị trường cũng được hướng dẫn ở mức nguyên tắc. Dù vậy, chính cấu trúc của các văn bản này cho thấy Việt Nam chưa lựa chọn cách xây dựng ngay một chuẩn mực kế toán riêng cho tài sản mã hóa, mà trước mắt xử lý trên nền hệ thống kế toán doanh nghiệp hiện hành. Bài viết này tiếp cận vấn đề theo hướng trao đổi học thuật. Mục tiêu của bài viết nhằm mô tả khái quát nội dung văn bản quy phạm, làm rõ cấu trúc của khung kế toán hiện hành, đánh giá những điểm hợp lý trong bối cảnh thí điểm, đồng thời nhận diện các vấn đề cần làm rõ khi đặt khung kế toán của Việt Nam bên cạnh kinh nghiệm quốc tế. Luận điểm trung tâm của bài viết là: khung kế toán hiện hành của Việt Nam đối với tài sản mã hóa vẫn mang tính chuyển tiếp. Cách tiếp cận này có điểm mạnh là tương đối thận trọng, dễ áp dụng và phù hợp với giai đoạn thí điểm. Tuy nhiên, các quy định hiện nay chủ yếu mới dừng ở mức định hướng chung, chưa hình thành đầy đủ cơ sở lý luận và hướng dẫn kỹ thuật để xử lý thống nhất đối với một loại tài sản có biến động giá mạnh, tiềm ẩn nhiều rủi ro về công nghệ và có bản chất pháp lý khá phức tạp như tài sản mã hóa. 2. Bối cảnh chuẩn tắc quốc tế và xu hướng quản lý thị trường Một trong những mốc quan trọng của trao đổi quốc tế về kế toán tiền mã hóa là quyết định của Ủy ban Giải thích Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRIC) năm 2019 về khoản nắm giữ tiền mã hóa. Trong quyết định này, Ủy ban cho rằng khoản nắm giữ tiền mã hóa không được xem là tiền, vì chưa có đồng tiền mã hóa nào được sử dụng rộng rãi đến mức vừa làm phương tiện trao đổi, vừa làm đơn vị tiền tệ để đo lường và ghi nhận các giao dịch trong báo cáo tài chính. Đồng thời, khoản nắm giữ này cũng không được coi là tài sản tài chính, vì người nắm giữ không có quyền theo hợp đồng để nhận tiền hoặc một tài sản tài chính khác từ bên thứ ba (IFRS Foundation, 2019a). Cách xác định đó có ý nghĩa rất quan trọng, bởi loại trừ ngay từ đầu khả năng áp dụng trực tiếp các khuôn khổ kế toán vốn được xây dựng cho tiền và công cụ tài chính truyền thống. Sau bước loại trừ này, IFRIC xác định hướng xử lý kế toán phù hợp hơn là quy chiếu về các chuẩn mực hiện có. Cụ thể, nếu tiền mã hóa được nắm giữ để bán trong quá trình kinh doanh thông thường thì áp dụng IAS 2 về hàng tồn kho; nếu không thuộc trường hợp đó thì áp dụng IAS 38 về tài sản vô hình. Đối với đơn vị hoạt động theo mô hình môi giới kinh doanh hàng hóa, IAS 2 còn cho phép đo lường hàng tồn kho theo giá trị hợp lý trừ chi phí bán (IFRS Foundation, 2019a). Cách xử lý này cho thấy lập trường khá thận trọng của IFRS: chưa thiết kế ngay một chuẩn mực riêng cho tiền mã hóa, mà trước hết mở rộng phạm vi áp dụng của các chuẩn mực sẵn có thông qua giải thích. Tuy nhiên, cách tiếp cận đó cũng bộc lộ những giới hạn nhất định. Theo IAS 38, tài sản vô hình là tài sản phi tiền tệ, có thể xác định được và không có hình thái vật chất; sau ghi nhận ban đầu, tài sản này thường được đo lường theo giá gốc, còn việc đánh giá lại chỉ đặt ra khi có thị trường hoạt động phù hợp (IFRS Foundation, 2024). Trong khi đó, nhiều khoản nắm giữ tiền mã hóa lại gắn chặt với biến động giá thị trường và lợi ích kinh tế của chúng thường được hiện thực hóa thông qua giao dịch trên thị trường. Vì vậy, việc xếp tiền mã hóa vào khuôn khổ tài sản vô hình tuy tạo được điểm tựa về mặt khái niệm, nhưng chưa chắc luôn cung cấp thông tin thích hợp nhất cho người sử dụng báo cáo tài chính. Chính từ hạn chế đó, chuẩn mực kế toán Hoa Kỳ đã lựa chọn hướng đi cụ thể hơn. Theo ASU 2023-08, các tài sản mã hóa thuộc phạm vi chuẩn mực phải được đo lường theo giá trị hợp lý ở mỗi kỳ báo cáo; chênh lệch đánh giá lại được ghi nhận ngay vào lợi nhuận trong kỳ. Chuẩn mực này đồng thời yêu cầu trình bày riêng tài sản mã hóa khỏi các tài sản vô hình khác và bổ sung thuyết minh để làm rõ số lượng nắm giữ, cơ sở xác định giá trị và những hạn chế gắn với tài sản đó (FASB, 2023). Đây không chỉ là một điều chỉnh kỹ thuật, mà còn phản ánh nhận thức rằng tài sản mã hóa có đặc điểm kinh tế và đặc điểm thông tin khác với phần lớn tài sản vô hình truyền thống. Nhìn theo tiến trình phát triển, có thể thấy trao đổi quốc tế đã đi từ giai đoạn xử lý bằng loại suy sang giai đoạn chuyên biệt hóa từng phần. IFRIC năm 2019 đại diện cho cách tiếp cận thận trọng: giữ ổn định hệ thống chuẩn mực hiện có và giải quyết vấn đề bằng diễn giải. Trong khi đó, ASU 2023-08 cho thấy khi quy mô giao dịch tăng lên và thông tin về tài sản mã hóa trở nên trọng yếu hơn đối với nhà đầu tư, cơ quan lập chuẩn có xu hướng đặt ra yêu cầu rõ hơn về đo lường và trình bày, thay vì tiếp tục để đối tượng này nằm chung trong khuôn khổ rộng của tài sản vô hình. Bên cạnh lớp chuẩn mực kế toán, các tài liệu quốc tế về quản lý thị trường cũng rất đáng lưu ý. OECD đã xây dựng Khuôn khổ báo cáo đối với tài sản mã hóa nhằm mở rộng cơ chế trao đổi thông tin tự động sang lĩnh vực này, và trong bản cập nhật năm 2025, tổ chức này cho biết đã có 75 khu vực pháp lý cam kết triển khai khuôn khổ đó (OECD, 2025). Dù được thiết kế chủ yếu cho mục đích thuế, khuôn khổ này cho thấy tài sản mã hóa ngày càng được nhìn nhận như một nhóm giao dịch đòi hỏi khả năng phân loại, thu thập dữ liệu và truy vết thông tin ở mức cao hơn so với nhiều loại tài sản thông thường. Cùng xu hướng đó, Tổ chức quốc tế các ủy ban chứng khoán (IOSCO) trong báo cáo chính sách năm 2023 đã đưa ra 18 khuyến nghị đối với thị trường tài sản mã hóa và tài sản số, đặt trên nguyên tắc “cùng hoạt động, cùng rủi ro thì cần kết quả quản lý tương đương”, với trọng tâm là xung đột lợi ích, thao túng thị trường, lưu ký và bảo vệ tài sản khách hàng, rủi ro vận hành và rủi ro công nghệ (IOSCO, 2023). Ở Liên minh châu Âu, khuôn khổ MiCA thiết lập các quy tắc thống nhất cho thị trường tài sản mã hóa, tập trung vào minh bạch, công bố thông tin, cấp phép và giám sát đối với tổ chức phát hành cũng như nhà cung cấp dịch vụ (ESMA, 2025; European Commission, n.d.). Những tài liệu này cho thấy kế toán tài sản mã hóa không thể tách rời cấu trúc quản lý thị trường, bảo vệ nhà đầu tư và kiểm soát rủi ro công nghệ. Từ đó có thể rút ra ba gợi ý quan trọng cho nghiên cứu kế toán tài sản mã hóa. Thứ nhất, việc xử lý kế toán đối với loại tài sản này không thể chỉ dừng ở kỹ thuật ghi sổ, mà phải đặt trong mối liên hệ với cơ chế giám sát thị trường và quản trị rủi ro. Thứ hai, kinh nghiệm quốc tế cho thấy cách tiếp cận ban đầu thường là loại suy từ các chuẩn mực sẵn có, nhưng xu hướng về sau là từng bước quy định rõ hơn, nhất là về đo lường và công bố thông tin. Thứ ba, yêu cầu về minh bạch dữ liệu, tách biệt tài sản của khách hàng, khả năng truy vết giao dịch và công bố rủi ro đang trở thành nội dung ngày càng quan trọng trong tư duy kế toán đối với tài sản mã hóa. Đây cũng là cơ sở quan trọng để xem xét và đánh giá khung kế toán của Việt Nam trong giai đoạn thí điểm hiện nay. 3. Khung pháp lý và kế toán của Việt Nam trong giai đoạn thí điểm 3.1. Khung pháp lý của Nghị quyết 05/2025/ NQ-CP Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP quy định việc triển khai thí điểm chào bán, phát hành tài sản mã hóa, tổ chức thị trường giao dịch tài sản mã hóa, cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa và quản lý nhà nước đối với thị trường này tại Việt Nam. Văn bản xác định tài sản mã hóa là một loại tài sản số sử dụng công nghệ mã hóa hoặc công nghệ số có chức năng tương tự để xác thực trong quá trình tạo lập, phát hành, lưu trữ và chuyển giao; đồng thời loại trừ chứng khoán, các dạng số của tiền pháp định và các tài sản tài chính khác khỏi phạm vi khái niệm này (Chính phủ, 2025). Cách xác định như vậy có ý nghĩa rất quan trọng, vì nó cho thấy tài sản mã hóa được thừa nhận như một nhóm tài sản riêng trong không gian số, nhưng không được đồng nhất ngay với chứng khoán hoặc tiền. Nghị quyết cũng thiết kế cấu trúc thị trường xoay quanh các hoạt động cốt lõi như tổ chức thị trường giao dịch, tự doanh, lưu ký và cung cấp nền tảng phát hành. Đồng thời, văn bản đặt ra các yêu cầu chặt chẽ đối với tổ chức cung cấp dịch vụ về vốn điều lệ, cơ cấu tổ chức, nhân sự, hệ thống công nghệ thông tin, kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro, giám sát giao dịch, giải quyết khiếu nại và bồi thường khách hàng. Đáng chú ý, Nghị quyết yêu cầu hệ thống công nghệ thông tin phải đáp ứng tiêu chuẩn an toàn ở mức cao trước khi đưa vào vận hành (Chính phủ, 2025). Điều đó cho thấy thị trường tài sản mã hóa ngay từ đầu đã được nhìn nhận như một lĩnh vực có rủi ro tài chính - công nghệ cao, cần được kiểm soát bằng cơ chế quản lý chặt chẽ. Văn bản này còn đặt ra một số nguyên tắc có ảnh hưởng trực tiếp đến kế toán. Một mặt, Nghị quyết yêu cầu việc triển khai thí điểm phải được thực hiện thận trọng, minh bạch, có kiểm soát và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các tổ chức, cá nhân tham gia thị trường. Mặt khác, Nghị quyết quy định chào bán, phát hành, giao dịch và thanh toán tài sản mã hóa phải thực hiện bằng Đồng Việt Nam; đồng thời, trong thời kỳ chưa có chính sách thuế riêng, các giao dịch liên quan đến tài sản mã hóa được áp dụng chính sách thuế tương tự như chứng khoán (Chính phủ, 2025). Từ góc nhìn kế toán, những quy định này cho thấy nền tảng pháp lý của thị trường tài sản mã hóa ở Việt Nam được xây dựng theo tinh thần thận trọng và tạm thời sử dụng các cơ chế quản lý gần nhất đang có sẵn trong hệ thống pháp luật tài chính. 3.2. Cấu trúc kế toán của Thông tư 15/2026/ TT-BTC Nếu Nghị quyết 05 định hình thị trường ở cấp độ pháp lý, thì Thông tư số 15/2026/TT-BTC lại xác lập lớp hướng dẫn kế toán đối với các chủ thể tham gia thị trường. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là Thông tư này không ban hành một chế độ kế toán riêng, cũng không thiết lập một hệ thống tài khoản độc lập cho tài sản mã hóa. Theo Điều 4, các tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa, tổ chức phát hành tài sản mã hóa và nhà đầu tư trong nước phải tuân thủ Luật Kế toán, các chuẩn mực kế toán Việt Nam, chế độ kế toán doanh nghiệp và thực hiện hạch toán theo Thông tư số 99/2025/TT-BTC cùng với các hướng dẫn riêng của Thông tư này để ghi sổ, lập và trình bày báo cáo tài chính (Bộ Tài chính, 2026). Như vậy, khung kế toán hiện hành về bản chất là một sự mở rộng của chế độ kế toán doanh nghiệp, chứ chưa phải là một mô hình chuẩn tắc độc lập cho tài sản mã hóa. Một điểm có ý nghĩa phương pháp luận nằm ở Điều 3 của Thông tư 15/2026/TT-BTC. Văn bản quy định rằng trường hợp thuật ngữ chưa được quy định cụ thể thì được hiểu theo bản chất kinh tế của giao dịch để phục vụ mục đích hạch toán kế toán. Đây là nguyên tắc rất quan trọng, vì nó cho thấy nhà làm chính sách thừa nhận rằng, với một thị trường mới như tài sản mã hóa, không thể dựa hoàn toàn vào tên gọi kỹ thuật hoặc hình thức giao dịch để lựa chọn phương pháp hạch toán; thay vào đó, kế toán phải quay trở lại với quyền, nghĩa vụ và lợi ích kinh tế thực chất phát sinh từ giao dịch (Bộ Tài chính, 2026). Đối với tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa, Thông tư 15/2026/TT-BTC yêu cầu ghi nhận doanh thu từ các hoạt động tổ chức thị trường giao dịch, lưu ký và nền tảng phát hành vào tài khoản doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ. Văn bản đồng thời yêu cầu theo dõi chi tiết các khoản phải thu, phân loại nợ và lập dự phòng theo quy định chung. Riêng đối với hoạt động lưu ký, Thông tư quy định rõ tiền và tài sản mã hóa của khách hàng phải được quản lý, hạch toán tách biệt với tiền và tài sản mã hóa của chính tổ chức cung cấp dịch vụ; tài sản mã hóa của khách hàng lưu ký không được ghi nhận là tài sản của đơn vị cung cấp dịch vụ mà chỉ được theo dõi chi tiết để phục vụ quản lý và thuyết minh báo cáo tài chính (Bộ Tài chính, 2026). Quy định này có ý nghĩa rất lớn về mặt kế toán và bảo vệ nhà đầu tư, vì nó khẳng định ranh giới giữa tài sản sở hữu của doanh nghiệp và tài sản doanh nghiệp nắm giữ hộ khách hàng. Đối với hoạt động tự doanh, Thông tư 15/2026/ TT-BTC quy định doanh thu, chi phí và dự phòng rủi ro được hạch toán tương tự hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty chứng khoán, nhưng đồng thời nhấn mạnh việc áp dụng tương tự này không đồng nghĩa coi tài sản mã hóa là chứng khoán. Đối với tổ chức phát hành, việc hạch toán phải căn cứ vào bản chất nghĩa vụ phát sinh từ tài sản mã hóa đã phát hành; nếu tài sản phát hành mang bản chất huy động vốn thì hạch toán tương tự hoạt động vay vốn. Đối với nhà đầu tư trong nước là tổ chức, việc mua bán tài sản mã hóa được hạch toán tương tự hoạt động đầu tư tài chính và căn cứ vào mục đích đầu tư, nắm giữ để lựa chọn cách xử lý phù hợp (Bộ Tài chính, 2026). Các quy định này cho thấy Thông tư 15/2026/TT-BTC không đưa ra một định nghĩa kế toán duy nhất cho tài sản mã hóa, mà lựa chọn cách suy chiếu tới các mô hình kế toán sẵn có theo vai trò kinh tế của chủ thể và bản chất của giao dịch. Một điểm cần lưu ý khác là Thông tư 15/2026/ TT-BTC quy định rõ văn bản này không áp dụng cho việc xác định nghĩa vụ thuế của các tổ chức tham gia thị trường tài sản mã hóa với ngân sách nhà nước. Điều này có nghĩa là cùng một giao dịch có thể phải được xem xét dưới hai lớp quy định khác nhau: một lớp phục vụ ghi sổ, lập và trình bày báo cáo tài chính; lớp còn lại phục vụ xác định nghĩa vụ thuế. Về mặt kỹ thuật pháp lý, đây là lựa chọn thận trọng. Nhưng về mặt thực tiễn, quy định đó cũng báo hiệu khả năng phát sinh chênh lệch giữa xử lý kế toán và xử lý thuế trong quá trình vận hành thị trường. 4. Trao đổi học thuật về khung kế toán hiện hành của Việt Nam 4.1. Về tính chất chuyển tiếp của khung kế toán hiện hành Từ cấu trúc của Thông tư 15/2026/TT-BTC có thể thấy rõ rằng Việt Nam đang áp dụng một khung kế toán mang tính chuyển tiếp. Một mặt, văn bản lấy “bản chất kinh tế của giao dịch” làm nguyên tắc nền để xử lý những trường hợp chưa có quy định cụ thể. Mặt khác, cách hạch toán cụ thể lại chủ yếu được xây dựng bằng cách suy chiếu từ những mô hình kế toán sẵn có, như doanh thu dịch vụ, kinh doanh chứng khoán, vay vốn hay đầu tư tài chính. Cách tiếp cận này có ưu điểm rõ ràng là dễ triển khai trong thực tế, không tạo ra cú sốc quá lớn đối với hệ thống kế toán doanh nghiệp và phù hợp với tinh thần thận trọng của giai đoạn thí điểm. Tuy nhiên, xét từ góc độ phát triển chuẩn mực, đây mới chỉ là một cách xử lý quá độ. Một khung kế toán hoàn chỉnh đối với một loại tài sản mới cần ít nhất ba cấu phần cơ bản: tiêu chí phân loại rõ ràng, cơ sở đo lường sau ghi nhận phù hợp và yêu cầu trình bày, công bố thông tin đủ để người sử dụng hiểu được rủi ro cũng như giá trị kinh tế của khoản mục. Trong khung hiện hành của Việt Nam, cả ba cấu phần đó đều đã xuất hiện ở mức độ nhất định, nhưng chưa được thiết kế thành một hệ thống nhất quán. Đây là lý do khiến khung kế toán hiện tại phù hợp cho việc mở đường, nhưng chưa phải là điểm dừng cuối cùng của quá trình chuẩn tắc hóa. 4.2. Về nền tảng phân loại kế toán Về mặt pháp lý, Nghị quyết 05/2025/NQ-CP đã xác định tài sản mã hóa không phải là chứng khoán, cũng không phải là dạng số của tiền pháp định hay các tài sản tài chính khác. Tuy nhiên, về mặt hạch toán, Thông tư 15/2026/TT-BTC lại cho phép xử lý theo mô hình của kinh doanh chứng khoán, vay vốn hay đầu tư tài chính trong từng tình huống cụ thể. Điều này cho thấy hệ thống kế toán hiện tại vẫn đang hướng dẫn theo cấu trúc của những loại tài sản hoặc giao dịch khác để xử lý một đối tượng mà chính pháp luật đã tách khỏi các nhóm đó. Cách làm này không phải không có cơ sở. Thực tế, IFRIC năm 2019 cũng đã lựa chọn xử lý tiền mã hóa bằng cách quy chiếu về IAS 2 hoặc IAS 38. Tuy nhiên, khác với IFRIC, Thông tư 15/2026/TTBTC của Việt Nam chưa tạo được một khái niệm đủ rõ ở tầng chuẩn mực. Trong khi IFRIC giải thích tương đối chặt vì sao khoản nắm giữ tiền mã hóa không phải là tiền hay tài sản tài chính và vì sao IAS 38 trở thành khung xử lý phù hợp trong trường hợp không phải hàng tồn kho, thì cách tiếp cận của Việt Nam hiện nay mới dừng nhiều hơn ở tầng vận dụng thực hành theo vai trò của chủ thể. Về dài hạn, điều này có thể làm giảm tính nhất quán của thông tin kế toán giữa các doanh nghiệp. 4.3. Về cơ sở đo lường sau ghi nhận Một vấn đề quan trọng cần trao đổi nằm ở đo lường sau ghi nhận tài sản mã hóa. Đặc điểm nổi bật của tài sản mã hóa là biến động giá mạnh, thanh khoản khác nhau giữa các nền tảng và giá trị kinh tế thường gắn chặt với khả năng giao dịch trên thị trường. Vì vậy, câu hỏi về giá gốc, giá trị hợp lý, xử lý tổn thất, dự phòng rủi ro hay chênh lệch đánh giá lại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thế nhưng, Thông tư 15/2026/TT-BTC chưa trả lời trực tiếp những vấn đề này. Văn bản chủ yếu quy định cách xếp giao dịch vào các mô hình kế toán sẵn có, chứ chưa xây dựng nguyên tắc đo lường sau ghi nhận đối với tài sản mã hóa như một đối tượng riêng. Khi đối chiếu với kinh nghiệm quốc tế, khoảng trống này bộc lộ khá rõ. Dưới IFRS, việc xử lý theo IAS 38 vẫn để lại tranh luận về mức độ thích hợp của mô hình giá gốc đối với những tài sản phụ thuộc mạnh vào giá thị trường. Dưới chuẩn mực kế toán Hoa Kỳ, FASB đã chuyển sang mô hình đo lường theo giá trị hợp lý cho tài sản mã hóa thuộc phạm vi chuẩn mực và yêu cầu phản ánh ngay biến động giá trị vào kết quả kinh doanh. Điều đó cho thấy đo lường sau ghi nhận chính là điểm phân biệt quan trọng giữa giai đoạn xử lý bằng loại suy với giai đoạn chuyên biệt hóa. So với xu hướng này, khung của Việt Nam hiện vẫn đang ở bước đầu. 4.4. Về trình bày và công bố thông tin Trong lĩnh vực tài sản mã hóa, rủi ro không chỉ nằm ở biến động giá. Rủi ro còn nằm ở năng lực lưu ký, an toàn công nghệ, quyền truy cập tài sản, xung đột lợi ích giữa hoạt động dịch vụ và tự doanh, cũng như mức độ tập trung nắm giữ. Đây cũng là lý do IOSCO và MiCA đều nhấn mạnh mạnh mẽ vào minh bạch thông tin, giám sát hoạt động và bảo vệ tài sản của khách hàng. Thông tư 15/2026/TT-BTC của Việt Nam đã có một điểm đúng và đáng ghi nhận là yêu cầu tách biệt, theo dõi và thuyết minh tài sản mã hóa của khách hàng lưu ký. Tuy vậy, đối với tài sản mã hóa do chính đơn vị nắm giữ hoặc phát hành, văn bản chưa hình thành một bộ yêu cầu thuyết minh thật sự đầy đủ. Chẳng hạn, chưa có quy định rõ về việc công bố chính sách phân loại, cơ sở đo lường, mức độ tập trung nắm giữ, hạn chế giao dịch, rủi ro công nghệ, hay các sự kiện có thể ảnh hưởng đến khả năng truy cập và chuyển giao tài sản. Trong bối cảnh thị trường tài sản mã hóa phụ thuộc mạnh vào hạ tầng công nghệ và cơ chế lưu ký, phần công bố thông tin có ý nghĩa không kém phần đo lường. 4.5. Về quan hệ giữa kế toán, quản lý thị trường và quản trị rủi ro Từ các tài liệu quốc tế cũng như khung pháp lý của Việt Nam, có thể thấy kế toán tài sản mã hóa không thể được xem đơn thuần là câu chuyện phân loại tài khoản hay lựa chọn bút toán. Loại tài sản này đặt ra đồng thời các yêu cầu về quản lý thị trường, bảo vệ tài sản khách hàng, kiểm soát công nghệ và truy vết giao dịch. Chính vì vậy, chất lượng của khung kế toán không chỉ phụ thuộc vào việc chọn mô hình giá gốc hay giá trị hợp lý, mà còn phụ thuộc vào khả năng liên kết giữa kế toán với hệ thống giám sát thị trường và quản trị rủi ro. Ở điểm này, Nghị quyết 05/2025/NQ-CP đã đi trước một bước khi thiết kế khá chặt các yêu cầu về vốn, công nghệ, quản trị rủi ro, giám sát giao dịch và bảo vệ khách hàng. Tuy nhiên, lớp kế toán tương ứng trong Thông tư 15/2026/TT-BTC mới chỉ phản ánh một phần của yêu cầu đó. Điều này cho thấy trong giai đoạn tiếp theo, nếu muốn nâng chất lượng thông tin tài chính của thị trường tài sản mã hóa, việc hoàn thiện khung kế toán cần được đặt trong mối liên hệ chặt với cơ chế quản lý thị trường, thay vì chỉ xem đây là vấn đề kỹ thuật ghi sổ. 5. Một số kiến nghị Thứ nhất, Việt Nam chưa nhất thiết phải ban hành ngay một chuẩn mực kế toán độc lập cho tài sản mã hóa, nhưng cần sớm có hướng dẫn kỹ thuật bổ sung cho Thông tư 15/2026/TT-BTC theo hướng làm rõ tiêu chí phân loại kế toán. Hướng dẫn này nên dựa trên cấu trúc quyền và nghĩa vụ kinh tế gắn với tài sản mã hóa, thay vì chỉ dựa vào vai trò của chủ thể tham gia thị trường. Chỉ khi nền tảng khái niệm được làm rõ hơn thì tính nhất quán của hệ thống mới được củng cố. Thứ hai, cần ưu tiên xây dựng nguyên tắc đo lường sau ghi nhận. Tối thiểu, văn bản hướng dẫn trong thời gian tới nên làm rõ trường hợp nào được sử dụng giá trị hợp lý, tiêu chí xác định thị trường hoạt động, cách xử lý tài sản bị hạn chế chuyển nhượng hoặc thiếu thanh khoản và cách phản ánh chênh lệch đánh giá lại trên báo cáo tài chính. Đây là mắt xích quyết định mức độ hữu ích của thông tin kế toán đối với người sử dụng báo cáo tài chính. Thứ ba, cần nâng chuẩn công bố thông tin đối với các tổ chức tham gia thị trường tài sản mã hóa. Báo cáo tài chính nên yêu cầu công bố rõ chính sách phân loại, cơ sở đo lường, quy mô tài sản khách hàng đang nắm giữ hộ, rủi ro lưu ký, rủi ro công nghệ, mức độ tập trung tài sản và các hạn chế pháp lý hoặc kỹ thuật liên quan đến việc chuyển nhượng, truy cập và hiện thực hóa giá trị của tài sản mã hóa. Đây là hướng đi phù hợp với xu thế minh bạch hóa đang được thúc đẩy trong quản lý quốc tế. Kết luận Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP và Thông tư số 15/2026/TT-BTC đã tạo ra nền tảng pháp lý và kế toán ban đầu cho thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam. Điểm mạnh của khuôn khổ hiện hành là sự thận trọng, tính khả thi và khả năng tận dụng hệ thống kế toán doanh nghiệp đang vận hành. Cách tiếp cận này phù hợp với giai đoạn thí điểm, khi thị trường còn mới, giao dịch còn đang phát triển nhanh và nhà làm chính sách cần ưu tiên sự an toàn và khả năng kiểm soát.Tuy nhiên, dưới góc độ học thuật, khung kế toán hiện hành của Việt Nam vẫn chủ yếu mang tính chuyển tiếp. Các quy định hiện nay mới dừng ở mức định hướng theo nguyên tắc và suy chiếu từ các mô hình kế toán sẵn có, trong khi những vấn đề cốt lõi như nền tảng phân loại, đo lường sau ghi nhận và công bố thông tin vẫn chưa được hoàn thiện thành một hệ thống đủ chặt. Vì vậy, đánh giá cân bằng nhất là: khung kế toán hiện nay phù hợp để mở đường cho thị trường vận hành có kiểm soát, nhưng chưa phải là điểm kết thúc của quá trình xây dựng chuẩn mực kế toán cho tài sản mã hóa tại Việt Nam. Khi quy mô thị trường tăng lên và các giao dịch trở nên đa dạng, yêu cầu hoàn thiện khung kế toán theo hướng rõ hơn, nhất quán hơn và minh bạch hơn sẽ gần như là điều tất yếu. Tài liệu tham khảo 1. Bộ Tài chính. (2026). Thông tư số 15/2026/TT-BTC ngày 04/3/2026 hướng dẫn nguyên tắc kế toán đối với các tổ chức tham gia thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam; 2. Chính phủ. (2025). Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP ngày 09/9/2025 về việc triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam; 3. European Commission. (n.d.). Crypto-assets. https://finance.ec.europa.eu/digital-finance/crypto-assets_en; 4. European Securities and Markets Authority. (2025). Markets in Crypto-Assets Regulation (MiCA). https://www. esma.europa.eu/esmas-activities/digital-finance-and-innovation/markets-crypto-assets-regulation-mica; 5. Financial Accounting Standards Board. (2023). Accounting Standards Update No. 2023-08: Intangibles-Goodwill and Other-Crypto Assets (Subtopic 350-60): Accounting for and Disclosure of Crypto Assets. https://storage.fasb.org/ASU%202023-08.pdf; 6. IFRS Foundation. (2019a). Holdings of cryptocurrencies. IFRIC Update, June 2019. https://www.ifrs.org/content/ dam/ifrs/supporting-implementation/agenda-decisions/2019/holdings-of-cryptocurrencies-june-2019.pdf; 7. IFRS Foundation. (2024). IAS 38 Intangible Assets. https://www.ifrs.org/issued-standards/list-ofstandards/ias-38-intangible-assets/; 8. International Organization of Securities Commissions. (2023). Policy recommendations for crypto and digital asset markets. https://www.iosco.org/library/pubdocs/pdf/IOSCOPD747.pdf; 9. Organisation for Economic Co-operation and Development. (2025). Crypto-Asset Reporting Framework: 2025 monitoring and implementation update. https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/networks/globalforum-tax-transparency/crypto-asset-reporting-framework-monitoring-implementation-update-2025.pdf. Ngày nhận bài: 23/02/2026 Ngày biên tập: 26/02/2026 Ngày duyệt đăng: 10/4/2026 Tác giả: Nguyễn Thị Cảnh Hoa Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội Hoàng Thục Uyên Học viện Tài chính Lê Bảo Ngọc Học viện Tài chính Email: ntchoa@hunre.edu.vn (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, số tháng 4/2026)

Thúc đẩy áp dụng kế toán xanh tại các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam hướng tới phát triển bền vững

Bài viết này nhằm đánh giá quá trình chuyển đổi từ hệ thống kế toán truyền thống sang kế toán xanh tại các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam trong bối cảnh thực hiện cam kết Net Zero vào năm 2050. Mục tiêu trọng tâm của bài viết nhằm làm rõ khái niệm, vai trò về kế toán xanh và phân tích thực trạng tại các tập đoàn tiên phong như Vingroup và Vinamilk. Bằng phương pháp tổng hợp và phân tích định tính, nghiên cứu chỉ ra rằng hệ thống kế toán hiện tại đang còn những khoảng trống về nhận diện chi phí và ghi nhận nghĩa vụ môi trường. Kết quả phân tích cho thấy, việc áp dụng kế toán xanh không chỉ là yêu cầu tuân thủ mà còn là công cụ minh bạch hóa thông tin, giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro pháp lý và nâng cao lợi thế cạnh tranh quốc tế. Bài viết đề xuất lộ trình chuẩn hóa hành lang pháp lý và xây dựng hệ thống chỉ số ESG tích hợp như một hàm ý chính sách quan trọng cho các cơ quan quản lý và doanh nghiệp. Từ khóa: Kế toán xanh, doanh nghiệp sản xuất, phát triển bền vững, Net Zero 2050, ESG. Promoting green accounting adoption in Vietnamese manufacturing enterprises toward sustainable development This paper evaluates the transition from traditional to green accounting in Vietnamese manufacturing firms within the context of the 2050 Net Zero commitment. The main objective of this article is to clarify the concept and role of green accounting and analyze the current situation at pioneering corporations such as Vingroup and Vinamilk. Using qualitative analysis, the study identifies gaps in the current system regarding cost identification and environmental liability recognition. Results indicate that green accounting is not only a compliance requirement but also a tool for transparency that reduces legal risks and enhances international competitiveness. The paper proposes a roadmap for legal standardization and the development of integrated ESG index system as a key policy implication for regulatory bodies and businesses. Keywords: Green accounting, manufacturing enterprises, sustainable development, Net Zero 2050, ESG. JEL classification: M41, Q56, O44 https://doi.org/10.65771/ati-jas.04202603 Trong kỷ nguyên biến đổi khí hậu, hoạt động sản xuất công nghiệp với đặc thù phát thải lớn đang trở thành trọng tâm của các nỗ lực kiểm soát môi trường toàn cầu. Tại Hội nghị COP 26, cam kết đạt mức phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào năm 2050 của Chính phủ Việt Nam đã xác lập một kỷ nguyên quản trị mới. Điều này tạo ra “áp lực đáng kể” buộc các doanh nghiệp sản xuất phải chuyển dịch từ mô hình tăng trưởng tuyến tính sang kinh tế tuần hoàn. Tuy nhiên, dưới góc độ kế toán, hệ thống kế toán truyền thống đang bộc lộ những hạn chế cố hữu khi không phản ánh đầy đủ các chi phí ngoại ứng và tác động môi trường vào giá thành sản phẩm. Vì vậy, việc chuyển đổi sang kế toán xanh không còn là một lựa chọn mang tính hình thức mà nó đã dần trở thành tất yếu để giúp kiểm soát thông tin, hỗ trợ ra quyết định chiến lược và đáp ứng trách nhiệm giải trình trước các bên liên quan. 1. Các hướng tiếp cận về kế toán xanh Kế toán xanh đã trải qua quá trình tiến hóa kể từ thập niên 80, chuyển từ việc ghi nhận chi phí đơn lẻ sang một hệ thống quản trị tích hợp. Các quan điểm về kế toán xanh được chuẩn hóa qua 05 nội dung cốt lõi: (1) Kế toán tài chính môi trường; (2) Kế toán quản trị môi trường; (3) Tài chính môi trường; (4) Pháp luật môi trường và (5) Đạo đức & Trách nhiệm xã hội. Đối với doanh nghiệp sản xuất, đây là hệ thống đa chiều giúp lượng hóa các tác động môi trường thành các chỉ số tài chính và phi tài chính có thể kiểm chứng được. Bảng 1: Bảng các hướng tiếp cận về kế toán xanh   2. Kế toán truyền thống, kế toán môi trường và kế toán xanh Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang chuyển mình mạnh mẽ theo hướng phát triển bền vững, vai trò của kế toán không còn dừng lại ở việc ghi nhận và phản ánh các giao dịch tài chính thuần túy. Thay vào đó, kế toán ngày càng được kỳ vọng trở thành một công cụ quản trị toàn diện, góp phần đo lường, đánh giá và định hướng các hoạt động kinh tế gắn liền với trách nhiệm xã hội và bảo vệ môi trường. Chính sự thay đổi này đã dẫn đến sự ra đời và phát triển của nhiều cách tiếp cận kế toán khác nhau, tiêu biểu là kế toán truyền thống, kế toán môi trường và kế toán xanh. Sự khác biệt giữa ba loại hình kế toán này thể hiện rõ nét ở mức độ tích hợp các yếu tố bền vững vào hệ thống thông tin và báo cáo quản trị. Nếu như kế toán truyền thống chủ yếu tập trung vào các chỉ tiêu tài chính, thì kế toán môi trường bắt đầu ghi nhận và phản ánh các chi phí, lợi ích liên quan đến môi trường. Trong khi đó, kế toán xanh tiến xa hơn khi kết hợp hài hòa giữa mục tiêu kinh tế, môi trường và xã hội, hướng đến việc cung cấp thông tin phục vụ phát triển bền vững một cách toàn diện. Bảng 2: Bảng so sánh kế toán truyền thống, kế toán môi trường và kế toán xanh Kế toán xanh hướng tới sự minh bạch hóa toàn diện, trong đó thông tin môi trường được xem là một thành phần không thể tách rời của giá trị doanh nghiệp. Hơn nữa, kế toán xanh không chỉ là sự mở rộng của hệ thống kế toán truyền thống mà còn là công cụ quản trị chiến lược tất yếu. Bằng cách tích hợp các dòng thông tin tài chính với các tác động môi trường, kế toán xanh mang lại những giá trị đa chiều. Vai trò của kế toán xanh được thể hiện: Thứ nhất, Là công cụ định hướng phát triển bền vững của nền kinh tế Kế toán xanh khắc phục những hạn chế mà kế toán truyền thống thường bỏ qua bằng cách bổ sung và phản ánh các thông tin chưa được phản ánh, đặc biệt là các chi phí ngoại ứng liên quan đến môi trường. Việc đo lường các tác động môi trường không chỉ nâng cao chất lượng các chính sách áp dụng mà còn cung cấp cơ sở dữ liệu giúp cơ quan quản lý đánh giá mức độ quan hệ đánh đổi giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường. Đồng thời, thông tin từ kế toán xanh còn là cơ sở để thiết kế và triển khai các công cụ kinh tế khác như thuế môi trường hay tín dụng xanh, qua đó góp phần định hướng nền kinh tế phát triển theo hướng giảm phát thải. Thứ hai, Tối ưu hóa nguồn lực và vị thế cạnh tranh trong doanh nghiệp Kế toán xanh không chỉ sử dụng tài nguyên thông qua việc nhận diện và đo lường các chi phí môi trường như chi phí xử lý chất thải, tiêu thụ năng lượng và nguyên vật liệu đầu vào mà nó còn tích hợp các định hướng chiến lược phát triển bền vững (ESG). Vậy nên, doanh nghiệp có thể kiểm soát tốt hơn các điểm gây lãng phí trong quá trình sản xuất, qua đó tối ưu hóa công tác quản trị chi phí, giá thành sản phẩm của doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả hoạt động. Việc minh bạch hóa các thông tin liên quan đến phát triển bền vững theo các tiêu chí ESG giúp doanh nghiệp gia tăng giá trị doanh nghiệp và niềm tin đối với các bên liên quan. Điều này không chỉ tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tiếp cận các thị trường có yêu cầu cao mà còn nâng cao khả năng huy động vốn từ các tổ chức tài chính đang ưu tiên các dự án thân thiện với môi trường. Kế toán xanh hỗ trợ doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro pháp lý và xây dựng lợi thế cạnh tranh dài hạn. Thông qua việc chủ động thích ứng với các quy định môi trường ngày càng chặt chẽ và các cam kết quốc tế như cơ chế Điều chỉnh biên giới các-bon (CBAM) hay mục tiêu tổng lượng khí nhà kính phát thải bằng không (Net Zero), doanh nghiệp có thể hạn chế các chi phí phát sinh do vi phạm, đồng thời tạo ra sự khác biệt so với các đối thủ trong quá trình chuyển đổi xanh và phát triển bền vững. Tóm lại, kế toán xanh là sự giao thoa giữa hiệu quả kinh tế và trách nhiệm xã hội. Nó chuyển đổi các áp lực về môi trường thành các chỉ số quản trị định lượng, giúp doanh nghiệp không chỉ tồn tại mà còn phát triển thịnh vượng trong kỷ nguyên kinh tế tuần hoàn. 3. Thực trạng và những thách thức trong việc áp dụng tại Việt Nam 3.1. Thực trạng về kế toán xanh tại các doanh nghiệp lớn của Việt Nam Theo quan điểm của Yakhou và Dorweiler (2004), hệ thống kế toán truyền thống đang tồn tại những hạn chế nhất định khi chưa phản ánh đầy đủ các tác động từ hoạt động sản xuất kinh doanh đến môi trường vào báo cáo tài chính. Trước diễn biến hiện nay, môi trường toàn cầu đang phải đối mặt với nhiều vấn đề nghiêm trọng. Có thể kể đến như hiện tượng nóng lên toàn cầu, sự gia tăng nhiệt độ dẫn đến băng tan, mực nước biển dâng cao, cùng với các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, lũ, động đất và sóng thần xảy ra với tần suất và cường độ ngày càng lớn. Bên cạnh đó, các hoạt động sản xuất cũng gây ra những tác động tiêu cực đáng kể đến môi trường. Hoạt động của các doanh nghiệp thải ra một lượng lớn khí độc hại, gây ô nhiễm không khí; đồng thời, rác thải công nghiệp và nước thải không được xử lý đúng cách làm ô nhiễm nguồn nước và đất. Những vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe con người mà còn gây ra những tổn thất đáng kể cho nền kinh tế toàn cầu. Vấn đề này nhận được sự quan tâm lớn đòi hỏi và thúc đẩy các doanh nghiệp tích hợp các thông số về môi trường vào báo cáo tài chính. Tại Việt Nam, mặc dù khung pháp lý về kế toán xanh vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, thực tiễn vận dụng đã ghi nhận những bước tiến tích cực từ các doanh nghiệp tiên phong, khi họ đã và đang chú trọng thực hiện các phương pháp nhằm đo lường và ghi nhận, công bố minh bạch các thông tin liên quan đến môi trường thông qua báo cáo phát triển bền vững. Thứ nhất, việc đo lường các tác động môi trường thông qua kế toán quản trị carbon đang dần được chú trọng. Tại Việt Nam các doanh nghiệp như Vinamilk, TH Group hay Vin Group đã tiên phong trong việc thực hiện các phương pháp để đo lường và ghi nhận các thông số từ hoạt động sản xuất đến môi trường. Điển hình như tập đoàn Vingroup, trong Báo cáo Phát triển bền vững năm 2024, đơn vị này đã áp dụng các kỹ thuật đo lường lượng phát thải khí nhà kính (GHG) một cách chi tiết theo hai phạm vi quy chuẩn. Trong đó, phạm vi 1 ghi nhận 218.876 tCO2e phát sinh trực tiếp từ việc tiêu thụ xăng, dầu diesel, LPG, quá trình xử lý nước thải và từ sự hao hụt môi chất lạnh từ các hệ thống làm mát; phạm vi 2 xác định 468.739 tCO2e gián tiếp từ nguồn điện lưới tiêu thụ. Việc hạch toán này không chỉ dừng lại ở con số tài chính mà còn kết hợp chặt chẽ với các chỉ số vật lý. Minh chứng là sản lượng 8,4 triệu kWh điện mặt trời giúp giảm 6,6 nghìn tCO2e phát thải. Đây là biểu hiện rõ nét của việc áp dụng kế toán xanh trong việc đánh giá hiệu quả của các dự án đầu tư năng lượng sạch. Thứ hai, xu hướng tích hợp báo cáo bền vững và cam kết lộ trình Net Zero. Tại Hội nghị COP 26, Nhà nước đã đưa ra cam kết đạt mục tiêu Net Zero (phát thải ròng bằng “0”) vào năm 2050. Các doanh nghiệp đang đồng hành cùng Chính phủ, nỗ lực trong hành trình hướng tới nền kinh tế xanh. Bên cạnh Vingroup, Vinamilk cũng là một điểm sáng trong việc kết nối quy trình sản xuất sạch với hệ thống báo cáo quản trị. Thông qua việc đầu tư hệ thống năng lượng tái tạo cho 12 trang trại bò sữa, Vinamilk đã thực hiện hạch toán các chi phí môi trường liên quan đến lộ trình trung hòa carbon (VnExpress (2021). Việc công bố các thông tin này theo tiêu chuẩn Net Zero 2050 trong báo cáo thường niên cho thấy sự dịch chuyển trong tư duy kế toán: từ việc chỉ ghi nhận chi phí thực tế sang việc quản trị các giá trị bền vững và rủi ro môi trường dài hạn. Nhìn chung, thực tiễn tại các doanh nghiệp lớn cho thấy kế toán xanh tại Việt Nam đang dần hình thành dưới dạng các báo cáo phi tài chính, tạo tiền đề quan trọng cho việc chuẩn hóa các chuẩn mực kế toán môi trường trong tương lai. 3.2. Thách thức từ hạch toán tín chỉ Carbon Thị trường tín chỉ Carbon đang dần hình thành (1 tín chỉ = 1 tấn CO2) tạo ra các giao dịch kinh tế mới. Doanh nghiệp có thể mua tín chỉ Carbon để bù trừ cho lượng CO2 vượt quá mức cho phép, đồng thời các doanh nghiệp cũng có thể kiếm được doanh thu từ hoạt động bán tín chỉ Carbon cho các doanh nghiệp khác. Việc mua bán tín chỉ Carbon phát sinh chi phí đối với các doanh nghiệp mua và doanh thu đối với các doanh nghiệp bán tín chỉ Carbon. Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa có hướng dẫn kế toán cho hoạt động này, chưa có các tài khoản riêng biệt để theo dõi doanh thu và chi phí từ loại tài sản này, dẫn đến rủi ro trong việc trình bày thông tin trên báo cáo tài chính. 3.3. Các rào cản về khung pháp lý và kỹ thuật Mặc dù kế toán xanh mang lại nhiều lợi ích nhưng việc triển khai tại Việt Nam vẫn đang đối mặt với những khó khăn, cản trở khả năng minh bạch hóa thông tin môi trường của doanh nghiệp. Thứ nhất, Sự thiếu hụt khung pháp lý và hướng dẫn nghiệp vụ chuyên biệt Hiện nay, Bộ Tài chính vẫn chưa ban hành hệ thống chuẩn mực hoặc hướng dẫn kế toán riêng biệt cho các giao dịch liên quan đến môi trường. Sự thiếu hụt này dẫn đến những hạn chế về mặt kỹ thuật. Trong hệ thống tài khoản hiện nay chưa có các tài khoản riêng để tách bạch các chi phí liên quan đến môi trường. Phần lớn các chi phí phát sinh từ hoạt động bảo vệ môi trường hiện đang được ghi nhận chung vào tài khoản Chi phí sản xuất chung (TK 627) hoặc Chi phí quản lý doanh nghiệp (TK 642). Việc hạch toán gộp các chi phí với nhau khiến dữ liệu về chi phí môi trường bị lu mờ, làm mất đi tính khả thi trong việc phân tích mối tương quan giữa dòng vốn đầu tư cho môi trường và hiệu quả kinh tế thu về. Điều này vô hình trung khiến các dự án xanh trở thành “gánh nặng chi phí” thay vì là khoản đầu tư tạo giá trị bền vững cũng như thu hút các nhà đầu tư. Thứ hai, Hiện tượng bất đối xứng thông tin và rủi ro ghi nhận nợ tiềm tàng Sự thiếu vắng các quy định mang tính bắt buộc về công bố thông tin môi trường đã tạo ra lỗ hổng lớn trong báo cáo tài chính. Trước hết, xét trên phương diện kế toán, trong quá trình sản xuất, các khoản dự phòng về xử lý ô nhiễm, phục hồi môi trường hoặc các nghĩa vụ nợ tiềm tàng liên quan đến phát thải thường xuyên có thể bị các doanh nghiệp bỏ qua hoặc ghi nhận không đầy đủ, dẫn đến lợi nhuận bị thổi phồng trong khi nợ phải trả lại bị đánh giá thấp hơn thực tế. Điều này làm giảm độ tin cậy của báo cáo tài chính khi được phát hành khi chưa đánh giá đúng hiệu quả hoạt động và tình hình tài chính của doanh nghiệp. Đồng thời, điều này tạo ra tình trạng bất đối xứng thông tin nghiêm trọng giữa doanh nghiệp và các đối tượng bên ngoài. Doanh nghiệp nắm rõ các rủi ro môi trường nhưng lại không có nghĩa vụ công bố đầy đủ các thông tin về môi trường dẫn đến các nhà đầu tư chỉ tiếp cận được các chỉ tiêu tài chính ngắn hạn. Do đó, họ dễ bị dẫn dắt bởi các con số lợi nhuận ngắn hạn, trong khi các rủi ro tài chính dài hạn và trách nhiệm pháp lý về môi trường của doanh nghiệp lại không được phản ánh trung thực trên bảng cân đối kế toán. Hệ quả là các nhà đầu tư có thể đưa ra quyết định đầu tư bị sai lệch do đánh giá không đầy đủ các rủi ro liên quan đến môi trường. 4. Giải pháp và kiến nghị lộ trình thực hiện 4.1. Đối với doanh nghiệp và kế toán viên Trong bối cảnh các vấn đề môi trường ngày càng gia tăng và yêu cầu phát triển bền vững trở thành xu hướng tất yếu, việc triển khai kế toán xanh đòi hỏi sự chủ động từ phía doanh nghiệp cùng với sự nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ kế toán viên. Đối với doanh nghiệp, các nhà quản lý cần triển khai xây dựng và vận hành hệ thống tích hợp thêm kế toán môi trường vào hệ thống kế toán đang sử dụng. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở việc bổ sung tài khoản kế toán thì chưa đủ để phát huy hiệu quả quản trị. Trong bối cảnh Chính phủ đang thúc đẩy chuyển đổi số, việc ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) trở nên cần thiết nhằm khắc phục hạn chế của các hệ thống kế toán truyền thống vốn phân tán và thiếu liên kết dữ liệu. ERP cho phép tích hợp dữ liệu tài chính - kế toán với dữ liệu môi trường theo thời gian thực, qua đó không chỉ nâng cao tính minh bạch của thông tin mà còn giúp doanh nghiệp phân tích mối quan hệ giữa chi phí môi trường và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp cần chủ động thiết lập các tài khoản riêng, nhận diện, ghi nhận và phân loại các chi phí môi trường như chi phí phòng ngừa, xử lý và khắc phục ô nhiễm gây ra. Không chỉ dừng lại ở việc phân loại chi phí, việc này còn giúp doanh nghiệp nhận diện rõ các nguồn phát sinh chi phí môi trường, từ đó tạo cơ sở cho việc kiểm soát và tối ưu hóa chi phí. Khi được tích hợp với hệ thống ERP, khả năng theo dõi, so sánh và đánh giá các chỉ tiêu môi trường sẽ trở nên chính xác và kịp thời hơn. Việc thiết lập các tài khoản chi tiết cho từng loại chi phí không chỉ góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin kế toán mà còn hỗ trợ hiệu quả cho công tác quản trị chi phí và ra quyết định. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần chú trọng đầu tư vào hoạt động đào tạo nhằm nâng cao nhận thức và năng lực triển khai kế toán xanh cho đội ngũ nhân sự. Trong môi trường số hóa, hoạt động đào tạo cần gắn với việc nâng cao kỹ năng công nghệ thông tin, đặc biệt là khả năng sử dụng và khai thác hệ thống ERP, nhằm đáp ứng yêu cầu xử lý dữ liệu tích hợp. Ngoài ra, doanh nghiệp cần thiết lập hệ thống chỉ tiêu đo lường hiệu quả môi trường gắn với hoạt động sản xuất kinh doanh, chẳng hạn như mức tiêu thụ năng lượng hoặc chi phí xử lý chất thải trên mỗi đơn vị sản phẩm. Các chỉ tiêu này, khi được liên kết với dữ liệu tài chính, sẽ giúp lượng hóa tác động của hoạt động môi trường đến hiệu quả kinh doanh, từ đó hỗ trợ doanh nghiệp điều chỉnh chiến lược theo hướng phát triển bền vững. Đối với kế toán viên cần chủ động nâng cao năng lực chuyên môn để đáp ứng yêu cầu của kế toán xanh. Cụ thể, kế toán viên cần thường xuyên cập nhật kiến thức về kế toán môi trường và các xu hướng liên quan, đồng thời áp dụng các phương pháp hạch toán chi phí môi trường vào công việc thực tế. Trong bối cảnh chuyển đổi số, kế toán viên cần nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ, đặc biệt là khả năng khai thác và sử dụng dữ liệu từ hệ thống ERP. Vai trò của kế toán viên không chỉ dừng lại ở việc ghi chép mà còn chuyển dịch sang phân tích và tư vấn cho nhà quản trị thông qua dữ liệu kế toán - môi trường. Ngoài ra, kế toán viên không chỉ ghi chép và phản ánh thông tin mà cần chủ động tham gia xây dựng, đề xuất sáng kiến tiết kiệm tài nguyên và cải thiện quy trình và theo dõi các chỉ tiêu môi trường trong báo cáo quản trị, cũng như giúp doanh nghiệp nhận diện các điểm gây lãng phí tài nguyên và đề xuất biện pháp cải thiện. Thông qua việc phân tích dữ liệu tích hợp, kế toán viên có thể góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và hỗ trợ doanh nghiệp hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. 4.2. Đối với Chính phủ và Cơ quan quản lý Trong bối cảnh Việt Nam đang hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” (Net Zero), việc thúc đẩy áp dụng kế toán xanh tại các doanh nghiệp sản xuất ngày càng trở nên cấp thiết. Để hiện thực hóa mục tiêu này, vai trò định hướng và hỗ trợ từ phía Chính phủ và các cơ quan quản lý là yếu tố then chốt trong việc thúc đẩy doanh nghiệp áp dụng kế toán xanh. Trước hết, việc chuẩn hóa hàng lang pháp lý là nền tảng quan trọng nhằm tạo cơ sở cho việc triển khai kế toán xanh một cách đồng bộ và hiệu quả. Chính phủ và cơ quan quản lý cần khẩn trương nghiên cứu, xây dựng và ban hành các chuẩn mực liên quan đến kế toán xanh dựa trên sự tham chiếu chuẩn mực quốc tế như IFRS và các tiêu chuẩn ESG. Đồng thời, cần từng bước thiết lập các cơ chế bắt buộc đối với các doanh nghiệp sản xuất có quy mô lớn trong việc công bố các thông tin liên quan đến phát thải và tác động đến môi trường. Điều này không chỉ góp phần nâng cao tính minh bạch mà còn tạo áp lực tích cực buộc doanh nghiệp phải cải thiện và chuyển đổi theo hướng tích cực đối với môi trường. Bên cạnh đó, việc sử dụng các công cụ kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi sang mô hình sản xuất xanh. Chính phủ cần đẩy mạnh áp dụng các chính sách như thuế xanh, tín dụng xanh và các ưu đãi thuế thu nhập cho các đơn vị đầu tư công nghệ không phát thải. Các chính sách này không chỉ giúp giảm bớt gánh nặng chi phí ban đầu cho doanh nghiệp mà còn khuyến khích họ chủ động đổi mới công nghệ, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh và hướng tới phát triển bền vững trong dài hạn. Ngoài ra, chuyển đổi nhận thức của doanh nghiệp cũng là một yếu tố không thể thiếu trong quá trình thúc đẩy kế toán xanh. Các cơ quan quản lý cần tổ chức các chương trình đào tạo chuyên sâu, hội thảo và hoạt động truyền thông nhằm giúp doanh nghiệp hiểu rõ vai trò và lợi ích của kế toán xanh. Qua đó, kế toán xanh cần được nhìn nhận không chỉ là một “nghĩa vụ tuân thủ” các quy định pháp luật mà còn là một “lợi thế cạnh tranh chiến lược”, đặc biệt trong bối cảnh các thị trường quốc tế và chuỗi cung ứng toàn cầu ngày càng đặt ra những yêu cầu khắt khe về trách nhiệm môi trường và phát triển bền vững. Chính vì vậy, kế toán xanh là công cụ then chốt để chuyển hóa các áp lực về môi trường thành giá trị kinh tế bền vững. Việc áp dụng hệ thống này không chỉ giúp doanh nghiệp tối ưu hóa nguồn lực mà còn là hỗ trợ các doanh nghiệp bước vào thị trường quốc tế trong bối cảnh thực thi Net Zero 2050. Kế toán xanh chính là sự khẳng định về trách nhiệm giải trình và đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Kết luận Trong lộ trình thực hiện cam kết Net Zero vào năm 2050, kế toán xanh không còn là sự lựa chọn tự nguyện mà đã trở thành xu hướng tất yếu của các doanh nghiệp tại Việt Nam. Việc chuyển đổi từ hệ thống kế toán truyền thống sang kế toán xanh không chỉ giúp khắc phục những hạn chế trong việc ghi nhận chi phí và nghĩa vụ môi trường mà còn góp phần nâng cao tính minh bạch và hiệu quả quản trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, quá trình triển khai tại Việt Nam vẫn đang đối mặt với nhiều rào cản về khung pháp lý. Do đó, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước và doanh nghiệp trong việc hoàn thiện hành lang pháp lý, xây dựng hệ thống chỉ tiêu ESG và nâng cao nhận thức về kế toán xanh. Nhìn về dài hạn, kế toán xanh chính là “giấy thông hành” giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh và khẳng định vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu của kỷ nguyên kinh tế bền vững. Tài liệu tham khảo 1. Evans, A. C. (2022). Green Accounting and Financial Performance of Quoted Manufacturing Companies in Nigeria. Journal of Accounting and Financial Management, 8(6), 58-75; 2. Sadiku, M. N. (2021). Green accounting: A primer. International journal of scientific advances, 2(1), 60-62; 3. Sudhamathi, s. &. (2014). Green Accounting. Journal of International Academic Research for Multidisciplinary, 2(10), 227 - 235; 4. Tuổi Trẻ. (2024, November 3). Khám phá nhà máy xanh TH True Milk: Từ đồng cỏ xanh đến ly sữa sạch. Được truy lục từ https://tuoitre.vn/kham-pha-nha-may-xanh-th-true-milk-tu-dong-coxanh-den-ly-sua-sach-20241103083450401.htm; 5. Trần, Q. A. (2024). Vận dụng kế toán xanh trong xu thế phát triển bền vững. Kỷ yếu hội thảo khoa học kế toán xanh trong xu thế phát triển bền vững, Nhà xuất bản Tài chính, 4-8; 6. Vinamilk. (2024). Vinamilk công bố báo cáo phát triển bền vững, chọn chủ đề Net Zero 2050. Được truy lục từ https://www.vinamilk.com.vn/events-news/vinamilk-cong-bo-bao-cao-phattrien-ben-vung-chon-chu-de-net-zero-2050; 7. VnExpress. (2021, March 18). Vinamilk đầu tư hệ thống năng lượng mặt trời cho 12 trang trại bò sữa. Được truy lục từ VnExpress: https://vnexpress.net/vinamilk-dau-tu-he-thong-nang-luongmat-troi-cho-12-trang-trai-bo-sua-4250303.html; 8. Yakhou, M. &. (2004). Environmental accounting: an essential component of business strategy. Business Strategy and the Environment, 13(2), 65-77; 9. Yordanova - Dinova, P. (2021). Green accounting - management instrument of the enterprise's sustainability development knowledge. International Journal, 49(1), 127-131. Được truy lục từ International Journal: https://ojs.ikm.mk/index.php/kij/article/view/4627. Ngày nhận bài: 24/02/2026 Ngày biên tập: 02/3/2026 Ngày duyệt đăng: 11/4/2026 Tác giả: Nguyễn Như Quỳnh Nguyễn Thị Dậu Lê Thị Huệ Thư Học viện Ngân hàng Email: 26a4021762@hvnh.edu.vn

Định vị kế toán như một lĩnh vực STEM và tác động đến chất lượng nguồn nhân lực kế toán trong kỷ nguyên chuyển đổi số

Chuyển đổi số đang làm thay đổi căn bản nghề nghiệp kế toán từ vai trò ghi chép, tuân thủ sang vai trò phân tích, tư vấn và kiến tạo giá trị dựa trên dữ liệu và công nghệ. Trong bối cảnh đó, Hiệp hội Kế toán Công chứng Hoa Kỳ (AICPA) đã ủng hộ Accounting STEM Pursuit Act, một sáng kiến lập pháp nhằm công nhận kế toán như một lộ trình nghề nghiệp thuộc khối Khoa học - Công nghệ - Kỹ thuật - Toán học (STEM) và mở rộng khả năng sử dụng nguồn lực tài trợ giáo dục phổ thông để tăng tiếp cận sớm với giáo dục kế toán. Tại Việt Nam, yêu cầu chuyển đổi số và hiện đại hóa lĩnh vực kế toán - kiểm toán đã được định hướng trong Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 và Chiến lược kế toán - kiểm toán đến năm 2030; đồng thời lộ trình áp dụng IFRS/VFRS tạo thêm áp lực nâng cấp năng lực nghề nghiệp. Bài viết này sử dụng cách tiếp cận phân tích nội dung và phân tích tài liệu để (i) làm rõ logic chính sách và lập luận nghề nghiệp đằng sau việc định vị kế toán như STEM, (ii) đối sánh với bối cảnh thể chế Việt Nam và (iii) đề xuất hàm ý chính sách nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kế toán trong nền kinh tế số. Kết quả phân tích cho thấy định vị STEM có thể được hiểu như một cơ chế điều phối kỳ vọng xã hội, phân bổ nguồn lực và thiết kế chương trình đào tạo theo hướng dữ liệu - công nghệ; tuy nhiên, giá trị của nó phụ thuộc vào mức độ chuyển hóa thành thay đổi thực chất về chuẩn đầu ra, học liệu, phương pháp đánh giá năng lực và hợp tác trường - nghề nghiệp - doanh nghiệp. Bài viết gợi ý chương trình nghiên cứu tiếp theo, trong đó các giả thuyết và thiết kế định lượng chỉ được xem là hướng mở rộng sau khi đã làm rõ khung khái niệm và các điều kiện thực thi trong bối cảnh Việt Nam. Từ khóa: Kế toán số; STEM; giáo dục kế toán; chuyển đổi số; chất lượng nguồn nhân lực. Positioning accounting as a STEM field and its impact on accounting human resources in the digital transformation Era Digital transformation is fundamentally shifting the accounting profession from recording and compliance to data-driven analysis, advisory and value creation. In this context, the American Institute of Certified Public Accountants (AICPA) has supported a legislative initiative to recognize accounting as a career path within the Science, Technology, Engineering and Mathematics (STEM) fields and to expand the use of public education funding to increase early access to accounting education. In Vietnam, the need for digital transformation and modernization of the accounting and auditing sector has been outlined into the National Digital Transformation Program to 2025, with a vision to 2030 and the Accounting and Auditing Strategy to 2030. At the same time, the IFRS/VFRS adoption roadmap creates additional pressure to upgrade professional skills. This paper employs document analysis to: (i) clarify the policy logic of STEM positioning, (ii) compare it with the Vietnamese institutional context and (iii) propose policy implications for enhancing accounting human resources. The analysis results reveal that STEM positioning serves as a mechanism to coordinate social expectations and resource allocation and designing data - and technology - oriented training programs; however, its value depends on the extent to which it translates into substantive changes in learning outcomes, learning materials, competency assessment methods and collaboration between schools, professions, and businesses. The article suggests further research, in which quantitative hypotheses and designs should only be considered as extensions after clarifying the conceptual framework and implementation conditions in the Vietnamese context. Keywords: Digital accounting; STEM; accounting education; digital transformation; human resource quality JEL classification: M41, O33, I25, J24 https://doi.org/10.65771/ati-jas.04202601 1. Đặt vấn đề Chuyển đổi số đang tái cấu trúc cách thức tạo lập, lưu chuyển và kiểm soát thông tin tài chính trong cả doanh nghiệp và khu vực công. Khi dữ liệu giao dịch được số hóa, chứng từ điện tử trở thành chuẩn vận hành, các quy trình kế toán - thuế được liên thông trên nền tảng số và các hệ thống quản trị như ERP (Hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp - Enterprise Resource Planning), ngân hàng điện tử hay nền tảng phân tích dữ liệu ngày càng phổ biến, giá trị gia tăng của nghề kế toán dịch chuyển mạnh từ thao tác nhập liệu sang thiết kế kiểm soát, bảo đảm chất lượng dữ liệu, phân tích và truyền đạt thông tin phục vụ quyết định quản trị. Xu hướng này khiến năng lực công nghệ, năng lực dữ liệu và tư duy phản biện trở thành yêu cầu nền tảng của người làm kế toán, đồng thời đặt lại câu hỏi về cách thức đào tạo và định vị nghề nghiệp trong xã hội. Ở Việt Nam, định hướng chuyển đổi số đã được xác lập ở tầm quốc gia trong Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Thủ tướng Chính phủ, 2020). Trong lĩnh vực kế toán - kiểm toán, Chiến lược kế toán - kiểm toán đến năm 2030 đặt mục tiêu hiện đại hóa khung khổ pháp lý và tổ chức thực thi theo hướng tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý, giám sát (Thủ tướng Chính phủ, 2022). Cùng với đó, việc triển khai hóa đơn, chứng từ điện tử theo Nghị định 123/2020/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/7/2022 tạo ra một bước ngoặt vận hành, khiến năng lực tác nghiệp trên môi trường số trở thành yêu cầu phổ biến của nhiều doanh nghiệp (Chính phủ, 2020). Song song với chuyển đổi số, Việt Nam thúc đẩy hội nhập chuẩn mực báo cáo tài chính thông qua Đề án áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính tại Việt Nam theo Quyết định 345/QĐ-BTC ngày 16/3/2020, nhấn mạnh lộ trình áp dụng IFRS và xây dựng VFRS, cũng như vai trò của các cơ sở đào tạo và hội nghề nghiệp trong nghiên cứu, đào tạo và hỗ trợ triển khai (Bộ Tài chính, 2020). Kết hợp lại, các dòng áp lực thể chế này làm nổi bật một yêu cầu trung tâm rằng chất lượng nguồn nhân lực kế toán phải được nhìn nhận như khả năng sẵn sàng đáp ứng đồng thời yêu cầu chuẩn mực, tuân thủ và yêu cầu công nghệ, dữ liệu trong môi trường số. Trong khi đó, ở một số quốc gia phát triển, nghề kế toán đang được tái định vị như một nghề nghiệp công nghệ hóa. Tại Hoa Kỳ, AICPA ủng hộ dự luật Accounting STEM Pursuit Act (S.3784) nhằm công nhận kế toán như một lộ trình nghề nghiệp thuộc khối Khoa học - Công nghệ - Kỹ thuật - Toán học (STEM) và mở rộng khả năng sử dụng nguồn lực tài trợ giáo dục phổ thông để tăng tiếp cận sớm với giáo dục kế toán (AICPA, 2026; Strickland, 2026). AICPA cũng công bố kết quả khảo sát do The Harris Poll thực hiện cho thấy tỷ lệ ủng hộ cao đối với việc coi các khóa học kế toán là STEM, qua đó gợi ý rằng nhãn STEM có thể tác động đến lựa chọn ngành học và mở rộng nguồn cung nhân lực cho nghề kế toán (AICPA, 2025; Strickland, 2025). Truyền thông chuyên ngành quốc tế ghi nhận đây là một bước đi mang tính thể chế nhằm gắn kế toán với các kỹ năng dữ liệu và công nghệ trong hệ sinh thái giáo dục (The Accountant, 2026). Từ các diễn biến này, câu hỏi đặt ra cho Việt Nam không chỉ là có nên gắn kế toán với STEM hay không, mà quan trọng hơn là gắn như thế nào để tạo ra chuyển biến thực chất về chất lượng nguồn nhân lực. Vì vậy, chọn cách tiếp cận phân tích nội dung và phân tích tài liệu, bài viết này tập trung vào việc đọc, phân tích chính sách, cấu trúc ngôn ngữ nghề nghiệp và các điều kiện thực thi; qua đó đề xuất hàm ý cho quản lý nhà nước, cơ sở đào tạo và tổ chức nghề nghiệp. Các đề xuất về kiểm định định lượng, giả thuyết và mô hình thống kê chỉ được trình bày như hướng nghiên cứu mở rộng ở phần kết luận. 2. Phương pháp nghiên cứu Bài viết sử dụng phương pháp phân tích tài liệu và phân tích nội dung theo hướng định tính, dựa trên các văn bản chính sách và tài liệu nghề nghiệp ở hai cấp độ. Ở cấp độ quốc tế, nguồn tư liệu trọng tâm gồm thông cáo và bài viết của AICPA về Accounting STEM Pursuit Act, các bài phân tích của Journal of Accountancy và tin chuyên ngành của The Accountant về việc AICPA ủng hộ dự luật (AICPA, 2025, 2026; Strickland, 2025, 2026; The Accountant, 2026). Ở cấp độ Việt Nam, tư liệu gồm Chương trình Chuyển đổi số quốc gia (Thủ tướng Chính phủ, 2020), Chiến lược kế toán - kiểm toán đến năm 2030 (Thủ tướng Chính phủ, 2022), Đề án áp dụng IFRS/VFRS (Bộ Tài chính, 2020) và quy định về hóa đơn, chứng từ điện tử (Chính phủ, 2020). Ngoài ra, bài viết tham chiếu các cập nhật về Chuẩn mực Giáo dục Quốc tế liên quan năng lực công nghệ thông tin - truyền thông và hoài nghi nghề nghiệp như một chuẩn quy chiếu về năng lực (IAESB, 2019). Quy trình phân tích nội dung được triển khai theo hướng mã hóa chủ đề. Trước hết, bài viết xác định các nội dung chính trong lập luận của AICPA về bản chất công nghệ hóa của nghề kế toán và mục tiêu chính sách của dự luật. Tiếp đó, bài viết đối sánh các tuyên bố này với bối cảnh thể chế Việt Nam nhằm nhận diện sự tương thích, các khoảng trống và điều kiện cần để chuyển hóa từ “nhãn nghề nghiệp” sang “năng lực thực hành”. Cuối cùng, bài viết tổng hợp thành các chủ đề hàm ý chính sách theo ba tầng: tầng nhà nước (khung pháp lý, cơ chế khuyến khích), tầng cơ sở đào tạo (chuẩn đầu ra, thiết kế chương trình, đánh giá) và tầng nghề nghiệp - doanh nghiệp (chuẩn năng lực, chứng chỉ, hệ sinh thái thực hành). 3. Kết quả nghiên cứu Phân tích nội dung cho thấy, trong lập luận của AICPA, “STEM” không được sử dụng như một phân loại học thuật thuần túy, mà như một công cụ thể chế để tái định nghĩa nghề nghiệp và mở rộng cơ chế nguồn lực cho giáo dục kế toán. Nói cách khác, “định vị STEM” vừa mang tính mô tả (mô tả nghề kế toán hiện đại dựa trên dữ liệu và công nghệ) vừa mang tính thiết kế chính sách (tạo căn cứ để huy động, phân bổ hoặc hợp thức hóa các nguồn lực phát triển kỹ năng cho người học từ sớm) (AICPA, 2026; Strickland, 2026). 3.1. STEM như ngôn ngữ tái định nghĩa nghề kế toán trong kỷ nguyên dữ liệu Chủ đề thứ nhất là STEM được vận dụng như một ngôn ngữ tái định nghĩa nghề kế toán theo hướng “dữ liệu - công nghệ - tư duy phân tích”. Các bài viết liên quan dự luật nhấn mạnh rằng kế toán ngày nay vận hành trên nền tảng hệ thống số và đòi hỏi năng lực phân tích, xử lý dữ liệu, cùng tư duy phản biện trong ra quyết định (AICPA, 2026; Strickland, 2026). Khi STEM được hiểu theo nghĩa rộng như vậy, nó giúp chuyển trọng tâm truyền thông nghề nghiệp từ hình ảnh ghi chép sang hình ảnh kiến tạo giá trị, qua đó điều chỉnh kỳ vọng xã hội về nghề kế toán. So sánh với Việt Nam cho thấy, nhu cầu tái định nghĩa này có cơ sở thực tiễn mạnh. Việc vận hành hóa đơn, chứng từ điện tử theo Nghị định 123/2020/ NĐ-CP khiến nhiều nghiệp vụ kế toán chuyển sang môi trường số, kéo theo yêu cầu hiểu quy trình hệ thống, kiểm soát dữ liệu đầu vào và đối chiếu dữ liệu liên thông (Chính phủ, 2020). Đồng thời, lộ trình IFRS/VFRS làm tăng yêu cầu về xét đoán và chất lượng thông tin tài chính, vốn không thể tách rời năng lực xử lý dữ liệu và hiểu hệ thống tạo lập dữ liệu (Bộ Tài chính, 2020). Vì vậy, việc định vị kế toán theo hướng dữ liệu - công nghệ có thể coi là phù hợp với biến đổi của môi trường nghề nghiệp trong nước, thay vì chỉ là nhập khẩu một nhãn từ nước ngoài. 3.2. STEM như cơ chế nguồn lực và tiếp cận sớm trong hệ sinh thái giáo dục Chủ đề thứ hai là STEM được sử dụng như một cơ chế tiếp cận nguồn lực và tăng tiếp cận sớm với giáo dục kế toán. Dự luật mà AICPA ủng hộ hướng đến việc cho phép các nguồn tài trợ giáo dục phổ thông được sử dụng cho chương trình kế toán, qua đó tạo điều kiện để người học tiếp xúc sớm hơn với tư duy dữ liệu và các kỹ năng nền tảng liên quan (AICPA, 2026; Strickland, 2026). Điểm này cho thấy trọng tâm của lập luận không chỉ nằm ở xếp loại ngành mà nằm ở thiết kế cơ chế giúp tái cấu trúc chuỗi đào tạo nhân lực từ bậc phổ thông đến đại học. Trong bối cảnh Việt Nam, Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đặt mục tiêu phát triển kỹ năng số rộng khắp và thúc đẩy chuyển đổi số trong nhiều lĩnh vực (Thủ tướng Chính phủ, 2020). Từ góc nhìn phân tích chính sách, điều này mở ra khả năng lồng ghép nội dung kỹ năng dữ liệu tài chính cơ bản trong các hoạt động hướng nghiệp, giáo dục tài chính, hoặc các mô-đun kỹ năng số ở phổ thông. Dù Việt Nam không có cơ chế tài trợ giáo dục K-12 giống Hoa Kỳ, logic tiếp cận sớm vẫn có thể triển khai bằng các mô hình hợp tác giữa nhà trường, doanh nghiệp và tổ chức nghề nghiệp, ví dụ thiết kế học liệu mở, cuộc thi dữ liệu tài chính, hoặc chương trình trải nghiệm nghề kế toán số cho học sinh. 3.3. STEM như tín hiệu thị trường và cuộc cạnh tranh thu hút nhân lực Chủ đề thứ ba là STEM hoạt động như một tín hiệu thị trường, tác động đến lựa chọn ngành học và khả năng thu hút nhân lực. AICPA sử dụng kết quả khảo sát công chúng để củng cố lập luận rằng việc gắn kế toán với STEM có thể làm tăng khuynh hướng lựa chọn học kế toán, từ đó góp phần mở rộng nguồn cung nhân lực cho ngành (AICPA, 2025; Strickland, 2025). Dù dữ liệu khảo sát thuộc bối cảnh Hoa Kỳ, thông điệp chính sách có thể khái quát: trong môi trường cạnh tranh nhân lực với các ngành công nghệ, nghề kế toán cần một ngôn ngữ mới để mô tả giá trị nghề nghiệp và lộ trình phát triển. Ở Việt Nam, cạnh tranh nhân lực giữa các nhóm ngành kinh tế và nhóm ngành công nghệ đang gia tăng, trong khi nhu cầu kế toán - kiểm toán lại đòi hỏi ngày càng nhiều kỹ năng số. Vì vậy, định vị STEM có thể đóng vai trò như một chiến lược truyền thông nghề nghiệp, song chỉ hiệu quả nếu gắn với các cam kết thực chất về chuẩn đầu ra và cơ hội nghề nghiệp. Nếu STEM chỉ dừng ở khẩu hiệu, rủi ro kỳ vọng sai sẽ xuất hiện: người học kỳ vọng một nghề nghiệp công nghệ cao nhưng lại gặp chương trình đào tạo nặng ghi nhớ chế độ, ít thực hành dữ liệu và hệ thống. Điều này có thể làm giảm niềm tin vào thương hiệu chương trình và làm suy yếu tín hiệu mà STEM dự định tạo ra. 3.4. Điều kiện chuyển hóa Chủ đề thứ tư là điều kiện chuyển hóa. Phân tích đối sánh cho thấy định vị STEM chỉ có ý nghĩa đối với chất lượng nguồn nhân lực nếu được hiện thực hóa bằng bốn điều kiện then chốt: chuẩn năng lực, thiết kế chương trình, phương pháp đánh giá và hệ sinh thái thực hành. Ở cấp chuẩn năng lực, các sửa đổi Chuẩn mực Giáo dục Quốc tế nhấn mạnh năng lực công nghệ thông tin - truyền thông và hoài nghi nghề nghiệp như kết quả học tập quan trọng trong đào tạo kế toán (IAESB, 2019). Điều này gợi ý một chuẩn tham chiếu phù hợp để Việt Nam xây dựng hoặc cập nhật khung năng lực kế toán số, giúp tránh tình trạng STEM hóa bằng cách thêm các môn học rời rạc. Ở cấp thiết kế chương trình, Chiến lược kế toán - kiểm toán đến năm 2030 đã nhấn mạnh chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý, giám sát (Thủ tướng Chính phủ, 2022). Nếu chuyển hóa vào giáo dục, điều này đòi hỏi chương trình đào tạo không chỉ dạy phần mềm, mà dạy nguyên lý hệ thống thông tin kế toán, quản trị dữ liệu, thiết kế kiểm soát, phân tích dữ liệu phục vụ quyết định và chuẩn mực đạo đức trong môi trường số. Ở cấp phương pháp đánh giá, thay vì kiểm tra ghi nhớ, đánh giá cần hướng tới năng lực giải quyết vấn đề trên dữ liệu và tình huống số hóa, bao gồm mô phỏng quy trình hóa đơn - chứng từ điện tử và đối chiếu dữ liệu liên thông (Chính phủ, 2020). Ở cấp hệ sinh thái thực hành, vai trò của doanh nghiệp và tổ chức nghề nghiệp trở nên quyết định, bởi dữ liệu, tình huống và công cụ thực tế là nguyên liệu để đào tạo theo hướng STEM. 4. Thảo luận và hàm ý chính sách cho Việt Nam Từ các chủ đề trên, có thể xem định vị kế toán như STEM là một đòn bẩy thể chế nhằm đưa kỹ năng dữ liệu - công nghệ trở thành trung tâm của chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời tái cấu trúc cách xã hội nhìn nhận nghề kế toán. Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam, cần phân biệt rõ giữa định vị và cải cách. Định vị là bước tạo khung nhận thức và huy động nguồn lực, còn cải cách là bước thay đổi thực chất chương trình, chuẩn năng lực và cơ chế liên kết. 4.1. Hàm ý cho quản lý nhà nước Trước hết, quản lý nhà nước có thể xem xét thiết kế chương trình hành động về phát triển nhân lực kế toán số như một cấu phần của thực thi Chiến lược kế toán - kiểm toán đến năm 2030, thay vì coi đào tạo là hoạt động tách rời. Từ góc nhìn chính sách công, chương trình hành động này cần xác định rõ chuẩn năng lực kế toán số ở các bậc đào tạo, đồng thời đề xuất cơ chế khuyến khích các trường cập nhật học liệu, hạ tầng dữ liệu và phòng thực hành hệ thống. Việc tham chiếu các chuẩn quốc tế về năng lực công nghệ thông tin - truyền thông và hoài nghi nghề nghiệp là cần thiết để bảo đảm tính tương thích và tính cập nhật. Thứ hai, cần kết nối định vị STEM với hai ưu tiên thể chế đang triển khai, cụ thể là: số hóa chứng từ và hội nhập chuẩn mực. Hóa đơn, chứng từ điện tử theo Nghị định 123/2020/NĐ-CP đã làm thay đổi cấu trúc quy trình kế toán ở cấp tổ chức, còn lộ trình IFRS/VFRS làm gia tăng yêu cầu xét đoán và chất lượng thông tin tài chính. Vì vậy, chính sách nhân lực kế toán số nên được thiết kế như mắt xích hỗ trợ hai ưu tiên này, ví dụ bằng các tiêu chí kiểm định chất lượng chương trình gắn với năng lực hệ thống và năng lực xét đoán. 4.2. Hàm ý cho cơ sở đào tạo Đối với cơ sở đào tạo, trọng tâm không phải là thêm nhiều học phần công nghệ, mà là tổ chức lại trải nghiệm học tập theo hướng dữ liệu và hệ thống. Điều này có nghĩa các học phần kế toán tài chính, kế toán quản trị, kiểm toán, thuế và kiểm soát nội bộ cần tích hợp dữ liệu và tình huống số hóa vào bài tập, dự án và đánh giá. Việc dạy nguyên lý để vận dụng, thay vì dạy ghi nhớ, trở nên đặc biệt quan trọng khi công cụ và phần mềm thay đổi nhanh. Một cách tiếp cận phù hợp là phát triển các môđun phòng thực hành dữ liệu trong đó người học làm việc với bộ dữ liệu giao dịch lớn (được làm mờ, hoặc ẩn danh), thực hiện làm sạch dữ liệu, đối chiếu dữ liệu, phát hiện bất thường và trình bày ý nghĩa kế toán của kết quả phân tích. Các bài tập mô phỏng quy trình hóa đơn, chứng từ điện tử cũng giúp người học hiểu logic hệ thống và kiểm soát, qua đó tăng năng lực tuân thủ và giảm rủi ro vận hành. Ở cấp chương trình, sự liên kết với lộ trình IFRS/VFRS đòi hỏi tăng cường nội dung xét đoán nghề nghiệp, đồng thời gắn với cách dữ liệu được tạo lập và kiểm soát trong hệ thống số. 4.3. Hàm ý cho tổ chức nghề nghiệp và doanh nghiệp Tổ chức nghề nghiệp và doanh nghiệp giữ vai trò “bảo trợ năng lực” trong giai đoạn chuyển đổi số. Về mặt chuẩn hóa, tổ chức nghề nghiệp có thể phát triển bộ học liệu và chứng chỉ theo hướng kế toán số, phân tích dữ liệu và kiểm soát hệ thống, đồng thời cập nhật yêu cầu đạo đức và hoài nghi nghề nghiệp trong môi trường số theo chuẩn quốc tế. Về mặt truyền thông, kinh nghiệm AICPA cho thấy việc tái định vị nghề nghiệp cần đi kèm lập luận nghề nghiệp và bằng chứng xã hội để tạo đồng thuận. Ở Việt Nam, truyền thông nghề nghiệp theo hướng kế toán là năng lực dữ liệu có thể hỗ trợ thu hút người học, nhưng phải được bảo chứng bằng năng lực thực hành và cơ hội nghề nghiệp cụ thể. Đối với doanh nghiệp, định vị STEM gợi ý rằng kế toán không chỉ là chức năng tuân thủ, mà là một mắt xích của quản trị dữ liệu và quản trị rủi ro. Khi doanh nghiệp đầu tư vào hệ thống và chuẩn hóa dữ liệu, vai trò của kế toán chuyển mạnh sang thiết kế kiểm soát, phân tích và tư vấn. Do đó, doanh nghiệp nên thiết kế lộ trình phát triển nhân sự kế toán theo hướng kết hợp nghiệp vụ và công nghệ, đồng thời hợp tác với cơ sở đào tạo để cung cấp tình huống, dữ liệu và nền tảng thực hành. Sự hợp tác này cũng giúp giảm chênh lệch giữa đào tạo và yêu cầu công việc thực tế. Kết luận Bài viết đã phân tích nội dung các tài liệu nghề nghiệp và chính sách để làm rõ logic của việc định vị kế toán như một lĩnh vực Khoa học - Công nghệ - Kỹ thuật - Toán học (STEM) và so sánh với bối cảnh Việt Nam. Kết quả cho thấy, trong lập luận của quốc tế, định vị STEM vừa là một ngôn ngữ tái định nghĩa nghề kế toán trong kỷ nguyên dữ liệu, vừa là một cơ chế thể chế nhằm mở rộng tiếp cận và nguồn lực cho giáo dục kế toán. Trong bối cảnh Việt Nam, nơi chuyển đổi số quốc gia và chiến lược ngành đã đặt yêu cầu hiện đại hóa kế toán - kiểm toán, lộ trình IFRS/VFRS gia tăng yêu cầu xét đoán và minh bạch, và hóa đơn - chứng từ điện tử tạo chuẩn vận hành số, định vị STEM có thể là một đòn bẩy hữu ích nếu được chuyển hóa thành cải cách thực chất về chuẩn năng lực, chương trình, đánh giá và hệ sinh thái thực hành. Hạn chế của bài viết là mới dừng ở phân tích tài liệu và lập luận, chưa có dữ liệu thực nghiệm để đánh giá mức độ tác động của định vị STEM đến lựa chọn ngành học, chất lượng đầu ra hay năng suất lao động. Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng theo hướng kiểm định thực nghiệm sau khi khung khái niệm và điều kiện thực thi đã được làm rõ. Về mặt định lượng, có thể phát triển mô hình kiểm định trong đó định vị STEM (nhận thức của người học và cơ sở đào tạo) tác động đến chất lượng nguồn nhân lực thông qua các cơ chế trung gian như mức độ tích hợp công nghệ trong chương trình, năng lực số và mức độ hấp dẫn nghề nghiệp; đồng thời xem xét vai trò điều tiết của hỗ trợ thể chế và hợp tác doanh nghiệp - nhà trường. Các giả thuyết cơ bản có thể được rút gọn thành: (i) định vị STEM thúc đẩy tích hợp công nghệ trong chương trình; (ii) tích hợp công nghệ nâng năng lực số; (iii) năng lực số nâng chất lượng nguồn nhân lực; và (iv) định vị STEM gia tăng hấp dẫn nghề nghiệp, từ đó cải thiện động cơ học tập và ý định theo nghề. Việc kiểm định các giả thuyết này bằng dữ liệu đa nguồn (người học - nhà tuyển dụng - tổ chức nghề nghiệp) sẽ giúp lượng hóa hiệu quả của các can thiệp chính sách và tối ưu thiết kế chương trình đào tạo trong kỷ nguyên số. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. AICPA. (2025). AICPA survey indicates strong support for accounting to be designated as a STEM program. AICPA & CIMA; 2. AICPA. (2026). AICPA applauds introduction of Accounting STEM Pursuit Act in Senate. AICPA & CIMA; 3. Bộ Tài chính. (2020). Quyết định số 345/QĐ-BTC phê duyệt Đề án áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính tại Việt Nam; 4. Chính phủ. (2020). Nghị định số 123/2020/NĐ-CP quy định về hóa đơn, chứng từ; 5. IAESB. (2019). Revisions to IES 2, 3, 4 and 8. International Federation of Accountants; 6. Nguyễn, L. (2021). Chuyển đổi số và nâng cao chất lượng đào tạo kế toán, kiểm toán; 7. Strickland, B. (2025). STEM designation for accounting has strong support. Journal of Accountancy; 8. Strickland, B. (2026). AICPA supports Accounting STEM Pursuit Act legislation. Journal of Accountancy; 9. The Accountant. (2026). AICPA backs US bill to classify accounting as STEM discipline. The Accountant; 10. Thủ tướng Chính phủ. (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”; 11. Thủ tướng Chính phủ. (2022). Quyết định số 633/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược kế toán - kiểm toán đến năm 2030. Ngày nhận bài: 26/02/2026 Ngày biên tập: 03/3/2026 Ngày duyệt đăng: 10/4/2026 Tác giả: Trần Khánh Lâm Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) Nguyễn Phong Nguyên Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Email: trankhanhlam@vacpa.org.vn (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, số tháng 4/2026)

Khung kế toán cho tài sản mã hóa tại Việt Nam trong giai đoạn thí điểm: trao đổi từ Nghị quyết 05/2025/NQ-CP và Thông tư 15/2026/TT-BTC

Việc Chính phủ ban hành Nghị quyết 05/2025/NQ-CP về triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam và Bộ Tài chính ban hành Thông tư 15/2026/TT-BTC hướng dẫn nguyên tắc kế toán đối với các tổ chức tham gia thị trường này đã mở ra một khuôn khổ pháp lý và kế toán ban đầu cho một nhóm tài sản mới trong nền kinh tế số. Tuy nhiên, xét từ góc độ kế toán, điểm đáng chú ý không phải là sự xuất hiện của một chuẩn mực kế toán độc lập cho tài sản mã hóa, mà là việc Việt Nam đang lựa chọn một cách tiếp cận chuyển tiếp: tổ chức thị trường bằng một khung pháp lý chuyên biệt, nhưng xử lý kế toán chủ yếu trên cơ sở Luật Kế toán, các chuẩn mực kế toán hiện hành và chế độ kế toán doanh nghiệp, kết hợp với hướng dẫn theo bản chất kinh tế của giao dịch. Bài viết phân tích cấu trúc của cách tiếp cận này, đối chiếu với quyết định của Ủy ban Giải thích Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế năm 2019 về khoản nắm giữ tiền mã hóa, IAS 38, ASU 2023-08 của Hoa Kỳ và một số tài liệu quản lý thị trường của OECD, IOSCO, ESMA. Trên cơ sở đó, bài viết cho rằng khung kế toán hiện hành của Việt Nam có ưu điểm về tính khả thi và sự thận trọng trong giai đoạn thí điểm, nhưng mới dừng ở mức định hướng nguyên tắc, chưa hình thành đầy đủ nền tảng khái niệm và kỹ thuật để xử lý thống nhất một loại tài sản có biến động giá lớn, rủi ro công nghệ cao và quan hệ pháp lý tương đối phức tạp như tài sản mã hóa. Từ khóa: Tài sản mã hóa; tiền mã hóa; kế toán tài sản số; Nghị quyết 05/2025/NQ-CP; Thông tư 15/2026/TT-BTC. Accounting framework for crypto assets in Vietnam during the pilot phase: Discussions on Resolution 05/2025/NQ-CP and Circular 15/2026/TT-BTC Resolution 05/2025/NQ-CP and Circular 15/2026/TT-BTC have established an initial legal and accounting framework for a new type of asset in Vietnam's digital economy. However, from an accounting perspective, the noteworthy point is not the emergence of an independent accounting standard for crypto assets, but rather Vietnam's choice of a transitional approach: organizing the market within a specialized legal framework, but primarily handling accounting based on the Law on Accounting and existing accounting standards and corporate accounting regulations, guided by the economic substance of transactions. This paper analyzes this structure in reference to the 2019 International Financial Reporting Standards Interpretations Committee on cryptocurrency holdings, IAS 38, US ASU 2023-08 and OECD/IOSCO guidelines. The fndings suggest that while the current framework is feasible and prudent for the pilot phase, it remains at the principle-based level and lacks a comprehensive conceptual and technical foundation to handle a type of asset with the high volatility and technological risks and relatively complex legal relationships, such as cryptocurrencies. Keywords: Crypto assets; cryptocurrency; digital asset accounting; Resolution 05/2025/NQ-CP; Circular 15/2026/TT-BTC. JEL classifcation: M41, M48, E42, G23 https://doi.org/10.65771/ati-jas.04202602 1. Đặt vấn đề Sự phát triển của kinh tế số đang đặt ra những thách thức mới cho lý luận và thực hành kế toán. Trong số đó, tài sản mã hóa là một trường hợp đặc biệt vì đối tượng này không dễ được xếp gọn vào các phạm trù quen thuộc như tiền, công cụ tài chính, hàng tồn kho hay tài sản vô hình. Vấn đề không chỉ nằm ở việc ghi nhận một khoản mục mới trên sổ kế toán, mà còn nằm ở chỗ phải xác định cho được bản chất kinh tế của quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh từ giao dịch gắn với loại tài sản này. Chính vì vậy, kế toán đối với tài sản mã hóa đã trở thành một chủ đề thu hút nhiều trao đổi học thuật và thực tiễn trong những năm gần đây. Tại Việt Nam, Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP của Chính phủ về triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa và Thông tư số 15/2026/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn nguyên tắc kế toán đối với các tổ chức tham gia thị trường này là hai văn bản đánh dấu bước chuyển đáng chú ý về mặt thể chế. Lần đầu tiên, tài sản mã hóa được đặt trong một khuôn khổ pháp lý tương đối rõ về hoạt động phát hành, giao dịch, lưu ký và cung cấp dịch vụ; đồng thời, việc hạch toán kế toán đối với các chủ thể tham gia thị trường cũng được hướng dẫn ở mức nguyên tắc. Dù vậy, chính cấu trúc của các văn bản này cho thấy Việt Nam chưa lựa chọn cách xây dựng ngay một chuẩn mực kế toán riêng cho tài sản mã hóa, mà trước mắt xử lý trên nền hệ thống kế toán doanh nghiệp hiện hành. Bài viết này tiếp cận vấn đề theo hướng trao đổi học thuật. Mục tiêu của bài viết nhằm mô tả khái quát nội dung văn bản quy phạm, làm rõ cấu trúc của khung kế toán hiện hành, đánh giá những điểm hợp lý trong bối cảnh thí điểm, đồng thời nhận diện các vấn đề cần làm rõ khi đặt khung kế toán của Việt Nam bên cạnh kinh nghiệm quốc tế. Luận điểm trung tâm của bài viết là: khung kế toán hiện hành của Việt Nam đối với tài sản mã hóa vẫn mang tính chuyển tiếp. Cách tiếp cận này có điểm mạnh là tương đối thận trọng, dễ áp dụng và phù hợp với giai đoạn thí điểm. Tuy nhiên, các quy định hiện nay chủ yếu mới dừng ở mức định hướng chung, chưa hình thành đầy đủ cơ sở lý luận và hướng dẫn kỹ thuật để xử lý thống nhất đối với một loại tài sản có biến động giá mạnh, tiềm ẩn nhiều rủi ro về công nghệ và có bản chất pháp lý khá phức tạp như tài sản mã hóa. 2. Bối cảnh chuẩn tắc quốc tế và xu hướng quản lý thị trường Một trong những mốc quan trọng của trao đổi quốc tế về kế toán tiền mã hóa là quyết định của Ủy ban Giải thích Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRIC) năm 2019 về khoản nắm giữ tiền mã hóa. Trong quyết định này, Ủy ban cho rằng khoản nắm giữ tiền mã hóa không được xem là tiền, vì chưa có đồng tiền mã hóa nào được sử dụng rộng rãi đến mức vừa làm phương tiện trao đổi, vừa làm đơn vị tiền tệ để đo lường và ghi nhận các giao dịch trong báo cáo tài chính. Đồng thời, khoản nắm giữ này cũng không được coi là tài sản tài chính, vì người nắm giữ không có quyền theo hợp đồng để nhận tiền hoặc một tài sản tài chính khác từ bên thứ ba (IFRS Foundation, 2019a). Cách xác định đó có ý nghĩa rất quan trọng, bởi loại trừ ngay từ đầu khả năng áp dụng trực tiếp các khuôn khổ kế toán vốn được xây dựng cho tiền và công cụ tài chính truyền thống. Sau bước loại trừ này, IFRIC xác định hướng xử lý kế toán phù hợp hơn là quy chiếu về các chuẩn mực hiện có. Cụ thể, nếu tiền mã hóa được nắm giữ để bán trong quá trình kinh doanh thông thường thì áp dụng IAS 2 về hàng tồn kho; nếu không thuộc trường hợp đó thì áp dụng IAS 38 về tài sản vô hình. Đối với đơn vị hoạt động theo mô hình môi giới kinh doanh hàng hóa, IAS 2 còn cho phép đo lường hàng tồn kho theo giá trị hợp lý trừ chi phí bán (IFRS Foundation, 2019a). Cách xử lý này cho thấy lập trường khá thận trọng của IFRS: chưa thiết kế ngay một chuẩn mực riêng cho tiền mã hóa, mà trước hết mở rộng phạm vi áp dụng của các chuẩn mực sẵn có thông qua giải thích. Tuy nhiên, cách tiếp cận đó cũng bộc lộ những giới hạn nhất định. Theo IAS 38, tài sản vô hình là tài sản phi tiền tệ, có thể xác định được và không có hình thái vật chất; sau ghi nhận ban đầu, tài sản này thường được đo lường theo giá gốc, còn việc đánh giá lại chỉ đặt ra khi có thị trường hoạt động phù hợp (IFRS Foundation, 2024). Trong khi đó, nhiều khoản nắm giữ tiền mã hóa lại gắn chặt với biến động giá thị trường và lợi ích kinh tế của chúng thường được hiện thực hóa thông qua giao dịch trên thị trường. Vì vậy, việc xếp tiền mã hóa vào khuôn khổ tài sản vô hình tuy tạo được điểm tựa về mặt khái niệm, nhưng chưa chắc luôn cung cấp thông tin thích hợp nhất cho người sử dụng báo cáo tài chính. Chính từ hạn chế đó, chuẩn mực kế toán Hoa Kỳ đã lựa chọn hướng đi cụ thể hơn. Theo ASU 2023-08, các tài sản mã hóa thuộc phạm vi chuẩn mực phải được đo lường theo giá trị hợp lý ở mỗi kỳ báo cáo; chênh lệch đánh giá lại được ghi nhận ngay vào lợi nhuận trong kỳ. Chuẩn mực này đồng thời yêu cầu trình bày riêng tài sản mã hóa khỏi các tài sản vô hình khác và bổ sung thuyết minh để làm rõ số lượng nắm giữ, cơ sở xác định giá trị và những hạn chế gắn với tài sản đó (FASB, 2023). Đây không chỉ là một điều chỉnh kỹ thuật, mà còn phản ánh nhận thức rằng tài sản mã hóa có đặc điểm kinh tế và đặc điểm thông tin khác với phần lớn tài sản vô hình truyền thống. Nhìn theo tiến trình phát triển, có thể thấy trao đổi quốc tế đã đi từ giai đoạn xử lý bằng loại suy sang giai đoạn chuyên biệt hóa từng phần. IFRIC năm 2019 đại diện cho cách tiếp cận thận trọng: giữ ổn định hệ thống chuẩn mực hiện có và giải quyết vấn đề bằng diễn giải. Trong khi đó, ASU 2023-08 cho thấy khi quy mô giao dịch tăng lên và thông tin về tài sản mã hóa trở nên trọng yếu hơn đối với nhà đầu tư, cơ quan lập chuẩn có xu hướng đặt ra yêu cầu rõ hơn về đo lường và trình bày, thay vì tiếp tục để đối tượng này nằm chung trong khuôn khổ rộng của tài sản vô hình. Bên cạnh lớp chuẩn mực kế toán, các tài liệu quốc tế về quản lý thị trường cũng rất đáng lưu ý. OECD đã xây dựng Khuôn khổ báo cáo đối với tài sản mã hóa nhằm mở rộng cơ chế trao đổi thông tin tự động sang lĩnh vực này, và trong bản cập nhật năm 2025, tổ chức này cho biết đã có 75 khu vực pháp lý cam kết triển khai khuôn khổ đó (OECD, 2025). Dù được thiết kế chủ yếu cho mục đích thuế, khuôn khổ này cho thấy tài sản mã hóa ngày càng được nhìn nhận như một nhóm giao dịch đòi hỏi khả năng phân loại, thu thập dữ liệu và truy vết thông tin ở mức cao hơn so với nhiều loại tài sản thông thường. Cùng xu hướng đó, Tổ chức quốc tế các ủy ban chứng khoán (IOSCO) trong báo cáo chính sách năm 2023 đã đưa ra 18 khuyến nghị đối với thị trường tài sản mã hóa và tài sản số, đặt trên nguyên tắc “cùng hoạt động, cùng rủi ro thì cần kết quả quản lý tương đương”, với trọng tâm là xung đột lợi ích, thao túng thị trường, lưu ký và bảo vệ tài sản khách hàng, rủi ro vận hành và rủi ro công nghệ (IOSCO, 2023). Ở Liên minh châu Âu, khuôn khổ MiCA thiết lập các quy tắc thống nhất cho thị trường tài sản mã hóa, tập trung vào minh bạch, công bố thông tin, cấp phép và giám sát đối với tổ chức phát hành cũng như nhà cung cấp dịch vụ (ESMA, 2025; European Commission, n.d.). Những tài liệu này cho thấy kế toán tài sản mã hóa không thể tách rời cấu trúc quản lý thị trường, bảo vệ nhà đầu tư và kiểm soát rủi ro công nghệ. Từ đó có thể rút ra ba gợi ý quan trọng cho nghiên cứu kế toán tài sản mã hóa. Thứ nhất, việc xử lý kế toán đối với loại tài sản này không thể chỉ dừng ở kỹ thuật ghi sổ, mà phải đặt trong mối liên hệ với cơ chế giám sát thị trường và quản trị rủi ro. Thứ hai, kinh nghiệm quốc tế cho thấy cách tiếp cận ban đầu thường là loại suy từ các chuẩn mực sẵn có, nhưng xu hướng về sau là từng bước quy định rõ hơn, nhất là về đo lường và công bố thông tin. Thứ ba, yêu cầu về minh bạch dữ liệu, tách biệt tài sản của khách hàng, khả năng truy vết giao dịch và công bố rủi ro đang trở thành nội dung ngày càng quan trọng trong tư duy kế toán đối với tài sản mã hóa. Đây cũng là cơ sở quan trọng để xem xét và đánh giá khung kế toán của Việt Nam trong giai đoạn thí điểm hiện nay. 3. Khung pháp lý và kế toán của Việt Nam trong giai đoạn thí điểm 3.1. Khung pháp lý của Nghị quyết 05/2025/ NQ-CP Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP quy định việc triển khai thí điểm chào bán, phát hành tài sản mã hóa, tổ chức thị trường giao dịch tài sản mã hóa, cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa và quản lý nhà nước đối với thị trường này tại Việt Nam. Văn bản xác định tài sản mã hóa là một loại tài sản số sử dụng công nghệ mã hóa hoặc công nghệ số có chức năng tương tự để xác thực trong quá trình tạo lập, phát hành, lưu trữ và chuyển giao; đồng thời loại trừ chứng khoán, các dạng số của tiền pháp định và các tài sản tài chính khác khỏi phạm vi khái niệm này (Chính phủ, 2025). Cách xác định như vậy có ý nghĩa rất quan trọng, vì nó cho thấy tài sản mã hóa được thừa nhận như một nhóm tài sản riêng trong không gian số, nhưng không được đồng nhất ngay với chứng khoán hoặc tiền. Nghị quyết cũng thiết kế cấu trúc thị trường xoay quanh các hoạt động cốt lõi như tổ chức thị trường giao dịch, tự doanh, lưu ký và cung cấp nền tảng phát hành. Đồng thời, văn bản đặt ra các yêu cầu chặt chẽ đối với tổ chức cung cấp dịch vụ về vốn điều lệ, cơ cấu tổ chức, nhân sự, hệ thống công nghệ thông tin, kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro, giám sát giao dịch, giải quyết khiếu nại và bồi thường khách hàng. Đáng chú ý, Nghị quyết yêu cầu hệ thống công nghệ thông tin phải đáp ứng tiêu chuẩn an toàn ở mức cao trước khi đưa vào vận hành (Chính phủ, 2025). Điều đó cho thấy thị trường tài sản mã hóa ngay từ đầu đã được nhìn nhận như một lĩnh vực có rủi ro tài chính - công nghệ cao, cần được kiểm soát bằng cơ chế quản lý chặt chẽ. Văn bản này còn đặt ra một số nguyên tắc có ảnh hưởng trực tiếp đến kế toán. Một mặt, Nghị quyết yêu cầu việc triển khai thí điểm phải được thực hiện thận trọng, minh bạch, có kiểm soát và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các tổ chức, cá nhân tham gia thị trường. Mặt khác, Nghị quyết quy định chào bán, phát hành, giao dịch và thanh toán tài sản mã hóa phải thực hiện bằng Đồng Việt Nam; đồng thời, trong thời kỳ chưa có chính sách thuế riêng, các giao dịch liên quan đến tài sản mã hóa được áp dụng chính sách thuế tương tự như chứng khoán (Chính phủ, 2025). Từ góc nhìn kế toán, những quy định này cho thấy nền tảng pháp lý của thị trường tài sản mã hóa ở Việt Nam được xây dựng theo tinh thần thận trọng và tạm thời sử dụng các cơ chế quản lý gần nhất đang có sẵn trong hệ thống pháp luật tài chính. 3.2. Cấu trúc kế toán của Thông tư 15/2026/ TT-BTC Nếu Nghị quyết 05 định hình thị trường ở cấp độ pháp lý, thì Thông tư số 15/2026/TT-BTC lại xác lập lớp hướng dẫn kế toán đối với các chủ thể tham gia thị trường. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là Thông tư này không ban hành một chế độ kế toán riêng, cũng không thiết lập một hệ thống tài khoản độc lập cho tài sản mã hóa. Theo Điều 4, các tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa, tổ chức phát hành tài sản mã hóa và nhà đầu tư trong nước phải tuân thủ Luật Kế toán, các chuẩn mực kế toán Việt Nam, chế độ kế toán doanh nghiệp và thực hiện hạch toán theo Thông tư số 99/2025/TT-BTC cùng với các hướng dẫn riêng của Thông tư này để ghi sổ, lập và trình bày báo cáo tài chính (Bộ Tài chính, 2026). Như vậy, khung kế toán hiện hành về bản chất là một sự mở rộng của chế độ kế toán doanh nghiệp, chứ chưa phải là một mô hình chuẩn tắc độc lập cho tài sản mã hóa. Một điểm có ý nghĩa phương pháp luận nằm ở Điều 3 của Thông tư 15/2026/TT-BTC. Văn bản quy định rằng trường hợp thuật ngữ chưa được quy định cụ thể thì được hiểu theo bản chất kinh tế của giao dịch để phục vụ mục đích hạch toán kế toán. Đây là nguyên tắc rất quan trọng, vì nó cho thấy nhà làm chính sách thừa nhận rằng, với một thị trường mới như tài sản mã hóa, không thể dựa hoàn toàn vào tên gọi kỹ thuật hoặc hình thức giao dịch để lựa chọn phương pháp hạch toán; thay vào đó, kế toán phải quay trở lại với quyền, nghĩa vụ và lợi ích kinh tế thực chất phát sinh từ giao dịch (Bộ Tài chính, 2026). Đối với tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa, Thông tư 15/2026/TT-BTC yêu cầu ghi nhận doanh thu từ các hoạt động tổ chức thị trường giao dịch, lưu ký và nền tảng phát hành vào tài khoản doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ. Văn bản đồng thời yêu cầu theo dõi chi tiết các khoản phải thu, phân loại nợ và lập dự phòng theo quy định chung. Riêng đối với hoạt động lưu ký, Thông tư quy định rõ tiền và tài sản mã hóa của khách hàng phải được quản lý, hạch toán tách biệt với tiền và tài sản mã hóa của chính tổ chức cung cấp dịch vụ; tài sản mã hóa của khách hàng lưu ký không được ghi nhận là tài sản của đơn vị cung cấp dịch vụ mà chỉ được theo dõi chi tiết để phục vụ quản lý và thuyết minh báo cáo tài chính (Bộ Tài chính, 2026). Quy định này có ý nghĩa rất lớn về mặt kế toán và bảo vệ nhà đầu tư, vì nó khẳng định ranh giới giữa tài sản sở hữu của doanh nghiệp và tài sản doanh nghiệp nắm giữ hộ khách hàng. Đối với hoạt động tự doanh, Thông tư 15/2026/ TT-BTC quy định doanh thu, chi phí và dự phòng rủi ro được hạch toán tương tự hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty chứng khoán, nhưng đồng thời nhấn mạnh việc áp dụng tương tự này không đồng nghĩa coi tài sản mã hóa là chứng khoán. Đối với tổ chức phát hành, việc hạch toán phải căn cứ vào bản chất nghĩa vụ phát sinh từ tài sản mã hóa đã phát hành; nếu tài sản phát hành mang bản chất huy động vốn thì hạch toán tương tự hoạt động vay vốn. Đối với nhà đầu tư trong nước là tổ chức, việc mua bán tài sản mã hóa được hạch toán tương tự hoạt động đầu tư tài chính và căn cứ vào mục đích đầu tư, nắm giữ để lựa chọn cách xử lý phù hợp (Bộ Tài chính, 2026). Các quy định này cho thấy Thông tư 15/2026/TT-BTC không đưa ra một định nghĩa kế toán duy nhất cho tài sản mã hóa, mà lựa chọn cách suy chiếu tới các mô hình kế toán sẵn có theo vai trò kinh tế của chủ thể và bản chất của giao dịch. Một điểm cần lưu ý khác là Thông tư 15/2026/ TT-BTC quy định rõ văn bản này không áp dụng cho việc xác định nghĩa vụ thuế của các tổ chức tham gia thị trường tài sản mã hóa với ngân sách nhà nước. Điều này có nghĩa là cùng một giao dịch có thể phải được xem xét dưới hai lớp quy định khác nhau: một lớp phục vụ ghi sổ, lập và trình bày báo cáo tài chính; lớp còn lại phục vụ xác định nghĩa vụ thuế. Về mặt kỹ thuật pháp lý, đây là lựa chọn thận trọng. Nhưng về mặt thực tiễn, quy định đó cũng báo hiệu khả năng phát sinh chênh lệch giữa xử lý kế toán và xử lý thuế trong quá trình vận hành thị trường. 4. Trao đổi học thuật về khung kế toán hiện hành của Việt Nam 4.1. Về tính chất chuyển tiếp của khung kế toán hiện hành Từ cấu trúc của Thông tư 15/2026/TT-BTC có thể thấy rõ rằng Việt Nam đang áp dụng một khung kế toán mang tính chuyển tiếp. Một mặt, văn bản lấy “bản chất kinh tế của giao dịch” làm nguyên tắc nền để xử lý những trường hợp chưa có quy định cụ thể. Mặt khác, cách hạch toán cụ thể lại chủ yếu được xây dựng bằng cách suy chiếu từ những mô hình kế toán sẵn có, như doanh thu dịch vụ, kinh doanh chứng khoán, vay vốn hay đầu tư tài chính. Cách tiếp cận này có ưu điểm rõ ràng là dễ triển khai trong thực tế, không tạo ra cú sốc quá lớn đối với hệ thống kế toán doanh nghiệp và phù hợp với tinh thần thận trọng của giai đoạn thí điểm. Tuy nhiên, xét từ góc độ phát triển chuẩn mực, đây mới chỉ là một cách xử lý quá độ. Một khung kế toán hoàn chỉnh đối với một loại tài sản mới cần ít nhất ba cấu phần cơ bản: tiêu chí phân loại rõ ràng, cơ sở đo lường sau ghi nhận phù hợp và yêu cầu trình bày, công bố thông tin đủ để người sử dụng hiểu được rủi ro cũng như giá trị kinh tế của khoản mục. Trong khung hiện hành của Việt Nam, cả ba cấu phần đó đều đã xuất hiện ở mức độ nhất định, nhưng chưa được thiết kế thành một hệ thống nhất quán. Đây là lý do khiến khung kế toán hiện tại phù hợp cho việc mở đường, nhưng chưa phải là điểm dừng cuối cùng của quá trình chuẩn tắc hóa. 4.2. Về nền tảng phân loại kế toán Về mặt pháp lý, Nghị quyết 05/2025/NQ-CP đã xác định tài sản mã hóa không phải là chứng khoán, cũng không phải là dạng số của tiền pháp định hay các tài sản tài chính khác. Tuy nhiên, về mặt hạch toán, Thông tư 15/2026/TT-BTC lại cho phép xử lý theo mô hình của kinh doanh chứng khoán, vay vốn hay đầu tư tài chính trong từng tình huống cụ thể. Điều này cho thấy hệ thống kế toán hiện tại vẫn đang hướng dẫn theo cấu trúc của những loại tài sản hoặc giao dịch khác để xử lý một đối tượng mà chính pháp luật đã tách khỏi các nhóm đó. Cách làm này không phải không có cơ sở. Thực tế, IFRIC năm 2019 cũng đã lựa chọn xử lý tiền mã hóa bằng cách quy chiếu về IAS 2 hoặc IAS 38. Tuy nhiên, khác với IFRIC, Thông tư 15/2026/TTBTC của Việt Nam chưa tạo được một khái niệm đủ rõ ở tầng chuẩn mực. Trong khi IFRIC giải thích tương đối chặt vì sao khoản nắm giữ tiền mã hóa không phải là tiền hay tài sản tài chính và vì sao IAS 38 trở thành khung xử lý phù hợp trong trường hợp không phải hàng tồn kho, thì cách tiếp cận của Việt Nam hiện nay mới dừng nhiều hơn ở tầng vận dụng thực hành theo vai trò của chủ thể. Về dài hạn, điều này có thể làm giảm tính nhất quán của thông tin kế toán giữa các doanh nghiệp. 4.3. Về cơ sở đo lường sau ghi nhận Một vấn đề quan trọng cần trao đổi nằm ở đo lường sau ghi nhận tài sản mã hóa. Đặc điểm nổi bật của tài sản mã hóa là biến động giá mạnh, thanh khoản khác nhau giữa các nền tảng và giá trị kinh tế thường gắn chặt với khả năng giao dịch trên thị trường. Vì vậy, câu hỏi về giá gốc, giá trị hợp lý, xử lý tổn thất, dự phòng rủi ro hay chênh lệch đánh giá lại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thế nhưng, Thông tư 15/2026/TT-BTC chưa trả lời trực tiếp những vấn đề này. Văn bản chủ yếu quy định cách xếp giao dịch vào các mô hình kế toán sẵn có, chứ chưa xây dựng nguyên tắc đo lường sau ghi nhận đối với tài sản mã hóa như một đối tượng riêng. Khi đối chiếu với kinh nghiệm quốc tế, khoảng trống này bộc lộ khá rõ. Dưới IFRS, việc xử lý theo IAS 38 vẫn để lại tranh luận về mức độ thích hợp của mô hình giá gốc đối với những tài sản phụ thuộc mạnh vào giá thị trường. Dưới chuẩn mực kế toán Hoa Kỳ, FASB đã chuyển sang mô hình đo lường theo giá trị hợp lý cho tài sản mã hóa thuộc phạm vi chuẩn mực và yêu cầu phản ánh ngay biến động giá trị vào kết quả kinh doanh. Điều đó cho thấy đo lường sau ghi nhận chính là điểm phân biệt quan trọng giữa giai đoạn xử lý bằng loại suy với giai đoạn chuyên biệt hóa. So với xu hướng này, khung của Việt Nam hiện vẫn đang ở bước đầu. 4.4. Về trình bày và công bố thông tin Trong lĩnh vực tài sản mã hóa, rủi ro không chỉ nằm ở biến động giá. Rủi ro còn nằm ở năng lực lưu ký, an toàn công nghệ, quyền truy cập tài sản, xung đột lợi ích giữa hoạt động dịch vụ và tự doanh, cũng như mức độ tập trung nắm giữ. Đây cũng là lý do IOSCO và MiCA đều nhấn mạnh mạnh mẽ vào minh bạch thông tin, giám sát hoạt động và bảo vệ tài sản của khách hàng. Thông tư 15/2026/TT-BTC của Việt Nam đã có một điểm đúng và đáng ghi nhận là yêu cầu tách biệt, theo dõi và thuyết minh tài sản mã hóa của khách hàng lưu ký. Tuy vậy, đối với tài sản mã hóa do chính đơn vị nắm giữ hoặc phát hành, văn bản chưa hình thành một bộ yêu cầu thuyết minh thật sự đầy đủ. Chẳng hạn, chưa có quy định rõ về việc công bố chính sách phân loại, cơ sở đo lường, mức độ tập trung nắm giữ, hạn chế giao dịch, rủi ro công nghệ, hay các sự kiện có thể ảnh hưởng đến khả năng truy cập và chuyển giao tài sản. Trong bối cảnh thị trường tài sản mã hóa phụ thuộc mạnh vào hạ tầng công nghệ và cơ chế lưu ký, phần công bố thông tin có ý nghĩa không kém phần đo lường. 4.5. Về quan hệ giữa kế toán, quản lý thị trường và quản trị rủi ro Từ các tài liệu quốc tế cũng như khung pháp lý của Việt Nam, có thể thấy kế toán tài sản mã hóa không thể được xem đơn thuần là câu chuyện phân loại tài khoản hay lựa chọn bút toán. Loại tài sản này đặt ra đồng thời các yêu cầu về quản lý thị trường, bảo vệ tài sản khách hàng, kiểm soát công nghệ và truy vết giao dịch. Chính vì vậy, chất lượng của khung kế toán không chỉ phụ thuộc vào việc chọn mô hình giá gốc hay giá trị hợp lý, mà còn phụ thuộc vào khả năng liên kết giữa kế toán với hệ thống giám sát thị trường và quản trị rủi ro. Ở điểm này, Nghị quyết 05/2025/NQ-CP đã đi trước một bước khi thiết kế khá chặt các yêu cầu về vốn, công nghệ, quản trị rủi ro, giám sát giao dịch và bảo vệ khách hàng. Tuy nhiên, lớp kế toán tương ứng trong Thông tư 15/2026/TT-BTC mới chỉ phản ánh một phần của yêu cầu đó. Điều này cho thấy trong giai đoạn tiếp theo, nếu muốn nâng chất lượng thông tin tài chính của thị trường tài sản mã hóa, việc hoàn thiện khung kế toán cần được đặt trong mối liên hệ chặt với cơ chế quản lý thị trường, thay vì chỉ xem đây là vấn đề kỹ thuật ghi sổ. 5. Một số kiến nghị Thứ nhất, Việt Nam chưa nhất thiết phải ban hành ngay một chuẩn mực kế toán độc lập cho tài sản mã hóa, nhưng cần sớm có hướng dẫn kỹ thuật bổ sung cho Thông tư 15/2026/TT-BTC theo hướng làm rõ tiêu chí phân loại kế toán. Hướng dẫn này nên dựa trên cấu trúc quyền và nghĩa vụ kinh tế gắn với tài sản mã hóa, thay vì chỉ dựa vào vai trò của chủ thể tham gia thị trường. Chỉ khi nền tảng khái niệm được làm rõ hơn thì tính nhất quán của hệ thống mới được củng cố. Thứ hai, cần ưu tiên xây dựng nguyên tắc đo lường sau ghi nhận. Tối thiểu, văn bản hướng dẫn trong thời gian tới nên làm rõ trường hợp nào được sử dụng giá trị hợp lý, tiêu chí xác định thị trường hoạt động, cách xử lý tài sản bị hạn chế chuyển nhượng hoặc thiếu thanh khoản và cách phản ánh chênh lệch đánh giá lại trên báo cáo tài chính. Đây là mắt xích quyết định mức độ hữu ích của thông tin kế toán đối với người sử dụng báo cáo tài chính. Thứ ba, cần nâng chuẩn công bố thông tin đối với các tổ chức tham gia thị trường tài sản mã hóa. Báo cáo tài chính nên yêu cầu công bố rõ chính sách phân loại, cơ sở đo lường, quy mô tài sản khách hàng đang nắm giữ hộ, rủi ro lưu ký, rủi ro công nghệ, mức độ tập trung tài sản và các hạn chế pháp lý hoặc kỹ thuật liên quan đến việc chuyển nhượng, truy cập và hiện thực hóa giá trị của tài sản mã hóa. Đây là hướng đi phù hợp với xu thế minh bạch hóa đang được thúc đẩy trong quản lý quốc tế. Kết luận Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP và Thông tư số 15/2026/TT-BTC đã tạo ra nền tảng pháp lý và kế toán ban đầu cho thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam. Điểm mạnh của khuôn khổ hiện hành là sự thận trọng, tính khả thi và khả năng tận dụng hệ thống kế toán doanh nghiệp đang vận hành. Cách tiếp cận này phù hợp với giai đoạn thí điểm, khi thị trường còn mới, giao dịch còn đang phát triển nhanh và nhà làm chính sách cần ưu tiên sự an toàn và khả năng kiểm soát.Tuy nhiên, dưới góc độ học thuật, khung kế toán hiện hành của Việt Nam vẫn chủ yếu mang tính chuyển tiếp. Các quy định hiện nay mới dừng ở mức định hướng theo nguyên tắc và suy chiếu từ các mô hình kế toán sẵn có, trong khi những vấn đề cốt lõi như nền tảng phân loại, đo lường sau ghi nhận và công bố thông tin vẫn chưa được hoàn thiện thành một hệ thống đủ chặt. Vì vậy, đánh giá cân bằng nhất là: khung kế toán hiện nay phù hợp để mở đường cho thị trường vận hành có kiểm soát, nhưng chưa phải là điểm kết thúc của quá trình xây dựng chuẩn mực kế toán cho tài sản mã hóa tại Việt Nam. Khi quy mô thị trường tăng lên và các giao dịch trở nên đa dạng, yêu cầu hoàn thiện khung kế toán theo hướng rõ hơn, nhất quán hơn và minh bạch hơn sẽ gần như là điều tất yếu. Tài liệu tham khảo 1. Bộ Tài chính. (2026). Thông tư số 15/2026/TT-BTC ngày 04/3/2026 hướng dẫn nguyên tắc kế toán đối với các tổ chức tham gia thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam; 2. Chính phủ. (2025). Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP ngày 09/9/2025 về việc triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam; 3. European Commission. (n.d.). Crypto-assets. https://finance.ec.europa.eu/digital-finance/crypto-assets_en; 4. European Securities and Markets Authority. (2025). Markets in Crypto-Assets Regulation (MiCA). https://www. esma.europa.eu/esmas-activities/digital-finance-and-innovation/markets-crypto-assets-regulation-mica; 5. Financial Accounting Standards Board. (2023). Accounting Standards Update No. 2023-08: Intangibles-Goodwill and Other-Crypto Assets (Subtopic 350-60): Accounting for and Disclosure of Crypto Assets. https://storage.fasb.org/ASU%202023-08.pdf; 6. IFRS Foundation. (2019a). Holdings of cryptocurrencies. IFRIC Update, June 2019. https://www.ifrs.org/content/ dam/ifrs/supporting-implementation/agenda-decisions/2019/holdings-of-cryptocurrencies-june-2019.pdf; 7. IFRS Foundation. (2024). IAS 38 Intangible Assets. https://www.ifrs.org/issued-standards/list-ofstandards/ias-38-intangible-assets/; 8. International Organization of Securities Commissions. (2023). Policy recommendations for crypto and digital asset markets. https://www.iosco.org/library/pubdocs/pdf/IOSCOPD747.pdf; 9. Organisation for Economic Co-operation and Development. (2025). Crypto-Asset Reporting Framework: 2025 monitoring and implementation update. https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/networks/globalforum-tax-transparency/crypto-asset-reporting-framework-monitoring-implementation-update-2025.pdf. Ngày nhận bài: 23/02/2026 Ngày biên tập: 26/02/2026 Ngày duyệt đăng: 10/4/2026 Tác giả: Nguyễn Thị Cảnh Hoa Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội Hoàng Thục Uyên Học viện Tài chính Lê Bảo Ngọc Học viện Tài chính Email: ntchoa@hunre.edu.vn (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, số tháng 4/2026)

Thúc đẩy áp dụng kế toán xanh tại các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam hướng tới phát triển bền vững

Bài viết này nhằm đánh giá quá trình chuyển đổi từ hệ thống kế toán truyền thống sang kế toán xanh tại các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam trong bối cảnh thực hiện cam kết Net Zero vào năm 2050. Mục tiêu trọng tâm của bài viết nhằm làm rõ khái niệm, vai trò về kế toán xanh và phân tích thực trạng tại các tập đoàn tiên phong như Vingroup và Vinamilk. Bằng phương pháp tổng hợp và phân tích định tính, nghiên cứu chỉ ra rằng hệ thống kế toán hiện tại đang còn những khoảng trống về nhận diện chi phí và ghi nhận nghĩa vụ môi trường. Kết quả phân tích cho thấy, việc áp dụng kế toán xanh không chỉ là yêu cầu tuân thủ mà còn là công cụ minh bạch hóa thông tin, giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro pháp lý và nâng cao lợi thế cạnh tranh quốc tế. Bài viết đề xuất lộ trình chuẩn hóa hành lang pháp lý và xây dựng hệ thống chỉ số ESG tích hợp như một hàm ý chính sách quan trọng cho các cơ quan quản lý và doanh nghiệp. Từ khóa: Kế toán xanh, doanh nghiệp sản xuất, phát triển bền vững, Net Zero 2050, ESG. Promoting green accounting adoption in Vietnamese manufacturing enterprises toward sustainable development This paper evaluates the transition from traditional to green accounting in Vietnamese manufacturing firms within the context of the 2050 Net Zero commitment. The main objective of this article is to clarify the concept and role of green accounting and analyze the current situation at pioneering corporations such as Vingroup and Vinamilk. Using qualitative analysis, the study identifies gaps in the current system regarding cost identification and environmental liability recognition. Results indicate that green accounting is not only a compliance requirement but also a tool for transparency that reduces legal risks and enhances international competitiveness. The paper proposes a roadmap for legal standardization and the development of integrated ESG index system as a key policy implication for regulatory bodies and businesses. Keywords: Green accounting, manufacturing enterprises, sustainable development, Net Zero 2050, ESG. JEL classification: M41, Q56, O44 https://doi.org/10.65771/ati-jas.04202603 Trong kỷ nguyên biến đổi khí hậu, hoạt động sản xuất công nghiệp với đặc thù phát thải lớn đang trở thành trọng tâm của các nỗ lực kiểm soát môi trường toàn cầu. Tại Hội nghị COP 26, cam kết đạt mức phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào năm 2050 của Chính phủ Việt Nam đã xác lập một kỷ nguyên quản trị mới. Điều này tạo ra “áp lực đáng kể” buộc các doanh nghiệp sản xuất phải chuyển dịch từ mô hình tăng trưởng tuyến tính sang kinh tế tuần hoàn. Tuy nhiên, dưới góc độ kế toán, hệ thống kế toán truyền thống đang bộc lộ những hạn chế cố hữu khi không phản ánh đầy đủ các chi phí ngoại ứng và tác động môi trường vào giá thành sản phẩm. Vì vậy, việc chuyển đổi sang kế toán xanh không còn là một lựa chọn mang tính hình thức mà nó đã dần trở thành tất yếu để giúp kiểm soát thông tin, hỗ trợ ra quyết định chiến lược và đáp ứng trách nhiệm giải trình trước các bên liên quan. 1. Các hướng tiếp cận về kế toán xanh Kế toán xanh đã trải qua quá trình tiến hóa kể từ thập niên 80, chuyển từ việc ghi nhận chi phí đơn lẻ sang một hệ thống quản trị tích hợp. Các quan điểm về kế toán xanh được chuẩn hóa qua 05 nội dung cốt lõi: (1) Kế toán tài chính môi trường; (2) Kế toán quản trị môi trường; (3) Tài chính môi trường; (4) Pháp luật môi trường và (5) Đạo đức & Trách nhiệm xã hội. Đối với doanh nghiệp sản xuất, đây là hệ thống đa chiều giúp lượng hóa các tác động môi trường thành các chỉ số tài chính và phi tài chính có thể kiểm chứng được. Bảng 1: Bảng các hướng tiếp cận về kế toán xanh   2. Kế toán truyền thống, kế toán môi trường và kế toán xanh Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang chuyển mình mạnh mẽ theo hướng phát triển bền vững, vai trò của kế toán không còn dừng lại ở việc ghi nhận và phản ánh các giao dịch tài chính thuần túy. Thay vào đó, kế toán ngày càng được kỳ vọng trở thành một công cụ quản trị toàn diện, góp phần đo lường, đánh giá và định hướng các hoạt động kinh tế gắn liền với trách nhiệm xã hội và bảo vệ môi trường. Chính sự thay đổi này đã dẫn đến sự ra đời và phát triển của nhiều cách tiếp cận kế toán khác nhau, tiêu biểu là kế toán truyền thống, kế toán môi trường và kế toán xanh. Sự khác biệt giữa ba loại hình kế toán này thể hiện rõ nét ở mức độ tích hợp các yếu tố bền vững vào hệ thống thông tin và báo cáo quản trị. Nếu như kế toán truyền thống chủ yếu tập trung vào các chỉ tiêu tài chính, thì kế toán môi trường bắt đầu ghi nhận và phản ánh các chi phí, lợi ích liên quan đến môi trường. Trong khi đó, kế toán xanh tiến xa hơn khi kết hợp hài hòa giữa mục tiêu kinh tế, môi trường và xã hội, hướng đến việc cung cấp thông tin phục vụ phát triển bền vững một cách toàn diện. Bảng 2: Bảng so sánh kế toán truyền thống, kế toán môi trường và kế toán xanh Kế toán xanh hướng tới sự minh bạch hóa toàn diện, trong đó thông tin môi trường được xem là một thành phần không thể tách rời của giá trị doanh nghiệp. Hơn nữa, kế toán xanh không chỉ là sự mở rộng của hệ thống kế toán truyền thống mà còn là công cụ quản trị chiến lược tất yếu. Bằng cách tích hợp các dòng thông tin tài chính với các tác động môi trường, kế toán xanh mang lại những giá trị đa chiều. Vai trò của kế toán xanh được thể hiện: Thứ nhất, Là công cụ định hướng phát triển bền vững của nền kinh tế Kế toán xanh khắc phục những hạn chế mà kế toán truyền thống thường bỏ qua bằng cách bổ sung và phản ánh các thông tin chưa được phản ánh, đặc biệt là các chi phí ngoại ứng liên quan đến môi trường. Việc đo lường các tác động môi trường không chỉ nâng cao chất lượng các chính sách áp dụng mà còn cung cấp cơ sở dữ liệu giúp cơ quan quản lý đánh giá mức độ quan hệ đánh đổi giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường. Đồng thời, thông tin từ kế toán xanh còn là cơ sở để thiết kế và triển khai các công cụ kinh tế khác như thuế môi trường hay tín dụng xanh, qua đó góp phần định hướng nền kinh tế phát triển theo hướng giảm phát thải. Thứ hai, Tối ưu hóa nguồn lực và vị thế cạnh tranh trong doanh nghiệp Kế toán xanh không chỉ sử dụng tài nguyên thông qua việc nhận diện và đo lường các chi phí môi trường như chi phí xử lý chất thải, tiêu thụ năng lượng và nguyên vật liệu đầu vào mà nó còn tích hợp các định hướng chiến lược phát triển bền vững (ESG). Vậy nên, doanh nghiệp có thể kiểm soát tốt hơn các điểm gây lãng phí trong quá trình sản xuất, qua đó tối ưu hóa công tác quản trị chi phí, giá thành sản phẩm của doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả hoạt động. Việc minh bạch hóa các thông tin liên quan đến phát triển bền vững theo các tiêu chí ESG giúp doanh nghiệp gia tăng giá trị doanh nghiệp và niềm tin đối với các bên liên quan. Điều này không chỉ tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tiếp cận các thị trường có yêu cầu cao mà còn nâng cao khả năng huy động vốn từ các tổ chức tài chính đang ưu tiên các dự án thân thiện với môi trường. Kế toán xanh hỗ trợ doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro pháp lý và xây dựng lợi thế cạnh tranh dài hạn. Thông qua việc chủ động thích ứng với các quy định môi trường ngày càng chặt chẽ và các cam kết quốc tế như cơ chế Điều chỉnh biên giới các-bon (CBAM) hay mục tiêu tổng lượng khí nhà kính phát thải bằng không (Net Zero), doanh nghiệp có thể hạn chế các chi phí phát sinh do vi phạm, đồng thời tạo ra sự khác biệt so với các đối thủ trong quá trình chuyển đổi xanh và phát triển bền vững. Tóm lại, kế toán xanh là sự giao thoa giữa hiệu quả kinh tế và trách nhiệm xã hội. Nó chuyển đổi các áp lực về môi trường thành các chỉ số quản trị định lượng, giúp doanh nghiệp không chỉ tồn tại mà còn phát triển thịnh vượng trong kỷ nguyên kinh tế tuần hoàn. 3. Thực trạng và những thách thức trong việc áp dụng tại Việt Nam 3.1. Thực trạng về kế toán xanh tại các doanh nghiệp lớn của Việt Nam Theo quan điểm của Yakhou và Dorweiler (2004), hệ thống kế toán truyền thống đang tồn tại những hạn chế nhất định khi chưa phản ánh đầy đủ các tác động từ hoạt động sản xuất kinh doanh đến môi trường vào báo cáo tài chính. Trước diễn biến hiện nay, môi trường toàn cầu đang phải đối mặt với nhiều vấn đề nghiêm trọng. Có thể kể đến như hiện tượng nóng lên toàn cầu, sự gia tăng nhiệt độ dẫn đến băng tan, mực nước biển dâng cao, cùng với các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, lũ, động đất và sóng thần xảy ra với tần suất và cường độ ngày càng lớn. Bên cạnh đó, các hoạt động sản xuất cũng gây ra những tác động tiêu cực đáng kể đến môi trường. Hoạt động của các doanh nghiệp thải ra một lượng lớn khí độc hại, gây ô nhiễm không khí; đồng thời, rác thải công nghiệp và nước thải không được xử lý đúng cách làm ô nhiễm nguồn nước và đất. Những vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe con người mà còn gây ra những tổn thất đáng kể cho nền kinh tế toàn cầu. Vấn đề này nhận được sự quan tâm lớn đòi hỏi và thúc đẩy các doanh nghiệp tích hợp các thông số về môi trường vào báo cáo tài chính. Tại Việt Nam, mặc dù khung pháp lý về kế toán xanh vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, thực tiễn vận dụng đã ghi nhận những bước tiến tích cực từ các doanh nghiệp tiên phong, khi họ đã và đang chú trọng thực hiện các phương pháp nhằm đo lường và ghi nhận, công bố minh bạch các thông tin liên quan đến môi trường thông qua báo cáo phát triển bền vững. Thứ nhất, việc đo lường các tác động môi trường thông qua kế toán quản trị carbon đang dần được chú trọng. Tại Việt Nam các doanh nghiệp như Vinamilk, TH Group hay Vin Group đã tiên phong trong việc thực hiện các phương pháp để đo lường và ghi nhận các thông số từ hoạt động sản xuất đến môi trường. Điển hình như tập đoàn Vingroup, trong Báo cáo Phát triển bền vững năm 2024, đơn vị này đã áp dụng các kỹ thuật đo lường lượng phát thải khí nhà kính (GHG) một cách chi tiết theo hai phạm vi quy chuẩn. Trong đó, phạm vi 1 ghi nhận 218.876 tCO2e phát sinh trực tiếp từ việc tiêu thụ xăng, dầu diesel, LPG, quá trình xử lý nước thải và từ sự hao hụt môi chất lạnh từ các hệ thống làm mát; phạm vi 2 xác định 468.739 tCO2e gián tiếp từ nguồn điện lưới tiêu thụ. Việc hạch toán này không chỉ dừng lại ở con số tài chính mà còn kết hợp chặt chẽ với các chỉ số vật lý. Minh chứng là sản lượng 8,4 triệu kWh điện mặt trời giúp giảm 6,6 nghìn tCO2e phát thải. Đây là biểu hiện rõ nét của việc áp dụng kế toán xanh trong việc đánh giá hiệu quả của các dự án đầu tư năng lượng sạch. Thứ hai, xu hướng tích hợp báo cáo bền vững và cam kết lộ trình Net Zero. Tại Hội nghị COP 26, Nhà nước đã đưa ra cam kết đạt mục tiêu Net Zero (phát thải ròng bằng “0”) vào năm 2050. Các doanh nghiệp đang đồng hành cùng Chính phủ, nỗ lực trong hành trình hướng tới nền kinh tế xanh. Bên cạnh Vingroup, Vinamilk cũng là một điểm sáng trong việc kết nối quy trình sản xuất sạch với hệ thống báo cáo quản trị. Thông qua việc đầu tư hệ thống năng lượng tái tạo cho 12 trang trại bò sữa, Vinamilk đã thực hiện hạch toán các chi phí môi trường liên quan đến lộ trình trung hòa carbon (VnExpress (2021). Việc công bố các thông tin này theo tiêu chuẩn Net Zero 2050 trong báo cáo thường niên cho thấy sự dịch chuyển trong tư duy kế toán: từ việc chỉ ghi nhận chi phí thực tế sang việc quản trị các giá trị bền vững và rủi ro môi trường dài hạn. Nhìn chung, thực tiễn tại các doanh nghiệp lớn cho thấy kế toán xanh tại Việt Nam đang dần hình thành dưới dạng các báo cáo phi tài chính, tạo tiền đề quan trọng cho việc chuẩn hóa các chuẩn mực kế toán môi trường trong tương lai. 3.2. Thách thức từ hạch toán tín chỉ Carbon Thị trường tín chỉ Carbon đang dần hình thành (1 tín chỉ = 1 tấn CO2) tạo ra các giao dịch kinh tế mới. Doanh nghiệp có thể mua tín chỉ Carbon để bù trừ cho lượng CO2 vượt quá mức cho phép, đồng thời các doanh nghiệp cũng có thể kiếm được doanh thu từ hoạt động bán tín chỉ Carbon cho các doanh nghiệp khác. Việc mua bán tín chỉ Carbon phát sinh chi phí đối với các doanh nghiệp mua và doanh thu đối với các doanh nghiệp bán tín chỉ Carbon. Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa có hướng dẫn kế toán cho hoạt động này, chưa có các tài khoản riêng biệt để theo dõi doanh thu và chi phí từ loại tài sản này, dẫn đến rủi ro trong việc trình bày thông tin trên báo cáo tài chính. 3.3. Các rào cản về khung pháp lý và kỹ thuật Mặc dù kế toán xanh mang lại nhiều lợi ích nhưng việc triển khai tại Việt Nam vẫn đang đối mặt với những khó khăn, cản trở khả năng minh bạch hóa thông tin môi trường của doanh nghiệp. Thứ nhất, Sự thiếu hụt khung pháp lý và hướng dẫn nghiệp vụ chuyên biệt Hiện nay, Bộ Tài chính vẫn chưa ban hành hệ thống chuẩn mực hoặc hướng dẫn kế toán riêng biệt cho các giao dịch liên quan đến môi trường. Sự thiếu hụt này dẫn đến những hạn chế về mặt kỹ thuật. Trong hệ thống tài khoản hiện nay chưa có các tài khoản riêng để tách bạch các chi phí liên quan đến môi trường. Phần lớn các chi phí phát sinh từ hoạt động bảo vệ môi trường hiện đang được ghi nhận chung vào tài khoản Chi phí sản xuất chung (TK 627) hoặc Chi phí quản lý doanh nghiệp (TK 642). Việc hạch toán gộp các chi phí với nhau khiến dữ liệu về chi phí môi trường bị lu mờ, làm mất đi tính khả thi trong việc phân tích mối tương quan giữa dòng vốn đầu tư cho môi trường và hiệu quả kinh tế thu về. Điều này vô hình trung khiến các dự án xanh trở thành “gánh nặng chi phí” thay vì là khoản đầu tư tạo giá trị bền vững cũng như thu hút các nhà đầu tư. Thứ hai, Hiện tượng bất đối xứng thông tin và rủi ro ghi nhận nợ tiềm tàng Sự thiếu vắng các quy định mang tính bắt buộc về công bố thông tin môi trường đã tạo ra lỗ hổng lớn trong báo cáo tài chính. Trước hết, xét trên phương diện kế toán, trong quá trình sản xuất, các khoản dự phòng về xử lý ô nhiễm, phục hồi môi trường hoặc các nghĩa vụ nợ tiềm tàng liên quan đến phát thải thường xuyên có thể bị các doanh nghiệp bỏ qua hoặc ghi nhận không đầy đủ, dẫn đến lợi nhuận bị thổi phồng trong khi nợ phải trả lại bị đánh giá thấp hơn thực tế. Điều này làm giảm độ tin cậy của báo cáo tài chính khi được phát hành khi chưa đánh giá đúng hiệu quả hoạt động và tình hình tài chính của doanh nghiệp. Đồng thời, điều này tạo ra tình trạng bất đối xứng thông tin nghiêm trọng giữa doanh nghiệp và các đối tượng bên ngoài. Doanh nghiệp nắm rõ các rủi ro môi trường nhưng lại không có nghĩa vụ công bố đầy đủ các thông tin về môi trường dẫn đến các nhà đầu tư chỉ tiếp cận được các chỉ tiêu tài chính ngắn hạn. Do đó, họ dễ bị dẫn dắt bởi các con số lợi nhuận ngắn hạn, trong khi các rủi ro tài chính dài hạn và trách nhiệm pháp lý về môi trường của doanh nghiệp lại không được phản ánh trung thực trên bảng cân đối kế toán. Hệ quả là các nhà đầu tư có thể đưa ra quyết định đầu tư bị sai lệch do đánh giá không đầy đủ các rủi ro liên quan đến môi trường. 4. Giải pháp và kiến nghị lộ trình thực hiện 4.1. Đối với doanh nghiệp và kế toán viên Trong bối cảnh các vấn đề môi trường ngày càng gia tăng và yêu cầu phát triển bền vững trở thành xu hướng tất yếu, việc triển khai kế toán xanh đòi hỏi sự chủ động từ phía doanh nghiệp cùng với sự nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ kế toán viên. Đối với doanh nghiệp, các nhà quản lý cần triển khai xây dựng và vận hành hệ thống tích hợp thêm kế toán môi trường vào hệ thống kế toán đang sử dụng. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở việc bổ sung tài khoản kế toán thì chưa đủ để phát huy hiệu quả quản trị. Trong bối cảnh Chính phủ đang thúc đẩy chuyển đổi số, việc ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) trở nên cần thiết nhằm khắc phục hạn chế của các hệ thống kế toán truyền thống vốn phân tán và thiếu liên kết dữ liệu. ERP cho phép tích hợp dữ liệu tài chính - kế toán với dữ liệu môi trường theo thời gian thực, qua đó không chỉ nâng cao tính minh bạch của thông tin mà còn giúp doanh nghiệp phân tích mối quan hệ giữa chi phí môi trường và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp cần chủ động thiết lập các tài khoản riêng, nhận diện, ghi nhận và phân loại các chi phí môi trường như chi phí phòng ngừa, xử lý và khắc phục ô nhiễm gây ra. Không chỉ dừng lại ở việc phân loại chi phí, việc này còn giúp doanh nghiệp nhận diện rõ các nguồn phát sinh chi phí môi trường, từ đó tạo cơ sở cho việc kiểm soát và tối ưu hóa chi phí. Khi được tích hợp với hệ thống ERP, khả năng theo dõi, so sánh và đánh giá các chỉ tiêu môi trường sẽ trở nên chính xác và kịp thời hơn. Việc thiết lập các tài khoản chi tiết cho từng loại chi phí không chỉ góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin kế toán mà còn hỗ trợ hiệu quả cho công tác quản trị chi phí và ra quyết định. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần chú trọng đầu tư vào hoạt động đào tạo nhằm nâng cao nhận thức và năng lực triển khai kế toán xanh cho đội ngũ nhân sự. Trong môi trường số hóa, hoạt động đào tạo cần gắn với việc nâng cao kỹ năng công nghệ thông tin, đặc biệt là khả năng sử dụng và khai thác hệ thống ERP, nhằm đáp ứng yêu cầu xử lý dữ liệu tích hợp. Ngoài ra, doanh nghiệp cần thiết lập hệ thống chỉ tiêu đo lường hiệu quả môi trường gắn với hoạt động sản xuất kinh doanh, chẳng hạn như mức tiêu thụ năng lượng hoặc chi phí xử lý chất thải trên mỗi đơn vị sản phẩm. Các chỉ tiêu này, khi được liên kết với dữ liệu tài chính, sẽ giúp lượng hóa tác động của hoạt động môi trường đến hiệu quả kinh doanh, từ đó hỗ trợ doanh nghiệp điều chỉnh chiến lược theo hướng phát triển bền vững. Đối với kế toán viên cần chủ động nâng cao năng lực chuyên môn để đáp ứng yêu cầu của kế toán xanh. Cụ thể, kế toán viên cần thường xuyên cập nhật kiến thức về kế toán môi trường và các xu hướng liên quan, đồng thời áp dụng các phương pháp hạch toán chi phí môi trường vào công việc thực tế. Trong bối cảnh chuyển đổi số, kế toán viên cần nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ, đặc biệt là khả năng khai thác và sử dụng dữ liệu từ hệ thống ERP. Vai trò của kế toán viên không chỉ dừng lại ở việc ghi chép mà còn chuyển dịch sang phân tích và tư vấn cho nhà quản trị thông qua dữ liệu kế toán - môi trường. Ngoài ra, kế toán viên không chỉ ghi chép và phản ánh thông tin mà cần chủ động tham gia xây dựng, đề xuất sáng kiến tiết kiệm tài nguyên và cải thiện quy trình và theo dõi các chỉ tiêu môi trường trong báo cáo quản trị, cũng như giúp doanh nghiệp nhận diện các điểm gây lãng phí tài nguyên và đề xuất biện pháp cải thiện. Thông qua việc phân tích dữ liệu tích hợp, kế toán viên có thể góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và hỗ trợ doanh nghiệp hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. 4.2. Đối với Chính phủ và Cơ quan quản lý Trong bối cảnh Việt Nam đang hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” (Net Zero), việc thúc đẩy áp dụng kế toán xanh tại các doanh nghiệp sản xuất ngày càng trở nên cấp thiết. Để hiện thực hóa mục tiêu này, vai trò định hướng và hỗ trợ từ phía Chính phủ và các cơ quan quản lý là yếu tố then chốt trong việc thúc đẩy doanh nghiệp áp dụng kế toán xanh. Trước hết, việc chuẩn hóa hàng lang pháp lý là nền tảng quan trọng nhằm tạo cơ sở cho việc triển khai kế toán xanh một cách đồng bộ và hiệu quả. Chính phủ và cơ quan quản lý cần khẩn trương nghiên cứu, xây dựng và ban hành các chuẩn mực liên quan đến kế toán xanh dựa trên sự tham chiếu chuẩn mực quốc tế như IFRS và các tiêu chuẩn ESG. Đồng thời, cần từng bước thiết lập các cơ chế bắt buộc đối với các doanh nghiệp sản xuất có quy mô lớn trong việc công bố các thông tin liên quan đến phát thải và tác động đến môi trường. Điều này không chỉ góp phần nâng cao tính minh bạch mà còn tạo áp lực tích cực buộc doanh nghiệp phải cải thiện và chuyển đổi theo hướng tích cực đối với môi trường. Bên cạnh đó, việc sử dụng các công cụ kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi sang mô hình sản xuất xanh. Chính phủ cần đẩy mạnh áp dụng các chính sách như thuế xanh, tín dụng xanh và các ưu đãi thuế thu nhập cho các đơn vị đầu tư công nghệ không phát thải. Các chính sách này không chỉ giúp giảm bớt gánh nặng chi phí ban đầu cho doanh nghiệp mà còn khuyến khích họ chủ động đổi mới công nghệ, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh và hướng tới phát triển bền vững trong dài hạn. Ngoài ra, chuyển đổi nhận thức của doanh nghiệp cũng là một yếu tố không thể thiếu trong quá trình thúc đẩy kế toán xanh. Các cơ quan quản lý cần tổ chức các chương trình đào tạo chuyên sâu, hội thảo và hoạt động truyền thông nhằm giúp doanh nghiệp hiểu rõ vai trò và lợi ích của kế toán xanh. Qua đó, kế toán xanh cần được nhìn nhận không chỉ là một “nghĩa vụ tuân thủ” các quy định pháp luật mà còn là một “lợi thế cạnh tranh chiến lược”, đặc biệt trong bối cảnh các thị trường quốc tế và chuỗi cung ứng toàn cầu ngày càng đặt ra những yêu cầu khắt khe về trách nhiệm môi trường và phát triển bền vững. Chính vì vậy, kế toán xanh là công cụ then chốt để chuyển hóa các áp lực về môi trường thành giá trị kinh tế bền vững. Việc áp dụng hệ thống này không chỉ giúp doanh nghiệp tối ưu hóa nguồn lực mà còn là hỗ trợ các doanh nghiệp bước vào thị trường quốc tế trong bối cảnh thực thi Net Zero 2050. Kế toán xanh chính là sự khẳng định về trách nhiệm giải trình và đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Kết luận Trong lộ trình thực hiện cam kết Net Zero vào năm 2050, kế toán xanh không còn là sự lựa chọn tự nguyện mà đã trở thành xu hướng tất yếu của các doanh nghiệp tại Việt Nam. Việc chuyển đổi từ hệ thống kế toán truyền thống sang kế toán xanh không chỉ giúp khắc phục những hạn chế trong việc ghi nhận chi phí và nghĩa vụ môi trường mà còn góp phần nâng cao tính minh bạch và hiệu quả quản trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, quá trình triển khai tại Việt Nam vẫn đang đối mặt với nhiều rào cản về khung pháp lý. Do đó, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước và doanh nghiệp trong việc hoàn thiện hành lang pháp lý, xây dựng hệ thống chỉ tiêu ESG và nâng cao nhận thức về kế toán xanh. Nhìn về dài hạn, kế toán xanh chính là “giấy thông hành” giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh và khẳng định vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu của kỷ nguyên kinh tế bền vững. Tài liệu tham khảo 1. Evans, A. C. (2022). Green Accounting and Financial Performance of Quoted Manufacturing Companies in Nigeria. Journal of Accounting and Financial Management, 8(6), 58-75; 2. Sadiku, M. N. (2021). Green accounting: A primer. International journal of scientific advances, 2(1), 60-62; 3. Sudhamathi, s. &. (2014). Green Accounting. Journal of International Academic Research for Multidisciplinary, 2(10), 227 - 235; 4. Tuổi Trẻ. (2024, November 3). Khám phá nhà máy xanh TH True Milk: Từ đồng cỏ xanh đến ly sữa sạch. Được truy lục từ https://tuoitre.vn/kham-pha-nha-may-xanh-th-true-milk-tu-dong-coxanh-den-ly-sua-sach-20241103083450401.htm; 5. Trần, Q. A. (2024). Vận dụng kế toán xanh trong xu thế phát triển bền vững. Kỷ yếu hội thảo khoa học kế toán xanh trong xu thế phát triển bền vững, Nhà xuất bản Tài chính, 4-8; 6. Vinamilk. (2024). Vinamilk công bố báo cáo phát triển bền vững, chọn chủ đề Net Zero 2050. Được truy lục từ https://www.vinamilk.com.vn/events-news/vinamilk-cong-bo-bao-cao-phattrien-ben-vung-chon-chu-de-net-zero-2050; 7. VnExpress. (2021, March 18). Vinamilk đầu tư hệ thống năng lượng mặt trời cho 12 trang trại bò sữa. Được truy lục từ VnExpress: https://vnexpress.net/vinamilk-dau-tu-he-thong-nang-luongmat-troi-cho-12-trang-trai-bo-sua-4250303.html; 8. Yakhou, M. &. (2004). Environmental accounting: an essential component of business strategy. Business Strategy and the Environment, 13(2), 65-77; 9. Yordanova - Dinova, P. (2021). Green accounting - management instrument of the enterprise's sustainability development knowledge. International Journal, 49(1), 127-131. Được truy lục từ International Journal: https://ojs.ikm.mk/index.php/kij/article/view/4627. Ngày nhận bài: 24/02/2026 Ngày biên tập: 02/3/2026 Ngày duyệt đăng: 11/4/2026 Tác giả: Nguyễn Như Quỳnh Nguyễn Thị Dậu Lê Thị Huệ Thư Học viện Ngân hàng Email: 26a4021762@hvnh.edu.vn

Một số lưu ý về nội dung kiểm toán đơn vị hành chính sự nghiệp trong bối cảnh áp dụng chế độ kế toán mới theo Thông tư 24/2024/TT-BTC

Việc ban hành Thông tư số 24/2024/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp áp dụng từ năm 2025 đã tạo ra nhiều thay đổi quan trọng trong tổ chức công tác kế toán, hệ thống chứng từ, sổ kế toán và báo cáo kế toán tại các đơn vị hành chính sự nghiệp. Những thay đổi này tác động đến hoạt động quản lý tài chính - kế toán của đơn vị và đặt ra yêu cầu điều chỉnh nội dung, phương pháp và trọng tâm kiểm toán đối với loại hình đơn vị này trong hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước. Bài viết phân tích một số điểm mới của chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp theo Thông tư 24/2024/TT-BTC có ảnh hưởng đến nội dung kiểm toán, đồng thời đề xuất một số lưu ý trong việc đánh giá tính tuân thủ pháp luật về kế toán, tính trung thực và hợp lý của thông tin tài chính, cũng như việc lập và trình bày báo cáo quyết toán, báo cáo tài chính theo quy định mới. Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng kiểm toán và hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn lực tài chính công tại các đơn vị hành chính sự nghiệp. Từ khóa: Đơn vị hành chính sự nghiệp; Thông tư 24/2024/TT-BTC; kiểm toán. Key considerations for auditing administrative and non-business units under the new accounting regime of Circular 24/2024/TT-BTC Circular 24/2024/TT-BTC, effective from 2025, introduces significant changes to accounting organizations, documentation and reporting within administrative and non-business units. These changes impact the financial and accounting management of the entity and necessitate adjustments to the content, methods and focus of audits for this type of entity within the State Audit Office's auditing activities. This article analyzes the new features of the administrative and non-business accounting regime according to Circular 24/2024/TT-BTC that affect audit content, and proposes considerations for evaluating legal compliance and the fairness of financial information as well as the preparation and presentation of final accounts reports and financial statements according to the new regulations. This contributes to enhancing audit quality and public resource management at administrative and non-business units. Keywords: Administrative and non-business units; Circular 24/2024/TT-BTC; auditing. JEL classification: H83, M42, M48 https://doi.org/10.65771/ati-jas.04202604 1. Đặt vấn đề Đơn vị hành chính sự nghiệp là tổ chức thuộc khu vực công, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập để thực hiện chức năng quản lý nhà nước hoặc cung cấp dịch vụ công phục vụ xã hội, hoạt động chủ yếu bằng nguồn ngân sách nhà nước hoặc các nguồn thu hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. Các đơn vị này không hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, mà nhằm thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội do Nhà nước giao trong các lĩnh vực như giáo dục, y tế, khoa học, văn hóa, thể thao, thông tin truyền thông và quản lý hành chính nhà nước. Thông tư 24/2024/TT-BTC quy định đơn vị hành chính, sự nghiệp là các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và các tổ chức khác có sử dụng ngân sách nhà nước hoặc nguồn kinh phí có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, phải thực hiện chế độ kế toán để phản ánh đầy đủ tình hình tài chính, tài sản và kết quả hoạt động theo quy định của pháp luật. * Đơn vị hành chính sự nghiệp có một số đặc điểm nổi bật: Mục tiêu hoạt động của các đơn vị này không nhằm tối đa hóa lợi nhuận mà chủ yếu hướng tới phục vụ lợi ích công cộng và thực hiện nhiệm vụ chính trị - xã hội do Nhà nước giao, vì vậy cơ chế quản lý tài chính của đơn vị hành chính sự nghiệp khác biệt so với khu vực doanh nghiệp nên quyết định tài chính phải gắn với yêu cầu phục vụ cộng đồng và tuân thủ kỷ luật ngân sách. Nguồn tài chính của đơn vị hành chính sự nghiệp mang tính đa dạng nhưng vẫn phụ thuộc đáng kể vào ngân sách nhà nước. Bên cạnh kinh phí do ngân sách cấp, nhiều đơn vị còn có các nguồn thu hợp pháp khác như phí, lệ phí, thu từ hoạt động dịch vụ sự nghiệp hoặc nguồn viện trợ, tài trợ theo quy định của pháp luật. Cơ cấu nguồn thu này đòi hỏi việc quản lý, hạch toán và kiểm soát tài chính phải bảo đảm tính minh bạch và tuân thủ các quy định của pháp luật về ngân sách, kế toán và quản lý tài sản công. Hoạt động tài chính của đơn vị hành chính sự nghiệp chịu sự kiểm soát chặt chẽ của hệ thống pháp luật và các cơ quan giám sát nhà nước. Việc lập dự toán, chấp hành và quyết toán ngân sách phải tuân thủ các quy định của pháp luật về ngân sách, đồng thời chịu sự kiểm tra, thanh tra và kiểm toán của các cơ quan có thẩm quyền nhằm bảo đảm việc quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính công, tài sản công được thực hiện đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả. Đơn vị hành chính sự nghiệp gắn liền với quá trình cải cách quản lý tài chính công và đổi mới cơ chế tự chủ. Cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập đều có quy định về cơ chế quản lý tài chính, được giao tự chủ để có thể chủ động trong quá trình hoạt động và quản lý, sử dụng nguồn kinh phí. Sự thay đổi trong cách thức quản lý này làm cho cơ chế quản lý tài chính và kế toán tại các đơn vị hành chính sự nghiệp ngày càng tiệm cận với quản trị hiện đại, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn đối với công tác kiểm toán và giám sát tài chính công. Từ năm 2025, các đơn vị hành chính sự nghiệp áp dụng chế độ kế toán mới cũng là thời điểm sắp xếp lại đơn vị hành chính. Bộ Tài chính đã ban hành các văn bản để hướng dẫn cụ thể việc thực hiện công việc kế toán đảm bảo phù hợp với tình hình thực tế (Công văn số 13749/BTC-NSNN ngày 14/12/2024 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn nguyên tắc xử lý tài sản, tài chính, ngân sách nhà nước trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy; Công văn số 1010/BTC-QLKT ngày 23/01/2025 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn công tác kế toán khi tổ chức thực hiện sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy; Công văn số 2454/BTC-QLCS ngày 28/02/2025 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn xử lý tài sản khi thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy). Trước tình hình đó, Kiểm toán viên nhà nước cần phải hiểu rõ những quy định mới và những tác động đến nội dung kiểm toán để điều chỉnh, thay đổi cách thức kiểm toán nhằm hoàn thành nhiệm vụ và nâng cao chất lượng kiểm toán của Kiểm toán nhà nước. 2. Phương pháp nghiên cứu Tác giả áp dụng phương pháp phân tích và tổng hợp dữ liệu tham khảo từ các hướng dẫn và báo cáo của Bộ Tài chính về triển khai, thực hiện chế độ kế toán theo Thông tư 24/2024/TT-BTC tại các đơn vị hành chính, sự nghiệp và những văn bản của cơ quan tài chính (tại các bộ, ngành) và Sở Tài chính của các địa phương về những khó khăn trong thời gian đầu áp dụng chế độ kế toán mới; tổng hợp thông tin được Bộ Tài chính giải đáp cho các đơn vị hành chính sự nghiệp tại mục “Hỏi đáp chính sách tài chính” trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính (dữ liệu được tổng hợp từ 01/01/2025 đến 01/3/2026) để chỉ ra các điểm mới của Chế độ kế toán hành chính sự nghiệp theo Thông tư 24/2024/TT-BTC so với chế độ kế toán được thay thế và phân tích ảnh hưởng của các điểm mới tới nội dung kiểm toán đơn vị hành chính sự nghiệp của Kiểm toán nhà nước. Từ những ảnh hưởng đó, bài viết sẽ hoàn thiện các nội dung kiểm toán đơn vị hành chính sự nghiệp trong điều kiện áp dụng chế độ kế toán mới. 3. Tổng hợp kết quả nghiên cứu 3.1. Những điểm mới của Chế độ kế toán theo Thông tư 24/2024/TT-BTC ảnh hưởng nội dung kiểm toán đơn vị hành chính, sự nghiệp Thứ nhất, việc mở rộng đối tượng áp dụng của chế độ kế toán mới đã bao quát đầy đủ phạm vi, đối tượng và nội dung của công tác kế toán, qua đó bảo đảm không còn khoảng trống pháp lý khi các đơn vị bắt đầu triển khai thực hiện từ năm 2025. Quy định này góp phần tạo sự phù hợp và thống nhất trong tổ chức thực hiện công tác kế toán tại các đơn vị kế toán khi được giao thực hiện nhiều loại hoạt động khác nhau. Khi áp dụng chung một chế độ kế toán, các đơn vị có điều kiện tổ chức một hệ thống kế toán thống nhất và xây dựng hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin với cơ chế phân quyền phù hợp tại từng đơn vị, giúp việc tổng hợp thông tin của các cơ quan cấp trên thuận lợi, đồng bộ chế độ kế toán cũng góp phần rút ngắn thời gian cung cấp hồ sơ, tài liệu để kiểm toán hiệu quả hơn. Thứ hai, chế độ kế toán mới hướng dẫn cụ thể các mô hình tổ chức hoạt động của các đơn vị, gồm đơn vị kế toán, đơn vị hạch toán phụ thuộc, đầu mối chi tiêu giúp cho các đơn vị có thể áp dụng linh hoạt, phù hợp với tổ chức bộ máy kế toán hiện nay, giải quyết các tồn tại, vướng mắc trong việc tổ chức công tác kế toán tại các các đơn vị có mô hình tổ chức khác nhau, hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán khác nhau ảnh hưởng việc đánh giá và xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp kiểm toán của Kiểm toán nhà nước. Thứ ba, không quy định mẫu chứng từ và mẫu sổ bắt buộc. Các đơn vị được thiết kế mẫu chứng từ, mẫu sổ kế toán phù hợp với các nghiệp vụ kinh tế phát sinh của đơn vị mình mà vẫn cung cấp đầy đủ thông tin phục vụ cho việc hạch toán kế toán tuân thủ các nội dung quy định tại Luật Kế toán. Các đơn vị sẽ linh hoạt hơn trong quá trình ban hành hệ thống chứng từ, hệ thống mẫu sổ kế toán áp dụng tại đơn vị mình phù hợp mục tiêu của đơn vị, tuy nhiên cũng dẫn đến việc các đơn vị trong cùng loại hình, cùng đơn vị, cơ quan quản lý cấp trên quy định hệ thống mẫu chứng từ, hệ thống mẫu sổ kế toán không thống nhất gây khó khăn trong công tác quản lý, đặc biệt là ảnh hưởng việc hướng dẫn, tổng hợp, thực hiện công việc kiểm tra, kiểm toán qua đánh giá hệ thống chứng từ và sổ kế toán mà đơn vị áp dụng. Thứ tư, Chế độ kế toán quy định theo Thông tư 24/2024/TT-BTC đã hệ thống hóa lại các tài khoản kế toán và hướng dẫn hạch toán phù hợp với cơ chế tài chính, Chuẩn mực kế toán công Việt Nam và thực tế hoạt động của các đơn vị. Bổ sung các nguyên tắc hạch toán của các tài khoản trong đó hướng dẫn cụ thể các nguyên tắc ghi nhận doanh thu, chi phí; khắc phục tồn tại trong việc kế toán nhận kinh phí và theo dõi nguồn mua sắm tài sản công, hàng tồn kho, nguồn cải cách tiền lương của đơn vị, kinh phí được chuyển năm sau, điều chỉnh số liệu kế toán… Đảm bảo việc ghi chép kế toán được thực hiện thống nhất và số liệu báo cáo tài chính được trình bày đầy đủ, phù hợp. Bổ sung hướng dẫn hạch toán và đối chiếu công nợ phải thu, phải trả của đơn vị kế toán, hạch toán tỷ giá phù hợp với quy định; sửa đổi một số nội dung liên quan đến hạch toán các nghiệp vụ phát sinh trong hoạt động liên doanh, liên kết; hạch toán ghi nhận doanh thu, chi phí, các quỹ; hướng dẫn hạch toán chi phí xây dựng cơ bản chờ phê duyệt quyết toán để đảm bảo việc trình bày tài sản trên báo cáo tài chính chính xác, đầy đủ. Sửa đổi và hướng dẫn hạch toán tài khoản ngoại bảng “Dự toán viện trợ không hoàn lại” để phù hợp với quản lý vốn viện trợ hiện nay. Cập nhật thêm các hướng dẫn hạch toán liên quan đến tiếp nhận kinh phí ủy quyền, ủy thác để chi trả cho các đối tượng có liên quan theo quy định; hướng dẫn hạch toán mua sắm tài sản cố định, vật tư, nguyên liệu của đơn vị kế toán cấp trên để cấp phát cho các đơn vị kế toán (theo ngành dọc); hướng dẫn hạch toán các khoản dự phòng áp dụng cho đơn vị sự nghiệp công lập và đơn vị khác có hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ theo quy định; hướng dẫn kế toán tài sản thuê, mượn, đặt máy, tài sản đặc thù… theo quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng tài sản công. Hướng dẫn hạch toán hàng dự trữ quốc gia cho các đơn vị thuộc các bộ, ngành được giao quản lý; kế toán tài sản kết cấu hạ tầng nói chung (trong đó có tài sản kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi), trừ tài sản kết cấu hạ tầng được tính thành phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp; kế toán của ban quản lý dự án phù hợp với cơ chế tài chính và mô hình hoạt động hiện nay (là đơn vị sự nghiệp công lập). Đây là thay đổi lớn nhất của chế độ kế toán mới, giúp kiểm toán viên có đầy đủ căn cứ để đưa ra các ý kiến đảm bảo có sơ sở pháp lý, phản ánh trung thực, đúng bản chất các chỉ tiêu và thông tin kế toán cung cấp, không như trước đây, đôi khi kiểm toán viên phải đưa ra các ý kiến xác nhận bị phụ thuộc vào quan điểm còn có nhiều tranh cãi. Thứ năm, về báo cáo quyết toán. Thông tư 24/2024/TT-BTC quy định 5 mẫu biểu quyết toán kinh phí hoạt động, quy định rõ nội dung mẫu biểu và việc lập các chỉ tiêu báo cáo trong từng mẫu biểu để đảm bảo đầy đủ thông tin, thống nhất việc lập báo cáo. Bổ sung thêm một số chỉ tiêu báo cáo theo đề nghị của các đơn vị chức năng có liên quan để đảm bảo đầy đủ thông tin trên báo cáo, hướng dẫn rõ về việc lập báo cáo quyết toán đối với các trường hợp đơn vị ngân sách cấp trên và ngân sách cấp dưới hỗ trợ qua lại và cấp kinh phí ủy quyền, để có đầy đủ số liệu tổng hợp quyết toán ngân sách. Những thay đổi này yêu cầu cần mở rộng nội dung kiểm toán, không chỉ kiểm tra tổng số kinh phí quyết toán mà còn đánh giá tính đầy đủ, chính xác của từng chỉ tiêu báo cáo theo mẫu biểu mới, đòi hỏi cần phải đối chiếu số liệu giữa báo cáo quyết toán với sổ kế toán, chứng từ kế toán và dữ liệu trên hệ thống kế toán, đặc biệt đối với các chỉ tiêu có thay đổi do điều chỉnh tài khoản và phương pháp hạch toán như doanh thu, chi phí, nợ phải trả, tài sản thuần và các khoản dự phòng mới bảo đảm tính trung thực, đầy đủ và nhất quán của thông tin quyết toán ngân sách tại đơn vị. Thứ sáu, về báo cáo tài chính. Quy định thống nhất một mẫu biểu báo cáo lưu chuyển tiền tệ (theo phương pháp trực tiếp) tạo thuận lợi trong công tác kế toán cũng như kiểm tra, đánh giá. Trong hệ thống mẫu biểu có 02 mẫu biểu thuyết minh chi tiết số liệu tài sản kết cấu hạ tầng đơn vị được giao trực tiếp quản lý nhưng không trực tiếp khai thác, sử dụng (Mẫu B04a/BCTC) và báo cáo về những thay đổi trong tài sản thuần (B05/ BCTC), mẫu thuyết minh báo cáo tài chính cụ thể, chi tiết đến 18 trang, sẽ cung cấp nhiều thông tin chi tiết, kịp thời. Quy định các trường hợp được điều chỉnh hồi tố số liệu vào số dư đầu năm trước đã trình bày trên báo cáo tài chính, nghiêm cấm đơn vị tự ý làm thay đổi thông tin, số liệu trình bày trên báo cáo tài chính đã được nộp cho cơ quan có thẩm quyền hoặc báo cáo tài chính đã được công khai theo quy định giúp kiểm toán viên có thể kiểm tra đánh giá các trường hợp vi phạm khi kiểm tra thấy số liệu trên báo cáo tài chính đơn vị cung cấp và báo cáo tài chính đã nộp có chênh lệch, từ đó đánh giá, kiến nghị đơn vị phải chỉnh sửa khi phát hiện sai sót theo quy định tại Thông tư 24/2024/ TT-BTC. Thứ bảy, về in, sắp xếp, đóng để lưu trữ tài liệu kế toán và ứng dụng công nghệ thông tin. Quy định và hướng dẫn rất cụ thể, chi tiết, rõ ràng về cách lưu trữ hồ sơ, tài liệu kế toán đảm bảo thống nhất trong quá trình thực hiện theo đúng quy định của pháp luật kế toán. Việc quy định về sử dụng phần mềm kế toán và các yêu cầu đối với phần mềm kế toán tại đơn vị đảm bảo chất lượng công tác kế toán và số liệu các báo cáo, sử dụng chứng từ điện tử và phần mềm kế toán hiện đại tuân thủ đầy đủ quy trình, nghiệp vụ kế toán đảm bảo tính bảo mật, an toàn. Đây là thay đổi giúp cho việc sử dụng phần mềm kế toán được thống nhất, tránh việc áp dụng phần mềm kế toán mỗi đơn vị trong cùng phạm vi quản lý của cơ quan cấp trên lại do một bên khác nhau cung cấp, không đồng nhất với nhau, mẫu biểu khác nhau, gây khó khăn trong quá trình thực hiện. Với những quy định mới này, việc thực hiện kiểm toán sẽ thuận tiện hơn khi khai thác dữ liệu của đơn vị được kiểm toán. Bước cung cấp hồ sơ tài liệu cho Kiểm toán nhà nước khoa học, dễ tìm kiếm so với trước đây, kịp thời loại bỏ dần lý do đơn vị trì hoãn việc cung cấp tài liệu là “chưa tìm thấy hồ sơ, tài liệu kế toán”. Thứ tám, về chuyển đổi số dư. Sau khi khóa sổ kế toán lập báo cáo tài chính năm 2024, đơn vị phải thực hiện chuyển đổi số dư sang tài khoản mới theo quy định tại Thông tư 24/2024/TT-BTC. Số dư đầu năm 2025 trên báo cáo tình hình tài chính và thuyết minh báo cáo tài chính cho phần báo cáo tình hình tài chính được áp dụng hồi tố sau khi kết chuyển số dư từ năm 2024 sang. Cuối năm 2024 và năm 2025 là thời điểm cả nước thực hiện sắp xếp lại đơn vị hành chính, Bộ Tài chính đã có các văn bản hướng dẫn cụ thể việc chuyển đổi số dư, bàn giao ở các thời điểm các đơn vị giải thể, chia tách, sáp nhập. Việc hướng dẫn cụ thể, rõ ràng như thế này giúp cho các đơn vị dễ áp dụng trong quá trình chuyển đổi. Kiểm toán viên có căn cứ để kiểm tra, xác định và làm rõ thời điểm chốt số liệu về tài sản, tài chính, ngân sách nhà nước, kế toán của các đơn vị để xử lý, bàn giao, tiếp nhận và tiếp tục theo dõi, quản lý, hạch toán kế toán. 3.2. Một số lưu ý nhằm hoàn thiện nội dung kiểm toán đơn vị hành chính, sự nghiệp trong bối cảnh áp dụng chế độ kế toán mới theo Thông tư 24/2024/TT-BTC Thứ nhất, Kiểm toán nhà nước cần đánh giá xem các đơn vị hành chính sự nghiệp là đơn vị kế toán (có hay không có đơn vị hạch toán phụ thuộc và đầu mối chi tiêu) hay chỉ là đơn vị hạch toán phụ thuộc và đầu mối chi tiêu. Từ khâu thu thập thông tin để lập kế hoạch kiểm toán đến quá trình triển khai thực hiện kiểm toán thì kiểm toán viên phải đánh giá chuẩn xác để từ đó lựa chọn đơn vị kiểm toán chi tiết phù hợp. Thứ hai, hoàn thiện nội dung kiểm toán gắn với đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ và tổ chức công tác kế toán khi chuyển đổi chế độ kế toán mới. Hoàn thiện theo hướng xem xét cả điều kiện tổ chức thực hiện của đơn vị từ việc ban hành quy trình nội bộ, phân công trách nhiệm giữa kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết, việc cập nhật phần mềm, chuyển đổi tài khoản, khóa sổ, lưu trữ hồ sơ và kiểm tra nội bộ trước khi lập báo cáo. Kiểm toán viên có trách nhiệm đánh giá xem sai sót phát sinh là sai sót đơn lẻ hay là hệ quả của khiếm khuyết hệ thống. Nếu chỉ dừng ở việc nêu ra sai sót số liệu mà không chỉ ra nguyên nhân quản trị, kiểm toán sẽ khó tạo ra giá trị cải thiện dài hạn. Vì vậy, Kiểm toán viên cần mở rộng trọng tâm từ “kiểm tra kết quả cuối cùng” sang “đánh giá quy trình hình thành số liệu”, từ đó kiến nghị trúng hơn về hoàn thiện kiểm soát nội bộ, chuẩn hóa quy trình kế toán và nâng cao năng lực cán bộ kế toán tại đơn vị hành chính sự nghiệp. Đây là trách nhiệm nghề nghiệp quan trọng để Kiểm toán nhà nước không chỉ phát hiện sai phạm, mà còn góp phần phòng ngừa sai sót trong bối cảnh chuyển đổi chế độ kế toán. Thứ ba, lưu ý đánh giá về công tác xử lý tài chính công, tài sản công khi thực hiện sắp xếp để chuyển tiếp số liệu trên hệ thống sổ sách kế toán, kiểm tra việc các đơn vị thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính tại Công văn số 13749/BTC-NSNN ngày 14/12/2024, Công văn số 1010/BTC-QLKT ngày 23/01/2025 và Công văn số 2454/BTC-QLCS ngày 28/02/2025. * Đối với số các đơn vị không thực hiện sắp xếp lại đơn vị hành chính: Kiểm tra việc chuyển đổi số dư của các tài khoản kế toán từ cuối năm 2024 sang đầu năm 2025 có đúng theo hướng dẫn của Thông tư 24/2024/TT-BTC (Phụ lục số VI), chuyển đổi nhầm lẫn ở chỉ tiêu nào cần chỉ ra và yêu cầu đơn vị chỉnh sửa phù hợp, đặc biệt đánh giá ảnh hưởng tới tình hình tài chính đơn vị phản ánh trong năm 2025 để kiểm tra chi tiết hơn các khoản mục có liên quan bị ảnh hưởng. * Đối với các đơn vị thực hiện sắp xếp lại: Ngoài việc kiểm tra việc chuyển đổi số dư của các tài khoản kế toán như đối với các đơn vị không tiến hành sắp xếp, cần kiểm tra thời điểm chốt số liệu về tài sản, tài chính, ngân sách, kế toán của đơn vị khi bàn giao, tiếp nhận đơn vị có thực hiện kiểm kê tài sản, tài chính, ngân sách theo chế độ quy định vào thời điểm chính thức sắp xếp lại; có lập đầy đủ hồ sơ và đối chiếu với kết quả kiểm kê vào thời điểm gần nhất để xác định tính chính xác, đầy đủ, thống nhất, liên tục của các số liệu, tài liệu kiểm kê; cũng như có phương án điều chỉnh, xử lý sai sót, chênh lệch cho phù hợp, từ đó đưa ra ý kiến đánh giá trung thực, hợp lý và khách quan. Thứ tư, kiểm toán viên cần lưu ý đánh giá các nội dung công việc thuộc trách nhiệm của các bộ phận có liên quan về việc tập hợp, thu thập đầy đủ các chứng từ kế toán và hồ sơ, tài liệu, số liệu liên quan đến các khoản chi tiêu phát sinh cho hoạt động của đơn vị theo từng nguồn kinh phí. Kiểm tra từng tài khoản phản ánh tình hình tài sản, nguồn vốn làm căn cứ lập các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính; việc nộp đầy đủ các khoản phải nộp vào ngân sách; hoàn trả các khoản đã rút tạm ứng kinh phí ngân sách nhà nước về quỹ tiền mặt nhưng chưa sử dụng hết, có đối chiếu công nợ, lập biên bản ghi rõ lý do, yêu cầu các tổ chức, cá nhân đến xác nhận lại công nợ để đơn vị tiếp tục theo dõi, thu hồi theo quy định, tránh thất thoát tiền, tài sản và các nguồn lực của Nhà nước hay không. Thứ năm, hoàn thiện nội dung kiểm toán đối với công tác lập và trình bày báo cáo quyết toán. Nội dung kiểm toán cần được hoàn thiện theo hướng không chỉ kiểm tra tính đúng đắn số học của báo cáo mà còn phải đánh giá đầy đủ logic lập báo cáo, căn cứ ghi nhận từng chỉ tiêu, sự nhất quán giữa báo cáo quyết toán với sổ kế toán, chứng từ, dự toán được giao và báo cáo tài chính. Không dừng lại ở việc phát hiện chênh lệch số liệu, mà phải xác định nguyên nhân sai lệch do hạch toán sai, phân loại sai nguồn kinh phí, ghi nhận chưa đúng thời điểm hay do đơn vị chưa nắm được chế độ mới. Kiểm toán viên chủ động cập nhật mẫu biểu mới, hiểu được mối liên hệ giữa các chỉ tiêu và xây dựng thủ tục kiểm toán phù hợp với từng loại đơn vị để vừa kiểm tra tính trung thực của số liệu, vừa đánh giá được mức độ tuân thủ kỹ thuật lập báo cáo theo chế độ kế toán mới. Thứ sáu, hoàn thiện nội dung kiểm toán về phân loại, hạch toán và quyết toán các nguồn kinh phí. Nội dung kiểm toán phải chuyển từ cách tiếp cận “kiểm tra chi tiêu” sang cách tiếp cận sâu hơn là “kiểm tra bản chất nguồn lực tài chính công”. Tập trung làm rõ đơn vị đã xác định đúng nguồn, hạch toán riêng từng nguồn, có tình trạng dùng sai nguồn, quyết toán lẫn giữa nguồn tự chủ và không tự chủ, giữa nguồn giao dự toán và nguồn tiếp nhận hỗ trợ không. Đối với kinh phí được cấp có tính chất ủy quyền hoặc hỗ trợ chéo giữa các cấp ngân sách cần phải truy xét được đường đi của kinh phí, đánh giá tính hợp pháp của căn cứ giao, mức độ phù hợp trong hạch toán và nguy cơ trùng lặp hoặc bỏ sót khi tổng hợp quyết toán. Đây là khâu rất dễ phát sinh sai sót khi áp dụng chế độ mới. Kiểm toán viên cần nâng cao năng lực phân tích ngân sách, am hiểu mục lục ngân sách, nắm chắc chế độ tự chủ và có khả năng đối chiếu liên thông giữa hồ sơ dự toán, quyết định giao kinh phí, sổ kế toán và báo cáo quyết toán. Thứ bảy, hoàn thiện nội dung kiểm toán theo hướng tăng cường kiểm tra tính liên thông giữa báo cáo quyết toán và báo cáo tài chính. Phải nhìn nhận hai hệ thống báo cáo trong mối quan hệ hữu cơ, đối chiếu giữa số liệu kinh phí đã nhận, đã sử dụng, tạm ứng, công nợ, tài sản hình thành từ kinh phí và kết quả trình bày trên các báo cáo có liên quan; phát hiện những trường hợp quyết toán đúng hình thức nhưng chưa phản ánh đầy đủ bản chất tài chính và ngược lại. Kiểm toán viên phải là người kiểm tra tính nhất quán của toàn bộ hệ thống thông tin kế toán nên cần nâng cao năng lực đọc hiểu các chỉ tiêu báo cáo tài chính khu vực công, hiểu quan hệ giữa tài khoản kế toán với từng chỉ tiêu báo cáo và biết sử dụng thủ tục phân tích để phát hiện rủi ro bất thường. Đây là điều kiện quan trọng để nâng cao độ tin cậy của kết luận kiểm toán trong bối cảnh chế độ kế toán mới ngày càng chú trọng chuẩn hóa và minh bạch thông tin. Thứ tám, nâng cao trách nhiệm nghề nghiệp của Kiểm toán viên nhà nước trong cập nhật quy định, chế độ mới, ứng dụng công nghệ và đưa ra kiến nghị kiểm toán có tính khả thi. Kiểm toán viên cần nắm vững sự khác biệt giữa quy định cũ và mới, nhận diện đúng các rủi ro chuyển đổi chế độ, biết sử dụng dữ liệu kế toán điện tử để đối chiếu, chọn mẫu và phân tích biến động. Trong điều kiện nhiều đơn vị hành chính sự nghiệp sử dụng phần mềm kế toán, kiểm toán viên cần kiểm tra tính tin cậy của dữ liệu đầu ra, không chỉ dựa vào bản in báo cáo giấy mà đơn vị cung cấp. Kết luận, kiến nghị kiểm toán phải thay đổi theo hướng cụ thể, khả thi và mang tính hướng dẫn hệ thống hơn. Kết luận Tóm lại, từ những lưu ý trên, để hoàn thiện nội dung kiểm toán đơn vị hành chính sự nghiệp và nâng cao chất lượng kiểm toán trong bối cảnh đơn vị hành chính sự nghiệp áp dụng chế độ kế toán mới từ năm 2025 cũng là thời điểm cả nước sắp xếp đơn vị hành chính, Kiểm toán nhà nước cần nâng cao năng lực chuyên môn của kiểm toán viên thông qua tổ chức đào tạo chuyên sâu về chế độ kế toán mới, tăng cường cập nhật kiến thức và kỹ năng phân tích dữ liệu; đổi mới phương pháp kiểm toán, tăng cường kiểm toán dựa trên đánh giá rủi ro; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và phân tích dữ liệu trong kiểm toán; tăng cường phối hợp giữa cơ quan kiểm toán và đơn vị hành chính sự nghiệp từ đó hỗ trợ các đơn vị trong quá trình chuyển đổi chế độ kế toán, nâng cao chất lượng hệ thống kiểm soát nội bộ và quản lý tài chính tại đơn vị thông qua các ý kiến và kiến nghị kiểm toán kịp thời, hiệu quả. Tài liệu tham khảo 1. Quốc hội (2015), Luật Kế toán số 88/2015/QH13, ban hành ngày 20/11/2015; 2. Quốc hội (2019), Luật Kiểm toán nhà nước, Luật số 81/2015/QH13, được sửa đổi, bổ sung năm 2019; 3. Bộ Tài chính (2024), Thông tư số 24/2024/TT-BTC ngày 17/4/2024 hướng dẫn Chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp (Văn bản này thay thế các Thông tư 107/2017/TT-BTC, 108/2018/TT-BTC, 76/2019/TT-BTC và 79/2019/TT-BTC, có hiệu lực từ 01/01/2025, Thông tư 70/2019/TT-BTC); 4. Kiểm toán nhà nước (2024), Quyết định số 08/2024/QĐ-KTNN ngày 15/11/2024 ban hành Hệ thống chuẩn mực kiểm toán nhà nước, có hiệu lực từ ngày 30/12/2024; 5. Kiểm toán nhà nước (2025), Quy trình kiểm toán của Kiểm toán nhà nước, ban hành kèm theo Quyết định số 10/2025/QĐ-KTNN ngày 03/3/2025 của Tổng Kiểm toán nhà nước. Ngày nhận bài: 04/3/2026 Ngày biên tập: 06/3/2026 Ngày duyệt đăng: 10/4/2026 Tác giả: Nguyễn Thị Thu Trung Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán Email:nguyenthutrungktnn@gmail.com (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, số tháng 4/2026)

Tác động của tăng trưởng kinh tế tới ô nhiễm môi trường thông qua các kênh tài chính và năng lượng: bằng chứng quốc tế và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và ô nhiễm môi trường đã trở thành một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu. Quá trình mở rộng sản xuất và gia tăng tiêu thụ năng lượng, đặc biệt là năng lượng hóa thạch, đã góp phần làm gia tăng đáng kể lượng phát thải khí nhà kính. Tuy nhiên, ở các giai đoạn phát triển cao hơn, tăng trưởng kinh tế có thể tạo điều kiện cải thiện chất lượng môi trường thông qua đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng bền vững. Trên cơ sở đó, nghiên cứu này tập trung phân tích tác động của tăng trưởng kinh tế đến phát thải CO2 bình quân đầu người, đồng thời xem xét vai trò của các kênh truyền dẫn quan trọng như phát triển tài chính, độ mở thương mại và năng lượng. Thông qua việc đánh giá các yếu tố này, nghiên cứu nhằm làm rõ cơ chế tác động giữa tăng trưởng và môi trường trong bối cảnh các nền kinh tế có mức độ phát triển khác nhau. Bên cạnh đó, nghiên cứu tiến hành so sánh sự khác biệt giữa nhóm quốc gia phát triển và đang phát triển, từ đó rút ra các hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy tăng trưởng theo hướng xanh, tăng cường sử dụng năng lượng sạch và hướng tới phát triển bền vững, đặc biệt đối với Việt Nam. Từ khóa: Tăng trưởng kinh tế, ô nhiễm môi trường, CO2, tài chính, năng lượng tái tạo, phát triển bền vững. Impact of economic growth on environmental pollution through financial, energy and trade channels: International evidence and lessons for Vietnam In the context of increasing globalization and climate change, the nexus between economic growth and environmental pollution is a primary global concern. The expansion of production and increased energy consumption, especially of fossil fuels, has contributed significantly to the increase in greenhouse gas emissions. However, at higher stages of development, economic growth can facilitate improvements in environmental quality through technological innovation, enhanced energy efficiency and a sustainable economic restructuring. This study analyzes the impact of growth on per capita CO2 emissions, considering the roles of financial development, trade openness and energy channels. By evaluating these factors, the study aims to clarify the mechanisms of interaction between growth and the environment in the context of economies with different levels of development. In addition, the study compares the differences between developed and developing countries and draws policy implications for green growth and clean energy adoption in Vietnam. Keywords: Economic growth, environmental pollution, CO_2, finance, renewable energy, sustainable development. JEL classification: O44, Q43, Q56, G23 https://doi.org/10.65771/ati-jas.04202605 1. Đặt vấn đề Trong bối cảnh toàn cầu hóa và tăng trưởng kinh tế diễn ra mạnh mẽ, mối quan hệ giữa tăng trưởng và ô nhiễm môi trường ngày càng trở thành một trong những vấn đề trung tâm trong nghiên cứu và hoạch định chính sách. Mặc dù tăng trưởng kinh tế góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống, quá trình này đồng thời tạo ra áp lực đáng kể lên môi trường thông qua gia tăng tiêu thụ năng lượng, đặc biệt là năng lượng hóa thạch và kéo theo sự gia tăng phát thải khí nhà kính. Trong đó, phát thải CO2 được xem là chỉ tiêu quan trọng phản ánh mức độ ô nhiễm gắn liền với hoạt động kinh tế. Các nghiên cứu trước đây, đặc biệt dựa trên khung lý thuyết Đường cong Kuznets môi trường (EKC), cho thấy mối quan hệ phi tuyến giữa tăng trưởng kinh tế và ô nhiễm môi trường, trong đó ô nhiễm có xu hướng gia tăng ở giai đoạn đầu và giảm dần khi thu nhập đạt mức cao hơn. Tuy nhiên, bằng chứng thực nghiệm vẫn chưa thống nhất, đặc biệt khi so sánh giữa các quốc gia có trình độ phát triển khác nhau. Các quốc gia phát triển thường kiểm soát ô nhiễm hiệu quả hơn nhờ vào công nghệ tiên tiến và hệ thống chính sách chặt chẽ, trong khi các quốc gia đang phát triển vẫn phải đối mặt với sự đánh đổi giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường. Xuất phát từ thực tế đó, nghiên cứu này tập trung phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát thải CO2 trên dữ liệu của 28 quốc gia trong giai đoạn 2006-2024, đồng thời xem xét sự khác biệt giữa nhóm nước phát triển và đang phát triển. Bên cạnh việc đánh giá tác động trực tiếp của tăng trưởng kinh tế, nghiên cứu còn chú trọng làm rõ vai trò của các kênh truyền dẫn quan trọng như tài chính và năng lượng trong việc định hình mối quan hệ này. Cụ thể, phát triển tài chính có thể tác động đến môi trường theo hai chiều: vừa thúc đẩy mở rộng sản xuất và gia tăng phát thải, vừa có khả năng hỗ trợ đầu tư vào công nghệ sạch và cải thiện chất lượng môi trường. Đồng thời, cơ cấu và hiệu quả sử dụng năng lượng được xem là yếu tố then chốt quyết định mức độ phát thải, đặc biệt trong bối cảnh chuyển dịch từ năng lượng hóa thạch sang năng lượng tái tạo. Việc xem xét đồng thời các yếu tố này không chỉ giúp làm rõ cơ chế tác động giữa tăng trưởng và môi trường mà còn góp phần lý giải sự khác biệt giữa các nhóm quốc gia. Trên cơ sở đó, nghiên cứu hướng tới việc đề xuất các hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng bền vững, tăng cường sử dụng năng lượng sạch và nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường, đặc biệt đối với Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng. 2. Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyết Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và ô nhiễm môi trường là một trong những chủ đề trung tâm của kinh tế học môi trường trong nhiều thập kỷ qua. Về mặt lý thuyết, tăng trưởng kinh tế phản ánh sự gia tăng sản lượng và thu nhập, thường được đo lường thông qua GDP hoặc GDP bình quân đầu người. Tuy nhiên, quá trình này đồng thời tạo ra áp lực lớn lên môi trường thông qua gia tăng tiêu thụ năng lượng, khai thác tài nguyên và phát thải chất ô nhiễm. Khung lý thuyết phổ biến nhất để phân tích mối quan hệ này là giả thuyết Đường cong Kuznets môi trường (Environmental Kuznets Curve - EKC). Theo đó, mối quan hệ giữa thu nhập và ô nhiễm môi trường có dạng phi tuyến hình chữ U ngược: ở giai đoạn đầu phát triển, tăng trưởng kinh tế làm gia tăng ô nhiễm do công nghiệp hóa và tiêu dùng tăng; tuy nhiên, khi thu nhập đạt đến một ngưỡng nhất định, ô nhiễm có xu hướng giảm nhờ tiến bộ công nghệ, thay đổi cơ cấu kinh tế và chính sách môi trường hiệu quả hơn. Dù được kiểm định rộng rãi, các bằng chứng thực nghiệm về EKC vẫn chưa thống nhất, đặc biệt giữa nhóm nước phát triển và đang phát triển. Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy ba hướng tác động chính. Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế có thể làm gia tăng ô nhiễm trong giai đoạn đầu do mở rộng sản xuất, sử dụng năng lượng hóa thạch và gia tăng phát thải. Thứ hai, tăng trưởng có thể góp phần cải thiện môi trường khi đi kèm với đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả năng lượng và tăng cường thể chế môi trường. Thứ ba, nhiều nghiên cứu gần đây chỉ ra mối quan hệ phi tuyến và không đối xứng, phụ thuộc vào cấu trúc kinh tế, mức độ đô thị hóa, toàn cầu hóa và chất lượng thể chế. Về phương pháp đo lường, tăng trưởng kinh tế thường được đại diện bởi GDP hoặc GDP bình quân đầu người, trong khi ô nhiễm môi trường được đo lường thông qua các chỉ số trực tiếp như chất lượng không khí (AQI), ô nhiễm nước hoặc các chỉ số tổng hợp. Tuy nhiên, trong các nghiên cứu kinh tế thực nghiệm, phát thải CO2 được sử dụng phổ biến nhất như một biến đại diện cho ô nhiễm môi trường do phản ánh tương đối đầy đủ áp lực môi trường gắn với hoạt động kinh tế và có tính sẵn có cao trong dữ liệu quốc tế. Bên cạnh các cách tiếp cận truyền thống, các nghiên cứu gần đây nhấn mạnh vai trò của các kênh truyền dẫn trung gian, đặc biệt là kênh tài chính, kênh năng lượng và kênh thương mại trong việc định hình mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và ô nhiễm môi trường. Về mặt lý thuyết, kênh tài chính được lý giải thông qua vai trò của hệ thống tài chính trong phân bổ nguồn lực và thúc đẩy đầu tư. Sự phát triển tài chính có thể làm gia tăng ô nhiễm thông qua việc mở rộng tín dụng, kích thích sản xuất và tiêu dùng, từ đó làm tăng nhu cầu năng lượng và phát thải. Đối với kênh năng lượng, lý thuyết kinh tế môi trường chỉ ra rằng cơ cấu năng lượng và hiệu quả sử dụng năng lượng là yếu tố quyết định trực tiếp đến mức độ ô nhiễm. Các nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào năng lượng hóa thạch thường có mức phát thải CO2 cao hơn, trong khi việc gia tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo và cải thiện cường độ năng lượng (energy intensity) có thể làm giảm đáng kể tác động tiêu cực đến môi trường. Ngoài ra, toàn cầu hóa và độ mở thương mại cũng có thể ảnh hưởng gián tiếp thông qua việc dịch chuyển các ngành thâm dụng năng lượng và phát thải giữa các quốc gia. Đối với kênh thương mại, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, cần xây dựng các chính sách thương mại gắn với tiêu chuẩn môi trường. Việc tăng cường kiểm soát đối với các ngành thâm dụng năng lượng và phát thải cao, đồng thời khuyến khích xuất khẩu các sản phẩm thân thiện với môi trường, sẽ giúp hạn chế tác động tiêu cực từ hiệu ứng “thiên đường ô nhiễm”. Ngoài ra, cần tận dụng thương mại quốc tế như một kênh tiếp cận công nghệ sạch và nâng cao tiêu chuẩn sản xuất trong nước. Từ góc độ tích hợp, việc xem xét đồng thời tăng trưởng kinh tế cùng với các yếu tố tài chính và năng lượng cho phép mở rộng khung phân tích EKC theo hướng đa chiều hơn, phản ánh đầy đủ các cơ chế tác động trong bối cảnh toàn cầu hóa và biến đổi khí hậu. Cách tiếp cận này cũng giúp giải thích rõ hơn sự khác biệt trong kết quả thực nghiệm giữa các nhóm quốc gia, khi mà cùng một mức tăng trưởng nhưng mức độ ô nhiễm có thể khác nhau đáng kể do khác biệt về phát triển tài chính, cơ cấu năng lượng và năng lực công nghệ. Từ tổng quan lý thuyết và thực nghiệm, có thể thấy rằng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và ô nhiễm môi trường không mang tính tuyến tính đơn giản mà phụ thuộc vào nhiều yếu tố trung gian. Điều này đặt ra yêu cầu cần kiểm định thực nghiệm trong từng bối cảnh cụ thể nhằm làm rõ cơ chế tác động và đề xuất các chính sách phù hợp cho Việt Nam. 3. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu này được thực hiện dựa trên cách tiếp cận định lượng kết hợp với phân tích kinh tế nhằm làm rõ mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát thải CO2, đồng thời xem xét vai trò của các kênh truyền dẫn trung gian như tài chính, năng lượng và thương mại. Trên cơ sở khung lý thuyết về tăng trưởng kinh tế và môi trường, nghiên cứu lựa chọn hệ thống các biến đại diện phù hợp. Cụ thể, phát thải CO2 bình quân đầu người được sử dụng để phản ánh mức độ ô nhiễm môi trường, trong khi GDP bình quân đầu người đại diện cho tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, các yếu tố như phát triển tài chính, độ mở thương mại, cơ cấu năng lượng và bất ổn năng lượng được đưa vào phân tích nhằm phản ánh các kênh tác động khác nhau đến môi trường. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ các nguồn thứ cấp đáng tin cậy như Ngân hàng Thế giới và các tổ chức quốc tế trong giai đoạn 2006-2024. Trên cơ sở dữ liệu này, nghiên cứu tiến hành phân tích xu hướng, so sánh và đánh giá sự biến động của các biến theo thời gian và giữa các quốc gia, từ đó làm rõ đặc điểm và chiều hướng tác động giữa tăng trưởng kinh tế và ô nhiễm môi trường. Bên cạnh đó, các phương pháp phân tích dữ liệu bảng được sử dụng như một công cụ hỗ trợ nhằm củng cố các nhận định từ phân tích. Nghiên cứu cũng xem xét các đặc điểm của dữ liệu như sự khác biệt giữa các quốc gia và biến động theo thời gian, qua đó áp dụng các phương pháp xử lý phù hợp nhằm đảm bảo độ tin cậy của kết quả. Việc sử dụng các kỹ thuật ước lượng thích hợp giúp hạn chế các sai lệch tiềm ẩn trong dữ liệu và nâng cao tính vững của các kết luận nghiên cứu. 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận Kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại mối quan hệ phi tuyến dạng chữ U ngược giữa GDP bình quân đầu người và phát thải CO2, qua đó khẳng định sự phù hợp của Đường cong Kuznets môi trường (EKC) trong bối cảnh nghiên cứu. Xét về bản chất kinh tế, kết quả này phản ánh sự vận động đồng thời của ba hiệu ứng chính gồm hiệu ứng quy mô, hiệu ứng cơ cấu và hiệu ứng kỹ thuật. Trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển, tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào mở rộng sản xuất và gia tăng tiêu thụ năng lượng, đặc biệt là năng lượng hóa thạch, dẫn đến sự gia tăng phát thải CO2. Tuy nhiên, khi nền kinh tế đạt đến một mức thu nhập nhất định, xu hướng chuyển dịch sang các ngành ít phát thải hơn, cùng với việc ứng dụng công nghệ sạch và nâng cao tiêu chuẩn môi trường, góp phần làm giảm mức độ ô nhiễm. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu kinh điển như Stern (1996), Dinda (2004) và Cole (2004), đồng thời tương đồng với các nghiên cứu gần đây như Alam và cộng sự (2016) hay Shahbaz & cộng sự (2018). Tuy nhiên, cần lưu ý rằng mối quan hệ này không mang tính tự động, mà phụ thuộc đáng kể vào chất lượng thể chế, trình độ công nghệ và cơ cấu năng lượng của từng quốc gia. Đối với phát triển tài chính, kết quả cho thấy yếu tố này có tác động theo hướng làm gia tăng phát thải CO2. Về mặt kinh tế, điều này phản ánh hiệu ứng mở rộng quy mô khi sự phát triển của hệ thống tài chính giúp gia tăng khả năng huy động và phân bổ vốn, từ đó thúc đẩy đầu tư và tiêu dùng. Trong bối cảnh các hoạt động sản xuất vẫn mang tính thâm dụng năng lượng, dòng vốn có xu hướng chảy vào các ngành phát thải cao, qua đó làm gia tăng ô nhiễm môi trường. Phát hiện này tương đồng với nghiên cứu của Tamazian & cộng sự (2009) và Ozturk & Acaravci (2013). Tuy nhiên, tác động của phát triển tài chính được nhận thấy là mang tính điều kiện, phụ thuộc vào định hướng phân bổ vốn và mức độ phát triển của thị trường tài chính. Điều này hàm ý rằng trong các nền kinh tế đang phát triển, tài chính có thể khuếch đại ô nhiễm, trong khi ở các nền kinh tế phát triển hơn, hệ thống tài chính có thể đóng vai trò hỗ trợ quá trình chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng xanh. Đối với kênh năng lượng, kết quả nghiên cứu cho thấy tác động không đồng nhất giữa các yếu tố đại diện. Cụ thể, việc gia tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo có tác động làm giảm phát thải CO2, phản ánh vai trò quan trọng của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong việc cải thiện chất lượng môi trường. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Apergis & Payne (2010) cũng như Majeed & Luni (2019), nhấn mạnh rằng thay thế năng lượng hóa thạch bằng năng lượng sạch là một trong những giải pháp hiệu quả nhằm giảm phát thải. Ngược lại, bất ổn năng lượng không cho thấy tác động rõ ràng đến phát thải CO2. Điều này có thể được lý giải bởi đây là một chỉ tiêu tổng hợp, chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như cơ cấu ngành, trình độ công nghệ và hiệu quả sử dụng năng lượng, dẫn đến sự khác biệt đáng kể giữa các quốc gia. Kết quả này tương đồng với Sadorsky (2014) và Shahbaz và cộng sự (2013), nhưng khác với Ang (2007), cho thấy tác động của yếu tố năng lượng mang tính điều kiện và phụ thuộc vào bối cảnh cụ thể. Như vậy, có thể thấy rằng chuyển dịch cơ cấu năng lượng đóng vai trò quan trọng hơn so với việc chỉ kiểm soát mức tiêu thụ năng lượng trong việc giảm phát thải CO2. Đối với độ mở thương mại, kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố này có tác động làm gia tăng phát thải CO2 trong bối cảnh nghiên cứu. Về mặt kinh tế, điều này phản ánh hiệu ứng quy mô khi hội nhập thương mại thúc đẩy mở rộng sản xuất, gia tăng lưu chuyển hàng hóa và hoạt động vận tải, từ đó làm tăng tiêu thụ năng lượng và phát thải khí nhà kính. Đồng thời, kết quả này cũng gợi ý sự tồn tại của giả thuyết “thiên đường ô nhiễm”, khi các quốc gia có tiêu chuẩn môi trường thấp có xu hướng thu hút các ngành sản xuất gây ô nhiễm. Phát hiện này phù hợp với các nghiên cứu của Suri & Chapman (1996) và Cole (2004), nhưng khác với Frankel & Rose (2005), khi cho rằng thương mại có thể góp phần cải thiện môi trường thông qua chuyển giao công nghệ và nâng cao tiêu chuẩn sản xuất. Sự khác biệt này cho thấy tác động của thương mại phụ thuộc lớn vào trình độ phát triển, chất lượng thể chế và khả năng hấp thụ công nghệ của từng quốc gia. 5. Khuyến nghị Dựa trên kết quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, năng lượng và phát thải CO2, bài viết đề xuất một số khuyến nghị chính sách nhằm hướng tới mục tiêu tăng trưởng bền vững tại Việt Nam. Thứ nhất, hoàn thiện chính sách năng lượng và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng Kết quả nghiên cứu cho thấy gia tăng hoạt động kinh tế và tiêu thụ năng lượng có xu hướng làm gia tăng phát thải CO2, đặc biệt trong bối cảnh các quốc gia đang phát triển. Do đó, việc xây dựng và thực thi chính sách năng lượng hiệu quả là yếu tố then chốt nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường. Trong thời gian tới, Chính phủ cần tiếp tục hoàn thiện khung chính sách năng lượng theo hướng giảm dần sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và thúc đẩy phát triển các nguồn năng lượng tái tạo như điện gió, điện mặt trời. Đồng thời, cần đẩy mạnh các chương trình tiết kiệm năng lượng, nâng cao nhận thức của người dân và doanh nghiệp về sử dụng năng lượng hiệu quả. Việc kết hợp giữa điều chỉnh cơ cấu năng lượng và cải thiện hành vi tiêu dùng sẽ góp phần giảm áp lực lên môi trường và hệ thống năng lượng quốc gia. Thứ hai, thúc đẩy chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng xanh Kết quả thực nghiệm cho thấy tăng trưởng kinh tế có thể làm gia tăng ô nhiễm trong giai đoạn đầu phát triển, phù hợp với giả thuyết EKC. Điều này đặt ra yêu cầu chuyển đổi từ mô hình tăng trưởng truyền thống sang mô hình tăng trưởng xanh nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Nhà nước cần hoàn thiện các cơ chế, chính sách thúc đẩy kinh tế xanh, bao gồm khuyến khích đầu tư vào công nghệ sạch, áp dụng các công cụ kinh tế như thuế môi trường và tiêu chuẩn khí thải, đồng thời tăng cường phối hợp giữa các bộ, ngành trong triển khai chính sách. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của các chủ thể kinh tế về lợi ích dài hạn của tăng trưởng bền vững. Thứ ba, tăng cường hợp tác quốc tế trong phát triển bền vững Kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm quốc tế cho thấy các quốc gia phát triển có thể giảm phát thải khi đạt mức thu nhập cao nhờ áp dụng công nghệ tiên tiến và chính sách môi trường hiệu quả. Do đó, Việt Nam cần chủ động tăng cường hợp tác quốc tế nhằm tiếp cận nguồn vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý. Việc tham gia các sáng kiến toàn cầu về biến đổi khí hậu và chuyển dịch năng lượng sẽ giúp Việt Nam rút ngắn quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế carbon thấp, đồng thời nâng cao năng lực hoạch định chính sách môi trường trong nước. Thứ tư, thúc đẩy đầu tư vào công nghệ xanh và năng lượng tái tạo Kết quả nghiên cứu cho thấy năng lượng tái tạo có tác động tích cực trong việc giảm phát thải CO2, trong khi hiệu quả sử dụng năng lượng chưa cho thấy tác động rõ ràng về mặt thống kê. Điều này hàm ý rằng việc chuyển đổi cơ cấu năng lượng đóng vai trò quan trọng hơn so với chỉ cải thiện hiệu quả sử dụng năng lượng đơn thuần. Do đó, Chính phủ cần khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ sản xuất sạch, vật liệu thân thiện với môi trường và các dự án năng lượng tái tạo thông qua các chính sách ưu đãi thuế, tín dụng xanh và hỗ trợ tài chính. Đồng thời, cần thúc đẩy hoạt động nghiên cứu - phát triển nhằm nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ môi trường. Thứ năm, thắt chặt quản lý môi trường đối với đầu tư và hoạt động sản xuất Kết quả nghiên cứu cho thấy phát triển tài chính và độ mở thương mại có thể làm gia tăng phát thải CO2 nếu thiếu cơ chế kiểm soát phù hợp. Điều này phản ánh nguy cơ trở thành “thiên đường ô nhiễm” tại các quốc gia đang phát triển. Do đó, Chính phủ cần thắt chặt khung pháp lý trong việc lựa chọn và giám sát các dự án đầu tư, đặc biệt là các dự án có nguy cơ gây ô nhiễm cao. Đồng thời, cần tăng cường kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường của doanh nghiệp và áp dụng các chế tài xử phạt nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm. Việc nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật sẽ góp phần đảm bảo tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường. Tài liệu tham khảo 1. Ang, J. B. (2007). CO₂ emissions, energy consumption, and output in France. Energy Policy, 35(10), 4772–4778. https://doi.org/10.1016/j.enpol.2007.03.032; 2. Apergis, N., & Payne, J. E. (2010). Renewable energy consumption and economic growth. Energy Economics, 32(6), 1392–1397. https://doi.org/10.1016/j.eneco.2010.04.003; 3. Cole, M. A. (2004). Trade, the pollution haven hypothesis and environmental Kuznets curve. Ecological Economics, 48(1), 71–81. https://doi.org/10.1016/j.ecolecon.2003.09.007; 4. Dinda, S. (2004). Environmental Kuznets curve hypothesis: A survey. Ecological Economics, 49(4), 431–455. https://doi.org/10.1016/j.ecolecon.2004.02.011; 5. Frankel, J. A., & Rose, A. K. (2005). Is trade good or bad for the environment? The Review of Economics and Statistics, 87(1), 85–91. https://doi.org/10.1162/0034653053327577; 6. Majeed, M. T., & Luni, T. (2019). Renewable energy, economic growth and CO₂ emissions. Environmental Science and Pollution Research, 26, 1–13. https://doi.org/10.1007/s11356-019- 05032-0; 7. Ozturk, I., & Acaravci, A. (2013). The long-run and causal analysis of energy, growth, openness and financial development on carbon emissions. Energy Economics, 36, 262–267. https://doi. org/10.1016/j.eneco.2012.08.025; 8. Sadorsky, P. (2014). The effect of urbanization on CO₂ emissions. Energy Economics, 41, 147– 153. https://doi.org/10.1016/j.eneco.2013.11.007; 9. Shahbaz, M., Nasir, M. A., & Roubaud, D. (2018). Environmental degradation in France: The effects of FDI, financial development, and energy innovations. Energy Economics, 74, 843–857. https://doi.org/10.1016/j.eneco.2018.07.020; 10. Shahbaz, M., Lean, H. H., & Shabbir, M. S. (2013). Environmental Kuznets curve hypothesis in Pakistan. Energy Policy, 55, 230–239. https://doi.org/10.1016/j.enpol.2012.12.015; 11. Stern, D. I. (1996). Progress on the environmental Kuznets curve? Environment and Development Economics, 1(3), 273–285. https://doi.org/10.1017/S1355770X00000419; 12. Suri, V., & Chapman, D. (1998). Economic growth, trade and energy. Energy Economics, 20(2), 195–216. https://doi.org/10.1016/S0140-9883(97)00033-8; 13. Tamazian, A., Chousa, J. P., & Vadlamannati, K. C. (2009). Does higher economic and financial development lead to environmental degradation? Energy Policy, 37(1), 246–253. https://doi. org/10.1016/j.enpol.2008.08.025. Ngày nhận bài: 12/02/2026 Ngày biên tập: 23/02/2026 Ngày duyệt đăng: 30/3/2026 Tác giả: Bùi Thị Giang Thanh Học viện Ngân hàng Nguyễn Hồng Yến Học viện Ngân hàng Email: 25A4010440@hvnh.edu.vn (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, số tháng 4/2026)

Phát triển kinh tế tư nhân gắn với xây dựng nền công nghiệp tự chủ và hiện đại

Bài viết phân tích vai trò và vị trí của kinh tế tư nhân trong chiến lược xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại ở Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới. Trên cơ sở quan điểm của Đảng về phát triển đồng bộ các thành phần kinh tế, bài viết làm rõ yêu cầu tái định vị kinh tế tư nhân từ một động lực tăng trưởng sang một cấu phần quan trọng của năng lực công nghiệp quốc gia. Phân tích thực trạng cho thấy các điểm nghẽn chủ yếu của khu vực tư nhân ở quy mô, công nghệ, liên kết chuỗi và đổi mới sáng tạo. Từ đó, bài viết đề xuất định hướng hoàn thiện thể chế tương ứng, bảo đảm quyền tài sản, phân bổ nguồn lực theo tín hiệu thị trường, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hình thành các tập đoàn tư nhân công nghiệp đủ mạnh. Phát triển kinh tế tư nhân gắn liền với xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại là yêu cầu chiến lược nhằm nâng cao năng lực nội sinh, sức cạnh tranh và tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế trong kỷ nguyên mới. Từ khóa: Kinh tế tư nhân; công nghiệp tự chủ; công nghiệp hóa, hiện đại hóa; thể chế kinh tế; năng lực nội sinh. Developing the private sector in association with building an autonomous and modern industry This article analyzes the role and position of the private sector in the strategy of building an autonomous and modern industrial base in Vietnam during the new development phase. Based on the Party's viewpoint on the comprehensive development of all economic sectors, it clarifies the requirement to reposition the private sector from a growth driver to a vital component of national industrial capacity. Analysis of the current situation reveals that the main bottlenecks in the private sector lie in scale, technology, supply chain integration and innovation. The paper proposes institutional refinements to secure property rights, market-based resource allocation and the formation of strong private industrial conglomerates. Developing the private economy in conjunction with building an autonomous and modern industrial base is a strategic requirement to enhance the endogenous capacity, competitiveness and independence and self-reliance of the economy in the new era. Keywords: Private economy; autonomous industry; industrialization and modernization; economic institutions; endogenous capacity. JEL classification: P12, O14, O31 https://doi.org/10.65771/ati-jas.04202606 1. Đặt vấn đề Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự dịch chuyển mạnh mẽ của các chuỗi cung ứng toàn cầu, nền kinh tế thế giới đang chứng kiến nhiều biến đổi sâu sắc về cơ cấu sản xuất, công nghệ và quan hệ kinh tế. Cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc, xu hướng chuyển đổi số và kinh tế xanh cũng đặt ra nhiều thách thức mới đối với mỗi quốc gia trong việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và có năng lực cạnh tranh cao. Đối với Việt Nam, một quốc gia đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, những thay đổi này vừa tạo ra cơ hội, vừa đặt ra yêu cầu cấp bách phải nâng tầm nền công nghiệp quốc gia. Muốn vậy, nền kinh tế không thể chỉ dựa vào lợi thế lao động giá rẻ hay vốn đầu tư nước ngoài mà phải chuyển đổi mô hình phát triển sang nền kinh tế dựa trên đổi mới sáng tạo, công nghệ chủ động và hệ sinh thái doanh nghiệp nội địa mạnh. Trước bối cảnh đó, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ mục tiêu chiến lược “đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, nâng cao năng lực chống chịu và thích ứng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Đây không chỉ là bài toán kinh tế thuần túy mà còn là vấn đề then chốt bảo đảm an ninh kinh tế, chủ quyền quốc gia trong điều kiện hội nhập sâu rộng và cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt. Việc xây dựng một nền công nghiệp tự chủ, hiện đại trở thành yêu cầu chiến lược nhằm tạo dựng nguồn lực nội sinh bền vững, giảm thiểu sự phụ thuộc vào công nghệ, nguyên liệu, cũng như các yếu tố bên ngoài có thể gây ảnh hưởng đến ổn định và phát triển kinh tế đất nước. Một điểm nhấn quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam hiện nay là sự phát triển đồng bộ giữa các thành phần kinh tế: Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, trong khi kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các loại hình kinh tế khác giữ vai trò quan trọng (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Tuy nhiên, thực tế cho thấy khu vực kinh tế tư nhân, dù đã có bước phát triển nhanh chóng về số lượng và quy mô, vẫn còn nhiều hạn chế trong việc vươn lên trở thành trụ cột thực sự của nền công nghiệp quốc gia. Khu vực này chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ tạo việc làm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ngắn hạn và đóng góp vào thương mại, dịch vụ nhiều hơn là tham gia sâu và chủ động trong các ngành công nghiệp then chốt, công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ. Do đó, vấn đề đặt ra là cần có sự tái định vị căn bản vai trò của kinh tế tư nhân trong giai đoạn phát triển mới: từ một động lực tăng trưởng sang cấu phần quan trọng trong năng lực công nghiệp quốc gia. Việc này đòi hỏi phải thay đổi tư duy và chiến lược phát triển, không chỉ tập trung vào mở rộng số lượng doanh nghiệp mà phải nâng cao chất lượng, năng lực nội sinh, khả năng làm chủ công nghệ và đổi mới sáng tạo của khu vực tư nhân. Đây cũng đồng thời là yêu cầu bức thiết nhằm hiện thực hóa chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước một cách bền vững, góp phần xây dựng nền kinh tế Việt Nam tự chủ, vững mạnh trước các biến động toàn cầu. Song hành với việc nâng cao năng lực của khu vực tư nhân, cần phải giải quyết những điểm nghẽn về quy mô vốn, công nghệ, năng lực quản trị, cũng như thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị giữa các doanh nghiệp tư nhân với kinh tế nhà nước và FDI. Điều này càng trở nên quan trọng khi Việt Nam hướng tới phát triển các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo công nghệ cao, công nghiệp phụ trợ và công nghệ số, những lĩnh vực đòi hỏi sự tham gia năng động, liên kết chặt chẽ và khả năng đổi mới sáng tạo cao. Thêm vào đó, việc thiết kế và hoàn thiện thể chế kinh tế theo hướng minh bạch, bình đẳng, tạo động lực đầu tư dài hạn cho doanh nghiệp tư nhân cũng là một nhân tố quyết định thành công cho định vị chiến lược này. Những phân tích này cho thấy cần tập trung làm rõ vai trò, vị trí và thách thức của kinh tế tư nhân trong bối cảnh xây dựng nền công nghiệp tự chủ và hiện đại, đồng thời đề xuất các định hướng chiến lược và chính sách hỗ trợ nhằm chuyển hóa khu vực này trở thành trụ cột nội sinh quan trọng trong phát triển công nghiệp quốc gia. 2. Cấu trúc ba khu vực kinh tế trong nền công nghiệp quốc gia Việt Nam phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với điểm đặc thù là sự tồn tại đồng thời, phát triển hài hòa của ba thành phần kinh tế cơ bản: kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Sự phối hợp và phân công rõ ràng vai trò, thế mạnh của từng khu vực được xác định là nhân tố then chốt cấu thành nền công nghiệp quốc gia đa dạng, năng động và bền vững. Đây là mô hình kinh tế chiến lược nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa với tầm nhìn xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trong bối cảnh toàn cầu có nhiều biến động phức tạp. Kinh tế nhà nước: vai trò chủ đạo, định hướng chiến lược Kinh tế nhà nước vẫn là trụ cột quan trọng trong nền kinh tế quốc dân với nhiệm vụ giữ vai trò chủ đạo, đặc biệt trong các ngành kinh tế trọng yếu mang tính chiến lược và quốc phòng an ninh như năng lượng, truyền tải điện, dầu khí, sản xuất vật liệu cơ bản, giao thông, viễn thông, công nghiệp quốc phòng… Khu vực này không chỉ đảm bảo quyền chủ động của Nhà nước trong hoạch định chính sách, điều tiết kinh tế vĩ mô mà còn là lực lượng đóng vai trò ổn định xã hội và dẫn dắt phát triển đồng bộ các lĩnh vực công nghiệp quan trọng. Việc duy trì vai trò này nhằm khắc phục sự phân tán nguồn lực và nguy cơ lệ thuộc vào các yếu tố ngoại sinh, đồng thời đảm nhận trọng trách thúc đẩy chuyển đổi công nghiệp truyền thống sang công nghiệp hiện đại, đổi mới sáng tạo có tính hệ thống và sức ảnh hưởng quy mô lớn. Điểm đặc biệt của kinh tế nhà nước không nằm ở việc sở hữu hay quản lý mọi lĩnh vực mà quan trọng là sự định hướng chiến lược và kiểm soát các “điểm mấu chốt”, tạo ra những “mỏ neo” trong nền kinh tế giúp định hướng và thúc đẩy sự phát triển cân bằng cho các thành phần kinh tế khác. Điều này góp phần kiến tạo môi trường thể chế minh bạch, ổn định và công bằng để khu vực tư nhân và FDI yên tâm đầu tư phát triển. Kinh tế tư nhân: một động lực quan trọng nhất của tăng trưởng và đổi mới Khu vực kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế xuất phát từ bản chất năng động, linh hoạt và khả năng đổi mới sáng tạo của khu vực này, phù hợp với xu hướng phát triển công nghiệp hiện đại dựa trên tri thức, công nghệ và dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Kinh tế tư nhân có khả năng nhanh chóng thích ứng với biến động của thị trường, sáng tạo trong tổ chức quản trị, đổi mới công nghệ và đa dạng hóa sản phẩm. Đặc biệt, trong các ngành chế biến - chế tạo, công nghiệp phụ trợ, công nghệ số, kinh tế tư nhân thực sự là lực lượng chủ lực thúc đẩy gia tăng tỷ lệ nội địa hóa, phát triển chuỗi giá trị sản xuất ngành công nghiệp nội địa nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế. Các doanh nghiệp tư nhân cũng là “đầu tàu” trong phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, thúc đẩy cơ cấu nền kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hiện đại và bền vững. Tuy nhiên, diễn ra song song với ưu thế, kinh tế tư nhân vẫn còn nhiều hạn chế lớn về quy mô, năng lực tài chính và trình độ quản trị, khoa học công nghệ thấp khiến cho nhiều doanh nghiệp tư nhân còn khó tiếp cận công nghệ lõi, thiếu nguồn lực đầu tư dài hạn và hạn chế trong thực thi đổi mới sáng tạo. Chính vì vậy, việc phát triển kinh tế tư nhân cần đi đôi với các giải pháp hoàn thiện thể chế tạo hành lang pháp lý minh bạch, bình đẳng; đồng thời nâng cao khả năng tiếp cận tài chính, đất đai, lao động có kỹ năng và công nghệ để khu vực này phát huy tối đa thế mạnh sáng tạo và năng lực sản xuất. Khu vực FDI: nguồn vốn, công nghệ và cầu nối toàn cầu quan trọng Khu vực FDI tiếp tục giữ vai trò không thể thay thế trong việc cung cấp vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản trị mới và kết nối Việt Nam với các mạng sản xuất, chuỗi giá trị đa quốc gia. Đặc biệt tại Việt Nam, khu vực FDI đóng vai trò trung tâm trong thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu chủ lực, đưa Việt Nam gia nhập sâu hơn các thị trường quốc tế lớn như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản. Theo Văn kiện Đại hội XIV, phát triển FDI gắn với chuyển giao công nghệ có chọn lọc và phát triển công nghiệp phụ trợ là nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực tự chủ công nghiệp của quốc gia (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Điều này đòi hỏi xây dựng các cơ chế thúc đẩy liên kết hiệu quả giữa khu vực FDI với doanh nghiệp nội địa, nhất là doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước. Mặc dù vậy, khu vực FDI hiện nay vẫn còn tồn tại các rào cản về liên kết chuỗi giá trị với thị trường trong nước, tỷ lệ nội địa hóa còn thấp và độ sâu tham gia vào đổi mới sáng tạo chưa tương xứng. Do đó, việc nâng cao năng lực liên kết và hợp tác giữa FDI và kinh tế nội địa là một trong những yêu cầu trọng tâm nhằm hiện thực hóa mô hình công nghiệp tự chủ, hiện đại. Sự vận hành đồng bộ, phối hợp có hiệu quả của ba thành phần kinh tế Mô hình kinh tế ba thành phần này không chỉ đơn thuần là sự tồn tại song song mà là mối quan hệ tương hỗ phức hợp, đan xen, trong đó mỗi thành phần giữ vị trí, vai trò khác biệt nhưng cùng bổ trợ và thúc đẩy phát triển lẫn nhau. Sự vận hành hiệu quả của nền kinh tế thường gắn liền với chất lượng điều tiết và quản lý của Nhà nước theo nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và ổn định. Cấu trúc ba khu vực kinh tế phải được phân công vai trò rõ ràng: kinh tế nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, điều tiết, phát triển các ngành then chốt, công nghiệp nặng; kinh tế tư nhân tập trung vào phát triển các ngành chế biến, chế tạo, công nghệ số và phụ trợ đồng thời trở thành động lực cơ bản của tăng trưởng và đổi mới sáng tạo; khu vực FDI cung cấp nguồn lực vốn, công nghệ tiên tiến và liên kết quốc tế. Sự kết hợp này tạo thành một hệ sinh thái sản xuất công nghiệp đồng bộ, đa dạng và có khả năng thích ứng cao, góp phần nâng cao tỷ trọng giá trị gia tăng trong các sản phẩm công nghiệp xuất khẩu và trong nước. Việc điều phối vận hành linh hoạt ba khu vực kinh tế còn góp phần giảm thiểu các rủi ro do biến động thị trường quốc tế, đảm bảo tính tự chủ và ổn định cho nền công nghiệp quốc gia trước các cú sốc kinh tế toàn cầu hoặc các đứt gãy chuỗi cung ứng thế giới. Nền công nghiệp tự chủ và hiện đại không thể xây dựng thành công nếu thiếu sự kết hợp đồng bộ, hài hòa giữa ba thành phần kinh tế đặc trưng này. Việc xây dựng cấu trúc kinh tế ba khu vực: nhà nước, tư nhân và FDI phát triển cân bằng, phối hợp nhịp nhàng, dưới sự điều tiết của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, là cơ sở lập luận và thực tiễn quyết định cho chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chỉ khi nào kinh tế tư nhân được nâng lên tầm động lực quan trọng nhất, đồng thời khu vực FDI và nhà nước cùng phối hợp hiệu quả, thì Việt Nam mới có thể từng bước nâng cao năng lực nội sinh, phát triển công nghiệp hỗ trợ, đổi mới sáng tạo và làm chủ công nghệ. Điều này sẽ góp phần giảm thiểu sự lệ thuộc vào nhập khẩu, tăng cường sức chống chịu và thích ứng trước những thay đổi không dự đoán trước của kinh tế thế giới và xu hướng chuyển đổi kinh tế toàn cầu. Như vậy, sự vận hành đồng bộ và phối hợp hài hòa ba khu vực kinh tế chính là trục nâng đỡ chiến lược phát triển bền vững, nền công nghiệp tự chủ và hiện đại, từ đó góp phần thực hiện thành công mục tiêu trở thành nước phát triển, có công nghiệp hiện đại theo hướng bền vững. 3. Thực trạng và điểm nghẽn của kinh tế tư nhân Trong hơn ba thập niên đổi mới, kinh tế tư nhân tại Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc cả về số lượng doanh nghiệp và đóng góp vào GDP, đồng thời tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho xã hội. Có thể khẳng định rằng khu vực tư nhân đã trở thành động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế đất nước. Theo các số liệu mới nhất, kinh tế tư nhân hiện chiếm khoảng 43%-45% GDP và chiếm tới hơn 96% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, phần lớn là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh nhưng thiếu chiều sâu, đặc biệt là về quy mô, năng lực công nghệ và đổi mới sáng tạo, vẫn là những điểm nghẽn lớn cản trở kinh tế tư nhân trở thành trụ cột thực sự của nền công nghiệp tự chủ và hiện đại. Quy mô vốn và năng lực tài chính hạn chế Một trong những điểm nghẽn nổi bật nhất của khu vực tư nhân là quy mô tài chính còn rất hạn chế và không đồng đều. Phần lớn doanh nghiệp tư nhân là các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, vốn trung bình chỉ đạt khoảng 12 tỷ đồng, thấp hơn nhiều so với doanh nghiệp nhà nước (120 tỷ đồng) và FDI (300 tỷ đồng). Quy mô nhỏ khiến doanh nghiệp tư nhân khó tiếp cận nguồn vốn vay lớn và các nguồn tài chính dài hạn cần thiết cho đầu tư vào công nghệ, thiết bị hiện đại, nghiên cứu phát triển (R&D) và mở rộng quy mô sản xuất (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2024). Năng lực tài chính thấp cũng ảnh hưởng tới khả năng doanh nghiệp tư nhân chịu đựng các cú sốc thị trường và áp lực cạnh tranh khốc liệt trong quá trình hội nhập toàn cầu. Do đó, nhiều doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chủ yếu hoạt động trên các lĩnh vực có vốn thấp, rủi ro cao và giá trị gia tăng ít, khó vươn ra quy mô công nghiệp hóa. Vị thế và vai trò trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo Khu vực tư nhân tham gia mạnh vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, tuy nhiên đa phần tham gia ở các công đoạn gia công, lắp ráp với công nghệ và giá trị gia tăng thấp. Tỷ trọng nội địa hóa trong các khâu sản xuất của khối tư nhân thường thấp, do phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu linh kiện, vật liệu. Ngược lại, khu vực FDI chiếm ưu thế áp đảo với tỷ lệ đến 72%-75% tổng kim ngạch xuất khẩu, đặc biệt trong các lĩnh vực kỹ thuật cao như điện tử, dệt may, da giày… Điều này cho thấy doanh nghiệp tư nhân chưa có nhiều doanh nghiệp đủ lớn, đủ năng lực cạnh tranh để tham gia sâu và chủ động trong chuỗi giá trị toàn cầu. Điều này đặt ra thách thức cấp bách đối với khu vực tư nhân là phải nâng cao năng lực sản xuất, tập trung phát triển công nghiệp phụ trợ, đẩy mạnh nội địa hóa và tạo ra các sản phẩm có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn nhằm từng bước giảm lệ thuộc vào nguồn nhập khẩu, tăng tính cạnh tranh trong nước và quốc tế. Hạn chế về năng lực đổi mới sáng tạo Một trong những điểm nghẽn cơ bản khác của kinh tế tư nhân là năng lực đổi mới sáng tạo còn rất hạn chế. Mức đầu tư cho nghiên cứu và phát triển của khu vực tư nhân đang chiếm chưa đến 1% GDP, thấp hơn nhiều so với khu vực nhà nước (1,8%) và FDI (2,4%). Doanh nghiệp tư nhân còn thiếu nguồn lực tài chính, nhân lực và công nghệ để đầu tư mạnh mẽ vào hoạt động R&D. Tỷ lệ doanh nghiệp tư nhân sở hữu bằng sáng chế, phát minh cũng chỉ chiếm khoảng 15% tổng số sáng chế quốc gia, phân bổ chủ yếu tập trung ở một số doanh nghiệp lớn. Phần lớn doanh nghiệp tư nhân vẫn dựa vào công nghệ nhập khẩu hoặc gia công theo đơn đặt hàng, chưa đủ năng lực để chủ động phát triển công nghệ lõi hay tạo ra sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam có giá trị cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế. Hệ thống hỗ trợ đổi mới sáng tạo, liên kết giữa doanh nghiệp tư nhân với viện nghiên cứu, trường đại học và các trung tâm chuyển giao công nghệ còn yếu, chưa phát huy vai trò thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực công nghệ một cách bền vững. Liên kết chuỗi giá trị và hệ sinh thái công nghiệp còn yếu Hiện trạng liên kết giữa doanh nghiệp tư nhân với khu vực nhà nước và đặc biệt là các doanh nghiệp FDI còn phân tán, thiếu chiều sâu và thiếu sự phối hợp chiến lược. Các chuỗi cung ứng trong nước còn nhỏ lẻ, phân mảnh và chưa tạo thành các hệ sinh thái công nghiệp đủ sức cạnh tranh. Hệ lụy là rất ít các doanh nghiệp tư nhân lớn có khả năng dẫn dắt, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và lan tỏa giá trị gia tăng cho các doanh nghiệp nhỏ hơn trong chuỗi. Không có các tập đoàn tư nhân công nghiệp lớn, có chiều sâu và quy mô đủ mạnh, kéo theo sự thiếu hụt nguồn lực để đầu tư dài hạn, nghiên cứu phát triển sản phẩm công nghệ cao. Điều này khiến doanh nghiệp tư nhân thường bị bó hẹp trong các phân khúc thị trường thấp về giá trị kỹ thuật hoặc các công đoạn sản xuất thâm dụng lao động. Các thách thức về thể chế và môi trường kinh doanh Bên cạnh những hạn chế nội tại, môi trường thể chế và chính sách hỗ trợ cho phát triển kinh tế tư nhân còn nhiều bất cập, rào cản. Việc tiếp cận đất đai, các nguồn vốn tín dụng, chính sách hỗ trợ công nghiệp phụ trợ và công nghệ chưa đồng bộ và còn nhiều thủ tục phức tạp, dẫn đến thiếu động lực đầu tư dài hạn cho doanh nghiệp tư nhân. Tình trạng chưa minh bạch và chưa bình đẳng về tài chính, thị trường và nguồn lực khác cũng tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh và kìm hãm khả năng phát triển bứt phá của doanh nghiệp tư nhân. Ngoài ra, nhu cầu nâng cao năng lực quản trị, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và kỹ năng đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp tư nhân vẫn còn là yêu cầu chưa được giải quyết triệt để. 4. Định vị lại kinh tế tư nhân trong chiến lược công nghiệp hóa Để kinh tế tư nhân trở thành một cấu phần thiết yếu trong năng lực công nghiệp quốc gia, việc định vị lại vai trò của khu vực này trong chiến lược công nghiệp hóa của Việt Nam là vô cùng cần thiết. Trước hết, cần xác lập rõ vai trò chiến lược của kinh tế tư nhân trong việc nâng cao năng lực sản xuất, làm chủ công nghệ và mở rộng chuỗi giá trị, nhất là trong các ngành chế biến, chế tạo, công nghiệp phụ trợ và công nghệ số. Việc này đòi hỏi khu vực tư nhân không chỉ là một bộ phận tham gia mà phải trở thành lực lượng dẫn dắt, thúc đẩy sự phát triển công nghiệp bền vững và hiện đại, tương xứng với vị trí “động lực quan trọng nhất” được Đại hội Đảng XIV khẳng định. Song song đó, cần có sự phân công rõ ràng vai trò giữa ba khu vực kinh tế là nhà nước, tư nhân và vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc nắm giữ các ngành then chốt, đảm bảo an ninh kinh tế và chủ quyền quốc gia, đồng thời làm đầu tàu cho sự ổn định và phát triển dài hạn nền công nghiệp. Kinh tế tư nhân được phát huy tính linh hoạt, đổi mới và sáng tạo, làm trụ cột công nghiệp trong các lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh và tiềm năng phát triển công nghệ cao. Trong khi đó, khu vực FDI đóng vai trò cung cấp vốn, công nghệ tiên tiến và kết nối toàn cầu cho nền công nghiệp, đồng thời cần tăng cường liên kết và chuyển giao công nghệ với doanh nghiệp tư nhân trong nước, qua đó hỗ trợ phát triển năng lực công nghiệp nội địa bền vững. Việc thúc đẩy đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) là yếu tố then chốt để tạo nên hệ sinh thái đổi mới sáng tạo giữa doanh nghiệp tư nhân, viện nghiên cứu và các trường đại học. Đây là nền móng giúp doanh nghiệp tư nhân nâng cao năng lực sản xuất, phát triển công nghệ lõi, tạo ra sản phẩm mới mang giá trị gia tăng cao và đón đầu xu hướng chuyển đổi số, công nghiệp xanh. Thực tế đòi hỏi chính sách không chỉ dừng lại ở việc khuyến khích mà còn phải hỗ trợ thiết thực nhằm giúp doanh nghiệp tư nhân vượt qua những rào cản về vốn, nhân lực và kỹ thuật. Ngoài ra, cần tập trung hình thành những tập đoàn tư nhân công nghiệp quy mô lớn, đủ sức cạnh tranh quốc tế và có khả năng dẫn dắt sự phát triển chuỗi cung ứng nội địa. Những tập đoàn này sẽ trở thành đầu tàu thúc đẩy mạng lưới doanh nghiệp phụ trợ phát triển đồng bộ, từ đó tạo ra sức mạnh tổng hợp, đóng góp quan trọng trong việc từng bước hiện thực hóa mục tiêu công nghiệp tự chủ và hiện đại. Để đạt được các mục tiêu trên, việc hoàn thiện thể chế kinh tế là điều kiện tiên quyết. Cần bảo đảm quyền sở hữu tài sản và quyền kinh doanh tự do, bình đẳng cho các thành phần kinh tế, giảm thiểu những chồng chéo và phức tạp trong pháp luật, tạo dựng môi trường pháp lý minh bạch, ổn định, giúp doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn. Sự công bằng trong phân bổ nguồn lực đất đai, tín dụng và đầu tư công cũng rất quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực xã hội và phát huy tối đa tiềm năng khu vực tư nhân. Song song với đó, việc phát triển thị trường vốn dài hạn, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ công nghệ là những giải pháp cần được đẩy mạnh nhằm tạo thêm kênh huy động nguồn vốn cho đổi mới sáng tạo và mở rộng sản xuất của doanh nghiệp tư nhân. Chính sách công nghiệp cũng cần được xây dựng trên nguyên tắc chọn lọc và dựa trên tín hiệu thị trường, ưu tiên các ngành có tiềm năng công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, năng lượng tái tạo và kinh tế số, đi kèm với các công cụ ưu đãi thuế, quỹ hỗ trợ đổi mới sáng tạo nhằm tạo động lực cho doanh nghiệp phát triển. Việc thúc đẩy liên kết chặt chẽ trong nước giữa các doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp nhỏ và vừa, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo cũng đóng vai trò quan trọng. Điều này tạo nên hệ sinh thái đổi mới sáng tạo liên ngành, tăng khả năng chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực cán bộ kỹ thuật và quản lý trong khu vực tư nhân. Đồng thời, khuyến khích khu vực FDI hợp tác hiệu quả hơn trong chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao tại Việt Nam, góp phần nâng cao năng lực nội sinh cho nền công nghiệp. Cuối cùng, phát triển các cơ chế hợp tác công - tư (PPP) nhằm huy động hiệu quả nguồn vốn tư nhân cho phát triển hạ tầng kinh tế và công nghiệp chiến lược là điều kiện cần thiết để tạo nền tảng vật chất và kỹ thuật thuận lợi cho sự phát triển công nghiệp tư nhân lớn mạnh. Môi trường hợp tác minh bạch, cạnh tranh công bằng và chính sách ưu đãi hợp lý sẽ thu hút đầu tư tư nhân vào các dự án có quy mô lớn và tiềm năng công nghệ cao, góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trên nền tảng phát triển bền vững. Tóm lại, định vị lại và phát triển kinh tế tư nhân trong chiến lược công nghiệp hóa đòi hỏi sự phối hợp đa dạng về chiến lược, tổ chức thực hiện và hoàn thiện thể chế, nhằm tạo nên lực lượng sản xuất năng động, sáng tạo và có quy mô, sức cạnh tranh quốc tế; qua đó góp phần nâng cao năng lực nội sinh và tính tự chủ của nền công nghiệp Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số sâu rộng. Kết luận Xây dựng nền công nghiệp tự chủ và hiện đại không chỉ là một mục tiêu kinh tế đơn thuần mà còn là nhiệm vụ chiến lược tối quan trọng, gắn liền chặt chẽ với sự độc lập và tự chủ kinh tế quốc gia. Trong bối cảnh kỷ nguyên chuyển đổi số diễn ra nhanh chóng và sự cạnh tranh toàn cầu ngày càng quyết liệt, việc phụ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu công nghệ và gia công sẽ khiến nền công nghiệp dễ bị tổn thương và khó bền vững. Một nền công nghiệp tự chủ đòi hỏi không chỉ khả năng sản xuất mà còn phải có năng lực làm chủ công nghệ, đổi mới sáng tạo và xây dựng chuỗi giá trị công nghiệp nội địa vững chắc, qua đó giảm dần sự lệ thuộc vào nguồn cung bên ngoài và tăng cường khả năng thích ứng trước những sóng gió của kinh tế thế giới. Trong đó, kinh tế tư nhân cần được định vị lại, vượt qua vai trò đơn thuần là động lực tăng trưởng kinh tế ngắn hạn để trở thành trụ cột chủ chốt, trung tâm phát triển năng lực nội sinh của nền công nghiệp quốc gia. Khu vực tư nhân phải trở thành lực lượng sản xuất năng động, sáng tạo và linh hoạt, có khả năng cạnh tranh không chỉ trong phạm vi khu vực mà trên cả thị trường quốc tế. Việc nâng tầm vai trò của kinh tế tư nhân còn đồng nghĩa với việc tạo dựng những tập đoàn công nghiệp tư nhân có quy mô lớn, đủ sức dẫn dắt chuỗi giá trị ngành, thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ và đổi mới công nghệ. Sự phối hợp hiệu quả giữa ba khu vực kinh tế: kinh tế nhà nước với vai trò chủ đạo trong các ngành then chốt, kinh tế tư nhân với thế mạnh đổi mới sáng tạo và tính linh hoạt cao, cùng khu vực đầu tư nước ngoài (FDI) cung cấp vốn, công nghệ và cầu nối thị trường toàn cầu, chính là nền tảng vững chắc để thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Việc phối hợp này chỉ có thể phát huy tối đa khi được vận hành trong khuôn khổ thể chế kinh tế minh bạch, công bằng, ổn định và dự báo được, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực xã hội. Hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế theo hướng kiến tạo cấu trúc phát triển, nâng cao năng lực quản lý nhà nước và xây dựng thị trường vốn dài hạn hiệu quả là những điều kiện tiên quyết để tạo môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo và phát triển các tập đoàn công nghiệp tư nhân mạnh. Đây chính là nền móng để Việt Nam hiện thực hóa định vị chiến lược nâng cao vai trò kinh tế tư nhân trong phát triển công nghiệp, từ đó kiên định bước đi vững chắc trên con đường xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại, góp phần nâng cao sức cạnh tranh tổng thể và bền vững của nền kinh tế quốc gia trong kỷ nguyên số và hội nhập mạnh mẽ toàn cầu. Tài liệu tham khảo 1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư. (2024). Sách trắng Doanh nghiệp Việt Nam 2024. Hà Nội: Bộ Kế hoạch và Đầu tư; 2. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật; 3. Tổng cục Hải quan; Tổng cục Thống kê. (2024). Báo cáo xuất nhập khẩu năm 2024. Hà Nội; 4. Tổng cục Thống kê. (2024). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2024. Hà Nội. Ngày nhận bài: 25/02/2026 Ngày biên tập: 02/3/2026 Ngày duyệt đăng: 10/4/2026 Tác giả: Nguyễn Trọng Khang Tập đoàn MK Email: khangnt@mkgroup.com.vn (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, số tháng 4/2026)