Việc ban hành Thông tư số 24/2024/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp áp dụng từ năm 2025 đã tạo ra nhiều thay đổi quan trọng trong tổ chức công tác kế toán, hệ thống chứng từ, sổ kế toán và báo cáo kế toán tại các đơn vị hành chính sự nghiệp. Những thay đổi này tác động đến hoạt động quản lý tài chính - kế toán của đơn vị và đặt ra yêu cầu điều chỉnh nội dung, phương pháp và trọng tâm kiểm toán đối với loại hình đơn vị này trong hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước. Bài viết phân tích một số điểm mới của chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp theo Thông tư 24/2024/TT-BTC có ảnh hưởng đến nội dung kiểm toán, đồng thời đề xuất một số lưu ý trong việc đánh giá tính tuân thủ pháp luật về kế toán, tính trung thực và hợp lý của thông tin tài chính, cũng như việc lập và trình bày báo cáo quyết toán, báo cáo tài chính theo quy định mới. Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng kiểm toán và hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn lực tài chính công tại các đơn vị hành chính sự nghiệp.
Từ khóa: Đơn vị hành chính sự nghiệp; Thông tư 24/2024/TT-BTC; kiểm toán.
Key considerations for auditing administrative and non-business units under the new accounting regime of Circular 24/2024/TT-BTC
Circular 24/2024/TT-BTC, effective from 2025, introduces significant changes to accounting organizations, documentation and reporting within administrative and non-business units. These changes impact the financial and accounting management of the entity and necessitate adjustments to the content, methods and focus of audits for this type of entity within the State Audit Office's auditing activities. This article analyzes the new features of the administrative and non-business accounting regime according to Circular 24/2024/TT-BTC that affect audit content, and proposes considerations for evaluating legal compliance and the fairness of financial information as well as the preparation and presentation of final accounts reports and financial statements according to the new regulations. This contributes to enhancing audit quality and public resource management at administrative and non-business units.
Keywords: Administrative and non-business units; Circular 24/2024/TT-BTC; auditing.
JEL classification: H83, M42, M48
https://doi.org/10.65771/ati-jas.04202604
1. Đặt vấn đề
Đơn vị hành chính sự nghiệp là tổ chức thuộc khu vực công, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập để thực hiện chức năng quản lý nhà nước hoặc cung cấp dịch vụ công phục vụ xã hội, hoạt động chủ yếu bằng nguồn ngân sách nhà nước hoặc các nguồn thu hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. Các đơn vị này không hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, mà nhằm thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội do Nhà nước giao trong các lĩnh vực như giáo dục, y tế, khoa học, văn hóa, thể thao, thông tin truyền thông và quản lý hành chính nhà nước.
Thông tư 24/2024/TT-BTC quy định đơn vị hành chính, sự nghiệp là các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và các tổ chức khác có sử dụng ngân sách nhà nước hoặc nguồn kinh phí có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, phải thực hiện chế độ kế toán để phản ánh đầy đủ tình hình tài chính, tài sản và kết quả hoạt động theo quy định của pháp luật.
* Đơn vị hành chính sự nghiệp có một số đặc điểm nổi bật: Mục tiêu hoạt động của các đơn vị này không nhằm tối đa hóa lợi nhuận mà chủ yếu hướng tới phục vụ lợi ích công cộng và thực hiện nhiệm vụ chính trị - xã hội do Nhà nước giao, vì vậy cơ chế quản lý tài chính của đơn vị hành chính sự nghiệp khác biệt so với khu vực doanh nghiệp nên quyết định tài chính phải gắn với yêu cầu phục vụ cộng đồng và tuân thủ kỷ luật ngân sách. Nguồn tài chính của đơn vị hành chính sự nghiệp mang tính đa dạng nhưng vẫn phụ thuộc đáng kể vào ngân sách nhà nước. Bên cạnh kinh phí do ngân sách cấp, nhiều đơn vị còn có các nguồn thu hợp pháp khác như phí, lệ phí, thu từ hoạt động dịch vụ sự nghiệp hoặc nguồn viện trợ, tài trợ theo quy định của pháp luật. Cơ cấu nguồn thu này đòi hỏi việc quản lý, hạch toán và kiểm soát tài chính phải bảo đảm tính minh bạch và tuân thủ các quy định của pháp luật về ngân sách, kế toán và quản lý tài sản công. Hoạt động tài chính của đơn vị hành chính sự nghiệp chịu sự kiểm soát chặt chẽ của hệ thống pháp luật và các cơ quan giám sát nhà nước. Việc lập dự toán, chấp hành và quyết toán ngân sách phải tuân thủ các quy định của pháp luật về ngân sách, đồng thời chịu sự kiểm tra, thanh tra và kiểm toán của các cơ quan có thẩm quyền nhằm bảo đảm việc quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính công, tài sản công được thực hiện đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả. Đơn vị hành chính sự nghiệp gắn liền với quá trình cải cách quản lý tài chính công và đổi mới cơ chế tự chủ. Cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập đều có quy định về cơ chế quản lý tài chính, được giao tự chủ để có thể chủ động trong quá trình hoạt động và quản lý, sử dụng nguồn kinh phí. Sự thay đổi trong cách thức quản lý này làm cho cơ chế quản lý tài chính và kế toán tại các đơn vị hành chính sự nghiệp ngày càng tiệm cận với quản trị hiện đại, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn đối với công tác kiểm toán và giám sát tài chính công.
Từ năm 2025, các đơn vị hành chính sự nghiệp áp dụng chế độ kế toán mới cũng là thời điểm sắp xếp lại đơn vị hành chính. Bộ Tài chính đã ban hành các văn bản để hướng dẫn cụ thể việc thực hiện công việc kế toán đảm bảo phù hợp với tình hình thực tế (Công văn số 13749/BTC-NSNN ngày 14/12/2024 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn nguyên tắc xử lý tài sản, tài chính, ngân sách nhà nước trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy; Công văn số 1010/BTC-QLKT ngày 23/01/2025 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn công tác kế toán khi tổ chức thực hiện sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy; Công văn số 2454/BTC-QLCS ngày 28/02/2025 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn xử lý tài sản khi thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy). Trước tình hình đó, Kiểm toán viên nhà nước cần phải hiểu rõ những quy định mới và những tác động đến nội dung kiểm toán để điều chỉnh, thay đổi cách thức kiểm toán nhằm hoàn thành nhiệm vụ và nâng cao chất lượng kiểm toán của Kiểm toán nhà nước.
2. Phương pháp nghiên cứu
Tác giả áp dụng phương pháp phân tích và tổng hợp dữ liệu tham khảo từ các hướng dẫn và báo cáo của Bộ Tài chính về triển khai, thực hiện chế độ kế toán theo Thông tư 24/2024/TT-BTC tại các đơn vị hành chính, sự nghiệp và những văn bản của cơ quan tài chính (tại các bộ, ngành) và Sở Tài chính của các địa phương về những khó khăn trong thời gian đầu áp dụng chế độ kế toán mới; tổng hợp thông tin được Bộ Tài chính giải đáp cho các đơn vị hành chính sự nghiệp tại mục “Hỏi đáp chính sách tài chính” trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính (dữ liệu được tổng hợp từ 01/01/2025 đến 01/3/2026) để chỉ ra các điểm mới của Chế độ kế toán hành chính sự nghiệp theo Thông tư 24/2024/TT-BTC so với chế độ kế toán được thay thế và phân tích ảnh hưởng của các điểm mới tới nội dung kiểm toán đơn vị hành chính sự nghiệp của Kiểm toán nhà nước.
Từ những ảnh hưởng đó, bài viết sẽ hoàn thiện các nội dung kiểm toán đơn vị hành chính sự nghiệp trong điều kiện áp dụng chế độ kế toán mới.
3. Tổng hợp kết quả nghiên cứu
3.1. Những điểm mới của Chế độ kế toán theo Thông tư 24/2024/TT-BTC ảnh hưởng nội dung kiểm toán đơn vị hành chính, sự nghiệp
Thứ nhất, việc mở rộng đối tượng áp dụng của chế độ kế toán mới đã bao quát đầy đủ phạm vi, đối tượng và nội dung của công tác kế toán, qua đó bảo đảm không còn khoảng trống pháp lý khi các đơn vị bắt đầu triển khai thực hiện từ năm 2025. Quy định này góp phần tạo sự phù hợp và thống nhất trong tổ chức thực hiện công tác kế toán tại các đơn vị kế toán khi được giao thực hiện nhiều loại hoạt động khác nhau. Khi áp dụng chung một chế độ kế toán, các đơn vị có điều kiện tổ chức một hệ thống kế toán thống nhất và xây dựng hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin với cơ chế phân quyền phù hợp tại từng đơn vị, giúp việc tổng hợp thông tin của các cơ quan cấp trên thuận lợi, đồng bộ chế độ kế toán cũng góp phần rút ngắn thời gian cung cấp hồ sơ, tài liệu để kiểm toán hiệu quả hơn.
Thứ hai, chế độ kế toán mới hướng dẫn cụ thể các mô hình tổ chức hoạt động của các đơn vị, gồm đơn vị kế toán, đơn vị hạch toán phụ thuộc, đầu mối chi tiêu giúp cho các đơn vị có thể áp dụng linh hoạt, phù hợp với tổ chức bộ máy kế toán hiện nay, giải quyết các tồn tại, vướng mắc trong việc tổ chức công tác kế toán tại các các đơn vị có mô hình tổ chức khác nhau, hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán khác nhau ảnh hưởng việc đánh giá và xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp kiểm toán của Kiểm toán nhà nước.
Thứ ba, không quy định mẫu chứng từ và mẫu sổ bắt buộc.
Các đơn vị được thiết kế mẫu chứng từ, mẫu sổ kế toán phù hợp với các nghiệp vụ kinh tế phát sinh của đơn vị mình mà vẫn cung cấp đầy đủ thông tin phục vụ cho việc hạch toán kế toán tuân thủ các nội dung quy định tại Luật Kế toán. Các đơn vị sẽ linh hoạt hơn trong quá trình ban hành hệ thống chứng từ, hệ thống mẫu sổ kế toán áp dụng tại đơn vị mình phù hợp mục tiêu của đơn vị, tuy nhiên cũng dẫn đến việc các đơn vị trong cùng loại hình, cùng đơn vị, cơ quan quản lý cấp trên quy định hệ thống mẫu chứng từ, hệ thống mẫu sổ kế toán không thống nhất gây khó khăn trong công tác quản lý, đặc biệt là ảnh hưởng việc hướng dẫn, tổng hợp, thực hiện công việc kiểm tra, kiểm toán qua đánh giá hệ thống chứng từ và sổ kế toán mà đơn vị áp dụng.
Thứ tư, Chế độ kế toán quy định theo Thông tư 24/2024/TT-BTC đã hệ thống hóa lại các tài khoản kế toán và hướng dẫn hạch toán phù hợp với cơ chế tài chính, Chuẩn mực kế toán công Việt Nam và thực tế hoạt động của các đơn vị. Bổ sung các nguyên tắc hạch toán của các tài khoản trong đó hướng dẫn cụ thể các nguyên tắc ghi nhận doanh thu, chi phí; khắc phục tồn tại trong việc kế toán nhận kinh phí và theo dõi nguồn mua sắm tài sản công, hàng tồn kho, nguồn cải cách tiền lương của đơn vị, kinh phí được chuyển năm sau, điều chỉnh số liệu kế toán… Đảm bảo việc ghi chép kế toán được thực hiện thống nhất và số liệu báo cáo tài chính được trình bày đầy đủ, phù hợp. Bổ sung hướng dẫn hạch toán và đối chiếu công nợ phải thu, phải trả của đơn vị kế toán, hạch toán tỷ giá phù hợp với quy định; sửa đổi một số nội dung liên quan đến hạch toán các nghiệp vụ phát sinh trong hoạt động liên doanh, liên kết; hạch toán ghi nhận doanh thu, chi phí, các quỹ; hướng dẫn hạch toán chi phí xây dựng cơ bản chờ phê duyệt quyết toán để đảm bảo việc trình bày tài sản trên báo cáo tài chính chính xác, đầy đủ. Sửa đổi và hướng dẫn hạch toán tài khoản ngoại bảng “Dự toán viện trợ không hoàn lại” để phù hợp với quản lý vốn viện trợ hiện nay. Cập nhật thêm các hướng dẫn hạch toán liên quan đến tiếp nhận kinh phí ủy quyền, ủy thác để chi trả cho các đối tượng có liên quan theo quy định; hướng dẫn hạch toán mua sắm tài sản cố định, vật tư, nguyên liệu của đơn vị kế toán cấp trên để cấp phát cho các đơn vị kế toán (theo ngành dọc); hướng dẫn hạch toán các khoản dự phòng áp dụng cho đơn vị sự nghiệp công lập và đơn vị khác có hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ theo quy định; hướng dẫn kế toán tài sản thuê, mượn, đặt máy, tài sản đặc thù… theo quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng tài sản công. Hướng dẫn hạch toán hàng dự trữ quốc gia cho các đơn vị thuộc các bộ, ngành được giao quản lý; kế toán tài sản kết cấu hạ tầng nói chung (trong đó có tài sản kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi), trừ tài sản kết cấu hạ tầng được tính thành phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp; kế toán của ban quản lý dự án phù hợp với cơ chế tài chính và mô hình hoạt động hiện nay (là đơn vị sự nghiệp công lập).
Đây là thay đổi lớn nhất của chế độ kế toán mới, giúp kiểm toán viên có đầy đủ căn cứ để đưa ra các ý kiến đảm bảo có sơ sở pháp lý, phản ánh trung thực, đúng bản chất các chỉ tiêu và thông tin kế toán cung cấp, không như trước đây, đôi khi kiểm toán viên phải đưa ra các ý kiến xác nhận bị phụ thuộc vào quan điểm còn có nhiều tranh cãi.
Thứ năm, về báo cáo quyết toán.
Thông tư 24/2024/TT-BTC quy định 5 mẫu biểu quyết toán kinh phí hoạt động, quy định rõ nội dung mẫu biểu và việc lập các chỉ tiêu báo cáo trong từng mẫu biểu để đảm bảo đầy đủ thông tin, thống nhất việc lập báo cáo. Bổ sung thêm một số chỉ tiêu báo cáo theo đề nghị của các đơn vị chức năng có liên quan để đảm bảo đầy đủ thông tin trên báo cáo, hướng dẫn rõ về việc lập báo cáo quyết toán đối với các trường hợp đơn vị ngân sách cấp trên và ngân sách cấp dưới hỗ trợ qua lại và cấp kinh phí ủy quyền, để có đầy đủ số liệu tổng hợp quyết toán ngân sách.
Những thay đổi này yêu cầu cần mở rộng nội dung kiểm toán, không chỉ kiểm tra tổng số kinh phí quyết toán mà còn đánh giá tính đầy đủ, chính xác của từng chỉ tiêu báo cáo theo mẫu biểu mới, đòi hỏi cần phải đối chiếu số liệu giữa báo cáo quyết toán với sổ kế toán, chứng từ kế toán và dữ liệu trên hệ thống kế toán, đặc biệt đối với các chỉ tiêu có thay đổi do điều chỉnh tài khoản và phương pháp hạch toán như doanh thu, chi phí, nợ phải trả, tài sản thuần và các khoản dự phòng mới bảo đảm tính trung thực, đầy đủ và nhất quán của thông tin quyết toán ngân sách tại đơn vị.
Thứ sáu, về báo cáo tài chính.
Quy định thống nhất một mẫu biểu báo cáo lưu chuyển tiền tệ (theo phương pháp trực tiếp) tạo thuận lợi trong công tác kế toán cũng như kiểm tra, đánh giá. Trong hệ thống mẫu biểu có 02 mẫu biểu thuyết minh chi tiết số liệu tài sản kết cấu hạ tầng đơn vị được giao trực tiếp quản lý nhưng không trực tiếp khai thác, sử dụng (Mẫu B04a/BCTC) và báo cáo về những thay đổi trong tài sản thuần (B05/ BCTC), mẫu thuyết minh báo cáo tài chính cụ thể, chi tiết đến 18 trang, sẽ cung cấp nhiều thông tin chi tiết, kịp thời. Quy định các trường hợp được điều chỉnh hồi tố số liệu vào số dư đầu năm trước đã trình bày trên báo cáo tài chính, nghiêm cấm đơn vị tự ý làm thay đổi thông tin, số liệu trình bày trên báo cáo tài chính đã được nộp cho cơ quan có thẩm quyền hoặc báo cáo tài chính đã được công khai theo quy định giúp kiểm toán viên có thể kiểm tra đánh giá các trường hợp vi phạm khi kiểm tra thấy số liệu trên báo cáo tài chính đơn vị cung cấp và báo cáo tài chính đã nộp có chênh lệch, từ đó đánh giá, kiến nghị đơn vị phải chỉnh sửa khi phát hiện sai sót theo quy định tại Thông tư 24/2024/ TT-BTC.
Thứ bảy, về in, sắp xếp, đóng để lưu trữ tài liệu kế toán và ứng dụng công nghệ thông tin.
Quy định và hướng dẫn rất cụ thể, chi tiết, rõ ràng về cách lưu trữ hồ sơ, tài liệu kế toán đảm bảo thống nhất trong quá trình thực hiện theo đúng quy định của pháp luật kế toán. Việc quy định về sử dụng phần mềm kế toán và các yêu cầu đối với phần mềm kế toán tại đơn vị đảm bảo chất lượng công tác kế toán và số liệu các báo cáo, sử dụng chứng từ điện tử và phần mềm kế toán hiện đại tuân thủ đầy đủ quy trình, nghiệp vụ kế toán đảm bảo tính bảo mật, an toàn. Đây là thay đổi giúp cho việc sử dụng phần mềm kế toán được thống nhất, tránh việc áp dụng phần mềm kế toán mỗi đơn vị trong cùng phạm vi quản lý của cơ quan cấp trên lại do một bên khác nhau cung cấp, không đồng nhất với nhau, mẫu biểu khác nhau, gây khó khăn trong quá trình thực hiện. Với những quy định mới này, việc thực hiện kiểm toán sẽ thuận tiện hơn khi khai thác dữ liệu của đơn vị được kiểm toán. Bước cung cấp hồ sơ tài liệu cho Kiểm toán nhà nước khoa học, dễ tìm kiếm so với trước đây, kịp thời loại bỏ dần lý do đơn vị trì hoãn việc cung cấp tài liệu là “chưa tìm thấy hồ sơ, tài liệu kế toán”.
Thứ tám, về chuyển đổi số dư.
Sau khi khóa sổ kế toán lập báo cáo tài chính năm 2024, đơn vị phải thực hiện chuyển đổi số dư sang tài khoản mới theo quy định tại Thông tư 24/2024/TT-BTC. Số dư đầu năm 2025 trên báo cáo tình hình tài chính và thuyết minh báo cáo tài chính cho phần báo cáo tình hình tài chính được áp dụng hồi tố sau khi kết chuyển số dư từ năm 2024 sang. Cuối năm 2024 và năm 2025 là thời điểm cả nước thực hiện sắp xếp lại đơn vị hành chính, Bộ Tài chính đã có các văn bản hướng dẫn cụ thể việc chuyển đổi số dư, bàn giao ở các thời điểm các đơn vị giải thể, chia tách, sáp nhập. Việc hướng dẫn cụ thể, rõ ràng như thế này giúp cho các đơn vị dễ áp dụng trong quá trình chuyển đổi. Kiểm toán viên có căn cứ để kiểm tra, xác định và làm rõ thời điểm chốt số liệu về tài sản, tài chính, ngân sách nhà nước, kế toán của các đơn vị để xử lý, bàn giao, tiếp nhận và tiếp tục theo dõi, quản lý, hạch toán kế toán.
3.2. Một số lưu ý nhằm hoàn thiện nội dung kiểm toán đơn vị hành chính, sự nghiệp trong bối cảnh áp dụng chế độ kế toán mới theo Thông tư 24/2024/TT-BTC
Thứ nhất, Kiểm toán nhà nước cần đánh giá xem các đơn vị hành chính sự nghiệp là đơn vị kế toán (có hay không có đơn vị hạch toán phụ thuộc và đầu mối chi tiêu) hay chỉ là đơn vị hạch toán phụ thuộc và đầu mối chi tiêu. Từ khâu thu thập thông tin để lập kế hoạch kiểm toán đến quá trình triển khai thực hiện kiểm toán thì kiểm toán viên phải đánh giá chuẩn xác để từ đó lựa chọn đơn vị kiểm toán chi tiết phù hợp.
Thứ hai, hoàn thiện nội dung kiểm toán gắn với đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ và tổ chức công tác kế toán khi chuyển đổi chế độ kế toán mới.
Hoàn thiện theo hướng xem xét cả điều kiện tổ chức thực hiện của đơn vị từ việc ban hành quy trình nội bộ, phân công trách nhiệm giữa kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết, việc cập nhật phần mềm, chuyển đổi tài khoản, khóa sổ, lưu trữ hồ sơ và kiểm tra nội bộ trước khi lập báo cáo. Kiểm toán viên có trách nhiệm đánh giá xem sai sót phát sinh là sai sót đơn lẻ hay là hệ quả của khiếm khuyết hệ thống. Nếu chỉ dừng ở việc nêu ra sai sót số liệu mà không chỉ ra nguyên nhân quản trị, kiểm toán sẽ khó tạo ra giá trị cải thiện dài hạn. Vì vậy, Kiểm toán viên cần mở rộng trọng tâm từ “kiểm tra kết quả cuối cùng” sang “đánh giá quy trình hình thành số liệu”, từ đó kiến nghị trúng hơn về hoàn thiện kiểm soát nội bộ, chuẩn hóa quy trình kế toán và nâng cao năng lực cán bộ kế toán tại đơn vị hành chính sự nghiệp. Đây là trách nhiệm nghề nghiệp quan trọng để Kiểm toán nhà nước không chỉ phát hiện sai phạm, mà còn góp phần phòng ngừa sai sót trong bối cảnh chuyển đổi chế độ kế toán.
Thứ ba, lưu ý đánh giá về công tác xử lý tài chính công, tài sản công khi thực hiện sắp xếp để chuyển tiếp số liệu trên hệ thống sổ sách kế toán, kiểm tra việc các đơn vị thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính tại Công văn số 13749/BTC-NSNN ngày 14/12/2024, Công văn số 1010/BTC-QLKT ngày 23/01/2025 và Công văn số 2454/BTC-QLCS ngày 28/02/2025.
* Đối với số các đơn vị không thực hiện sắp xếp lại đơn vị hành chính:
Kiểm tra việc chuyển đổi số dư của các tài khoản kế toán từ cuối năm 2024 sang đầu năm 2025 có đúng theo hướng dẫn của Thông tư 24/2024/TT-BTC (Phụ lục số VI), chuyển đổi nhầm lẫn ở chỉ tiêu nào cần chỉ ra và yêu cầu đơn vị chỉnh sửa phù hợp, đặc biệt đánh giá ảnh hưởng tới tình hình tài chính đơn vị phản ánh trong năm 2025 để kiểm tra chi tiết hơn các khoản mục có liên quan bị ảnh hưởng.
* Đối với các đơn vị thực hiện sắp xếp lại:
Ngoài việc kiểm tra việc chuyển đổi số dư của các tài khoản kế toán như đối với các đơn vị không tiến hành sắp xếp, cần kiểm tra thời điểm chốt số liệu về tài sản, tài chính, ngân sách, kế toán của đơn vị khi bàn giao, tiếp nhận đơn vị có thực hiện kiểm kê tài sản, tài chính, ngân sách theo chế độ quy định vào thời điểm chính thức sắp xếp lại; có lập đầy đủ hồ sơ và đối chiếu với kết quả kiểm kê vào thời điểm gần nhất để xác định tính chính xác, đầy đủ, thống nhất, liên tục của các số liệu, tài liệu kiểm kê; cũng như có phương án điều chỉnh, xử lý sai sót, chênh lệch cho phù hợp, từ đó đưa ra ý kiến đánh giá trung thực, hợp lý và khách quan.
Thứ tư, kiểm toán viên cần lưu ý đánh giá các nội dung công việc thuộc trách nhiệm của các bộ phận có liên quan về việc tập hợp, thu thập đầy đủ các chứng từ kế toán và hồ sơ, tài liệu, số liệu liên quan đến các khoản chi tiêu phát sinh cho hoạt động của đơn vị theo từng nguồn kinh phí. Kiểm tra từng tài khoản phản ánh tình hình tài sản, nguồn vốn làm căn cứ lập các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính; việc nộp đầy đủ các khoản phải nộp vào ngân sách; hoàn trả các khoản đã rút tạm ứng kinh phí ngân sách nhà nước về quỹ tiền mặt nhưng chưa sử dụng hết, có đối chiếu công nợ, lập biên bản ghi rõ lý do, yêu cầu các tổ chức, cá nhân đến xác nhận lại công nợ để đơn vị tiếp tục theo dõi, thu hồi theo quy định, tránh thất thoát tiền, tài sản và các nguồn lực của Nhà nước hay không.
Thứ năm, hoàn thiện nội dung kiểm toán đối với công tác lập và trình bày báo cáo quyết toán.
Nội dung kiểm toán cần được hoàn thiện theo hướng không chỉ kiểm tra tính đúng đắn số học của báo cáo mà còn phải đánh giá đầy đủ logic lập báo cáo, căn cứ ghi nhận từng chỉ tiêu, sự nhất quán giữa báo cáo quyết toán với sổ kế toán, chứng từ, dự toán được giao và báo cáo tài chính. Không dừng lại ở việc phát hiện chênh lệch số liệu, mà phải xác định nguyên nhân sai lệch do hạch toán sai, phân loại sai nguồn kinh phí, ghi nhận chưa đúng thời điểm hay do đơn vị chưa nắm được chế độ mới. Kiểm toán viên chủ động cập nhật mẫu biểu mới, hiểu được mối liên hệ giữa các chỉ tiêu và xây dựng thủ tục kiểm toán phù hợp với từng loại đơn vị để vừa kiểm tra tính trung thực của số liệu, vừa đánh giá được mức độ tuân thủ kỹ thuật lập báo cáo theo chế độ kế toán mới.
Thứ sáu, hoàn thiện nội dung kiểm toán về phân loại, hạch toán và quyết toán các nguồn kinh phí. Nội dung kiểm toán phải chuyển từ cách tiếp cận “kiểm tra chi tiêu” sang cách tiếp cận sâu hơn là “kiểm tra bản chất nguồn lực tài chính công”. Tập trung làm rõ đơn vị đã xác định đúng nguồn, hạch toán riêng từng nguồn, có tình trạng dùng sai nguồn, quyết toán lẫn giữa nguồn tự chủ và không tự chủ, giữa nguồn giao dự toán và nguồn tiếp nhận hỗ trợ không. Đối với kinh phí được cấp có tính chất ủy quyền hoặc hỗ trợ chéo giữa các cấp ngân sách cần phải truy xét được đường đi của kinh phí, đánh giá tính hợp pháp của căn cứ giao, mức độ phù hợp trong hạch toán và nguy cơ trùng lặp hoặc bỏ sót khi tổng hợp quyết toán. Đây là khâu rất dễ phát sinh sai sót khi áp dụng chế độ mới. Kiểm toán viên cần nâng cao năng lực phân tích ngân sách, am hiểu mục lục ngân sách, nắm chắc chế độ tự chủ và có khả năng đối chiếu liên thông giữa hồ sơ dự toán, quyết định giao kinh phí, sổ kế toán và báo cáo quyết toán.
Thứ bảy, hoàn thiện nội dung kiểm toán theo hướng tăng cường kiểm tra tính liên thông giữa báo cáo quyết toán và báo cáo tài chính.
Phải nhìn nhận hai hệ thống báo cáo trong mối quan hệ hữu cơ, đối chiếu giữa số liệu kinh phí đã nhận, đã sử dụng, tạm ứng, công nợ, tài sản hình thành từ kinh phí và kết quả trình bày trên các báo cáo có liên quan; phát hiện những trường hợp quyết toán đúng hình thức nhưng chưa phản ánh đầy đủ bản chất tài chính và ngược lại. Kiểm toán viên phải là người kiểm tra tính nhất quán của toàn bộ hệ thống thông tin kế toán nên cần nâng cao năng lực đọc hiểu các chỉ tiêu báo cáo tài chính khu vực công, hiểu quan hệ giữa tài khoản kế toán với từng chỉ tiêu báo cáo và biết sử dụng thủ tục phân tích để phát hiện rủi ro bất thường. Đây là điều kiện quan trọng để nâng cao độ tin cậy của kết luận kiểm toán trong bối cảnh chế độ kế toán mới ngày càng chú trọng chuẩn hóa và minh bạch thông tin.
Thứ tám, nâng cao trách nhiệm nghề nghiệp của Kiểm toán viên nhà nước trong cập nhật quy định, chế độ mới, ứng dụng công nghệ và đưa ra kiến nghị kiểm toán có tính khả thi. Kiểm toán viên cần nắm vững sự khác biệt giữa quy định cũ và mới, nhận diện đúng các rủi ro chuyển đổi chế độ, biết sử dụng dữ liệu kế toán điện tử để đối chiếu, chọn mẫu và phân tích biến động. Trong điều kiện nhiều đơn vị hành chính sự nghiệp sử dụng phần mềm kế toán, kiểm toán viên cần kiểm tra tính tin cậy của dữ liệu đầu ra, không chỉ dựa vào bản in báo cáo giấy mà đơn vị cung cấp. Kết luận, kiến nghị kiểm toán phải thay đổi theo hướng cụ thể, khả thi và mang tính hướng dẫn hệ thống hơn.
Kết luận
Tóm lại, từ những lưu ý trên, để hoàn thiện nội dung kiểm toán đơn vị hành chính sự nghiệp và nâng cao chất lượng kiểm toán trong bối cảnh đơn vị hành chính sự nghiệp áp dụng chế độ kế toán mới từ năm 2025 cũng là thời điểm cả nước sắp xếp đơn vị hành chính, Kiểm toán nhà nước cần nâng cao năng lực chuyên môn của kiểm toán viên thông qua tổ chức đào tạo chuyên sâu về chế độ kế toán mới, tăng cường cập nhật kiến thức và kỹ năng phân tích dữ liệu; đổi mới phương pháp kiểm toán, tăng cường kiểm toán dựa trên đánh giá rủi ro; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và phân tích dữ liệu trong kiểm toán; tăng cường phối hợp giữa cơ quan kiểm toán và đơn vị hành chính sự nghiệp từ đó hỗ trợ các đơn vị trong quá trình chuyển đổi chế độ kế toán, nâng cao chất lượng hệ thống kiểm soát nội bộ và quản lý tài chính tại đơn vị thông qua các ý kiến và kiến nghị kiểm toán kịp thời, hiệu quả.
Tài liệu tham khảo
1. Quốc hội (2015), Luật Kế toán số 88/2015/QH13, ban hành ngày 20/11/2015;
2. Quốc hội (2019), Luật Kiểm toán nhà nước, Luật số 81/2015/QH13, được sửa đổi, bổ sung năm 2019;
3. Bộ Tài chính (2024), Thông tư số 24/2024/TT-BTC ngày 17/4/2024 hướng dẫn Chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp (Văn bản này thay thế các Thông tư 107/2017/TT-BTC, 108/2018/TT-BTC, 76/2019/TT-BTC và 79/2019/TT-BTC, có hiệu lực từ 01/01/2025, Thông tư 70/2019/TT-BTC);
4. Kiểm toán nhà nước (2024), Quyết định số 08/2024/QĐ-KTNN ngày 15/11/2024 ban hành Hệ thống chuẩn mực kiểm toán nhà nước, có hiệu lực từ ngày 30/12/2024;
5. Kiểm toán nhà nước (2025), Quy trình kiểm toán của Kiểm toán nhà nước, ban hành kèm theo Quyết định số 10/2025/QĐ-KTNN ngày 03/3/2025 của Tổng Kiểm toán nhà nước.
Ngày nhận bài: 04/3/2026
Ngày biên tập: 06/3/2026
Ngày duyệt đăng: 10/4/2026
Tác giả:
Nguyễn Thị Thu Trung
Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán
Email:nguyenthutrungktnn@gmail.com
(Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, số tháng 4/2026)