Thứ hai, 12/10/2026

Điện thoại (024) 6287 3463

Đường dây nóng (024) 6287 3463

Liên hệ quảng cáo (+84)915.632.345

Thứ hai, 12/10/2026
Share on Facebook
Copy to Clipboard

Nhìn lại xuất khẩu của Việt Nam năm 2025, giải pháp cho năm 2026 và những năm tiếp theo đến 2030

Năm 2025, xuất khẩu của Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực cả về quy mô, cơ cấu hàng hóa và phát triển thị trường, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Song, trước những diễn biến khó lường về tình hình kinh tế, địa chính trị thế giới và tình hình biến đổi khí hậu, thiên tai, bão lũ gia tăng, năm 2026 và đến 2030 cần những giải pháp đột phá để đảm bảo xuất khẩu tăng nhanh, bền vững. Bài viết này trình bày và phân tích khái quát về tình hình xuất khẩu năm 2025 và đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cho năm 2026 và cả giai đoạn đến 2030.

Từ khóa: Xuất khẩu năm 2025; phát triển kinh tế - xã hội; triển vọng xuất khẩu năm 2026; giải pháp đến 2030.

A Review of Vietnam’s Exports in 2025: Solutions for 2026 and the Outlook to 2030 In 2025, Vietnam's exports achieved positive results in terms of scale, commodity structure, and market development, making a significant contribution to the country’s socio-economic growth. However, in the face of unpredictable global economic and geopolitical developments - compounded by the intensification of climate change, natural disasters, and floods - the period for 2026 and the lead-up to 2030 requires breakthrough solutions to ensure rapid and sustainable export growth. This article presents a general analysis of the export situation in 2025 and proposes several strategic solutions to bolster exports for 2026 and the entire period through 2030.

Keywords: 2025 exports; socio-economic development; 2026 export outlook; solutions to 2030.

JEL classification: F13, F14, O24

https://doi.org/10.65771/ati-jas.01202605

Năm 2025, tình hình kinh tế, địa chính trị thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, tăng trưởng suy giảm, lạm phát gia tăng, các ngân hàng trung ương của nhiều nước thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt; xung đột quân sự Nga - Ukraina và một số quốc gia khác trên thế giới và trong khu vực ngày càng căng thẳng… Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu, thiên tai, bão lũ ngày càng gia tăng và khắc nghiệt, với một chuỗi thiên tai liên tiếp chỉ trong vòng một tháng, 4 trận bão lớn đổ bộ vào Việt Nam với vùng ảnh hưởng rộng và lượng mưa lớn, gây lũ lụt nghiêm trọng, sạt lở và gió mạnh, gây thiệt hại năng nề về người và kinh tế là 99.469 tỷ đồng… ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế Việt Nam, chưa kể hậu quả còn có thể kéo dài. Tất cả những điều trên đã gây ra cho hoạt động kinh tế - xã hội của Việt Nam nhiều khó khăn, thách thức; thị trường bị thu hẹp, các đơn hàng sụt giảm, nhất là các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Trung Quốc, châu Âu. Tổng cầu giảm, ảnh hưởng lớn đến tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, tình hình xuất khẩu của Việt Nam vẫn đạt được những kết quả đáng khích lệ. Bài viết khái quát tình hình xuất khẩu của Việt Nam năm 2025, qua đó đề xuất giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cho năm 2026 - năm đầu tiên của nhiệm kỳ Đại hộị Đảng toàn quốc lần thứ XIV, nhằm phát triển kinh tế - xã hội bền vững trong “kỷ nguyên vươn mình”.

1. Khái quát về tình hình xuất khẩu của Việt Nam năm 2025

Năm 2025, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đã phát triển mạnh, đạt được những thành tựu to lớn, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế - xã hội của đất nước. Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tăng với mức cao, phản ánh trực tiếp việc tăng quy mô xuất khẩu hàng hóa cả trên phương diện số lượng, giá trị và thị trường. Cơ cấu xuất khẩu hàng hóa đã có sự dịch chuyển mạnh mẽ từ xuất khẩu thô sang xuất khẩu hàng chế biến sâu, hàng công nghệ, công nghệ cao; thị trường xuất khẩu truyền thống được giữ vững và phát triển thị trường mới đa dạng và ổn định… thể hiện trên một số phương diện sau:

1.1. Kết quả tích cực

Về quy mô hàng hóa xuất khẩu

Năm 2025, tình hình kinh tế, địa chính trị thế giới có nhiều biến động phức tạp, khó lường, tình trạng ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, thiên tai bão lũ gia tăng, nhiều cơn bão dồn dập vào các tháng cuối năm, gây thiệt hại nặng nề cả về người và tài sản của nhân dân khắp cả nước (hơn 100 người chết và thiệt hại về kinh tế là 99.469 tỷ đồng). Song, xuất khẩu của Việt Nam vẫn đạt mức kỷ lục với 475,04 tỷ USD, tăng 17% so với năm 2024; xuất siêu 20,3 tỷ USD. Trong đó, nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò chủ đạo với kim ngạch xuất khẩu đạt 421,47 tỷ USD, chiếm 88,7% tổng kim ngạch xuất khẩu; trong đó máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 78,5 tỷ USD, điện thoại và linh kiện đạt 44,5 tỷ USD, máy móc, thiết bị và phụ tùng đạt 43,6 tỷ USD; hàng dệt may đạt 30 tỷ USD, giày dép đạt hơn 18 tỷ USD… Thị trường xuất khẩu quan trọng nhất là Mỹ, chiếm khoảng 32% tổng kim ngạch xuất khẩu; nhóm hàng nông, lâm, thủy sản tiếp tục tăng, lập kỷ lục cao nhất từ trước đến nay với hơn 70 tỷ USD, vượt kế hoạch Chính phủ giao (65 tỷ USD), tăng 12% so với năm 2024, riêng thủy sản đạt khoảng 11,3 tỷ USD, tăng hơn 12% so với năm trước, cà phê lập kỷ lục mới, đạt gần 6 tỷ USD, rau quả đạt 7 tỷ USD... Điều quan trọng là, sản phẩm nông, lâm thủy sản đã có sự đổi mới theo hướng tăng cường sản phẩm chế biến sâu, sản phẩm xanh, sạch, thân thiện với môi trường, đáp ứng yêu cầu của các nước nhập khẩu loại hàng này.

Về cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu

Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam năm 2025 được cải thiện theo chiều hướng tích cực, giảm hàng xuất khẩu thô, tăng xuất khẩu sản phẩm chế biến, sản phẩm công nghiệp có hàm lượng khoa học cao, tạo thuận lợi cho hàng hóa Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu. Cụ thể là:

+ Nhóm các mặt hàng công nghiệp, chế biến, hằng năm đều chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Năm 2025 kim ngạch xuất khẩu nhóm này chiếm gần 88,7% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, điện thoại và linh kiện, phụ tùng, phương tiện vận tải, hàng dệt may, giày dép là những mặt hàng có giá trị và tỷ trọng xuất khẩu lớn nhất và có ưu thế từ các doanh nghiệp FDI.

+ Nhóm các mặt hàng nông, lâm, thủy sản tiếp tục tăng và chiếm tỷ trọng khoảng gần 11% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng nhẹ so với năm 2024. Nhưng quan trọng là, sản phẩm nông, lâm, thủy sản đã có sự đổi mới theo hướng tăng cường sản phẩm chế biến sâu, sản phẩm xanh, sạch, thân thiện với môi trường, đáp ứng yêu cầu của các nước nhập khẩu loại hàng này, đồng thời có sự chuyển dịch trong cơ cấu thị trường xuất khẩu các mặt hàng thuộc nhóm này, tạo điều kiện tăng quy mô xuất khẩu và nâng cao sức cạnh tranh.

Nhìn một cách tổng quát, với sự nỗ lực của Việt Nam cùng với sự phục hồi của bên phía cầu, cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam vẫn duy trì sự ổn định hợp lý; các nhóm, mặt hàng chính đều đạt được mức tăng trưởng tích cực; các mặt hàng thuộc nhóm công nghiệp chế biến vẫn duy trì tỷ trọng cao nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu và phục hồi mạnh với mức tăng trưởng hơn 15%. Trong đó, các mặt hàng máy vi tính, điện tử và linh kiện vẫn đóng vai trò chủ lực. Quan trọng hơn, hàng xuất khẩu của Việt Nam đã có sự chú ý đáng kể trong việc giảm xuất khẩu thô, tăng xuất khẩu các mặt hàng chế biến sâu, có hàm lượng công nghệ cao, đáp ứng yêu cầu thị hiếu của thị trường quốc tế.

Về thị trường xuất khẩu

Năm 2025, nhìn chung có sự ổn định tương đối giữa các thị trường truyền thống. Tổng kim ngạch xuất khẩu đến 5 thị trường chính: Hoa kỳ, Trung Quốc, EU, Nhật Bản và Hàn Quốc vẫn đạt cao. Trong đó: Hoa Kỳ vẫn là thị trường dẫn đầu với tổng kim ngạch xuất khẩu là 153,2 tỷ USD, đây là con số kỷ lục, tăng mạnh so với các năm trước do nhu cầu lớn từ thị trường này về các mặt hàng công nghệ, công nghệ cao, dệt may, giày dép, gỗ… Tiếp theo là thị trường Trung Quốc, với tổng kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 70 tỷ USD, tăng hơn 8 tỷ USD so với năm 2024. Đứng thứ ba là khối các quốc gia EU, với tổng kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 50 tỷ USD. Thứ tư là khối các nước ASEAN với tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 37 tỷ USD. Cuối cùng là Nhật Bản, với tổng kim ngạch xuất khẩu giai đoạn này đạt hơn 25 tỷ USD. Hằng năm tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu sang quốc gia này tuy không cao nhưng khá ổn định.

Về chủ thể tham gia xuất khẩu

Số lượng doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng được mở rộng và hoạt động ngày càng hiệu quả. Theo Cục Thống kê - Bộ Tài chính, các doanh nghiệp trong nước năm 2025 đạt kim ngạch xuất khẩu 107,95 tỷ USD, giảm 6,1% so với năm 2024 và chiếm 22,7% tổng kim ngạch. Các doanh nghiệp FDI dẫn đầu và đóng góp lớn cho kim ngạch xuất khẩu hằng năm nói chung và năm 2025 nói riêng. Kim ngạch xuất khẩu năm 2025 của các doanh nghiệp trong khu vực này (kể cả dầu thô) đạt 367,09 tỷ USD, tăng 26,1% và chiếm 77,3% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước và cũng chiếm tỷ trọng cao ở các thị trường lớn, đặc biệt là Hoa Kỳ và EU, trong đó chủ yếu là các mặt hàng công nghiệp chế biến như: hàng điện tử, máy móc, thiết bị, dệt may, giày dép… Điều này thể hiện các doanh nghiệp FDI đã tận dụng tốt hơn những ưu thế của hội nhập quốc tế và đổi mới công nghệ, góp phần chủ yếu trong việc tạo ra xuất siêu cho Việt Nam.

1.2. Một số hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam năm 2025 vẫn còn những hạn chế nhất định như:

Thứ nhất, quy mô hàng hóa xuất khẩu còn nhỏ lẻ, tăng trưởng tuy đạt tốc độ khá cao nhưng về lâu dài thì chưa thật sự bền vững. Nguồn hàng xuất khẩu thiếu tính liên kết, bền vững và dễ bị tác động tiêu cực của thị trường nước ngoài khi có biến động lớn. Khả năng cạnh tranh còn hạn chế ở cả ba cấp độ: cấp độ sản phẩm, cấp độ doanh nghiệp và cấp độ quốc gia. Nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực vẫn là hàng gia công là chính. Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam phụ thuộc lớn vào các doanh nghiệp FDI (năm 2025 chiếm 77,3%)… Khu vực nhà nước tăng chậm (năm 2025 chiểm 22,7%, giảm hơn 6%), giá trị gia tăng còn thấp; chủ yếu là gia công, lắp ráp, phụ thuộc vào nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu và dễ gặp rủi ro, bị động nếu các tập đoàn FDI có sự chuyển dịch chuỗi cung ứng sang các quốc gia khác. Một số nhóm, mặt hàng, đặc biệt là các mặt hàng nông sản, tăng trưởng xuất khẩu vẫn chủ yếu tăng về số lượng và một số thời điểm tăng về giá do thị trường khan hiếm. Hàng xuất khẩu thô, hàm lượng công nghệ thấp vẫn chưa tăng được tăng cao;

Thứ hai, cơ cấu xuất khẩu chậm được cải thiện, tỷ trọng hàng công nghệ cao, hàng nông sản chế biến sâu thương hiệu Việt Nam còn thấp; chưa có các ngành xuất khẩu dẫn dắt bằng công nghệ và sáng tạo;

Thứ ba, xuất khẩu còn phụ thuộc lớn vào một số thị trường như: Hoa Kỳ, Trung Quốc, EU, dễ bị tác động bởi chính sách bảo hộ, điều tra phòng vệ thương mại, biến động chính trị và sự phục hồi chậm của các nền kinh tế lớn, nhất là Hoa Kỳ;

Thứ tư, rào cản kỹ thuật và phòng vệ thương mại, gia tăng các vụ chống bán phá giá, chống trợ cấp; yêu cầu khắt khe trong truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn quốc tế về môi trường, phát thải carbon, trong khi doanh nghiệp của Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa, khó đáp ứng. Còn hiện tượng một số mặt hàng xuất khẩu sang một số thị trường như Hoa kỳ, Australia và New Zealand vi phạm tiêu chuẩn, quy định an toàn sinh học và an toàn thực phẩm, gây ảnh hưởng đến uy tín của hàng hóa Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng trên các thị trường này. Đặc biệt là từ ngày 01/01/2026, vấn đề về thuế đối ứng và Đạo luật Bảo vệ Động vật biển có vú (MMPA) của Mỹ có hiệu lực, cấm nhập khẩu một số loài hải sản của Việt Nam. Đây là thách thức lớn, bởi Mỹ là thị trường chủ lực về thủy sản Việt Nam;

Thứ năm, chi phí logistics còn cao hơn một số quốc gia; năng lực hạ tầng còn bất cập, cảng biển, kho lạnh, logistics nông sản chưa đồng bộ; kết nối giao thông đường sắt, đường thủy, đường bộ và đường hàng không còn yếu kém, làm giảm nhiều sức cạnh tranh về giá của hàng xuất khẩu;

Thứ sáu, sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI chưa chặt chẽ, cùng với đó, công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam chưa phát triển, tỷ lệ nội địa hóa thấp, gây không ít cản trở cho việc tăng xuất khẩu.

Tuy nhiên, tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam vẫn còn rất lớn. Với mục tiêu phát triển xuất khẩu bền vững trên cơ sở cơ cấu cân đối, hài hòa, phát huy lợi thế cạnh tranh, lợi thế so sánh, phát triển thương hiệu hàng hóa Việt Nam; nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu, là động lực phát triển kinh tế nhanh và bền vững, cần tìm ra các giải pháp đột phá, thúc đẩy xuất khẩu bền vững, khả thi trong bối cảnh kinh tế, chính trị thế giới hiện nay và trong những năm tới.

2. Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cho năm 2026 và những năm tiếp theo đến 2030

2.1. Quan điểm xuất khẩu đến 2030

Trên cơ sở “mục tiêu phát triển xuất nhập khẩu bền vững với cơ cấu cân đối, hài hòa, phát huy lợi thế cạnh tranh, lợi thế so sánh, phát triển thương hiệu hàng hóa Việt Nam, nâng vao vị thế quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu, là động lực của tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, Bộ Công Thương đã xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, ban hành Quyết định số 493/QĐ-TTg ngày 19/4/2022, phê duyệt Chiến lược xuất khẩu hàng hóa đến năm 2030, trên 3 quan điểm cơ bản xuyên suốt”.

Thứ nhất, phát triển xuất khẩu bền vững trên cơ sở hài hòa về cơ cấu hàng hóa, cơ cấu thị trường và cán cân thương mại với từng thị trường và khu vực thị trường; hài hòa giữa các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn; hài hòa cơ hội tham gia và hưởng thụ thành quả tăng trưởng xuất khẩu; gắn với thương mại xanh và thương mại công bằng, với bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Thứ hai, phát triển xuất khẩu hàng hóa gắn với đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật, khoa học - công nghệ; chuyển đổi số; phát triển kinh tế số; phát triển nền sản xuất xanh, sạch, bền vững, tuần hoàn và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; nâng cao hàm lượng khoa học - công nghệ trong sản phẩm xuất khẩu; xây dựng thương hiệu hàng hóa Việt Nam trong xuất khẩu.

Thứ ba, phát triển xuất khẩu gắn với quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành và địa phương nhằm phát huy hiệu quả cạnh tranh, khai thác hiệu quả, cơ hội và hạn chế tác động của các thách thức trong thực thi cam kết hội nhập kinh tế quốc tế; tham gia sâu vào chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu. Theo đó, hằng năm, ngay từ những tháng của quý 4 năm trước, các bộ, ngành và địa phường cần lập kế hoạch tổng thể phát triển ngành kinh tế trọng điểm, có lợi thế, đảm bảo sự cân đối, hài hòa trong sản xuất nhằm tránh tình trạng sản xuất dư thừa. Mặt khác, cần phát huy thế mạnh của sản phẩm của từng vùng để đảm bảo nâng cao tính cạnh tranh.

2.2. Giải pháp

Để phát triển xuất khẩu cho năm 2026 và những năm tiếp theo đến 2030, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp, trong đó, tập trung vào một số giải pháp chủ yếu sau:

Thứ nhất, rà soát để bổ sung, chỉnh sửa cơ chế, chính sách kinh tế, chính sách xuất khẩu theo hướng ổn định, dài hạn.

Việc rà soát cơ chế, chính sách kinh tế, thương mại, xuất khẩu phải được thực hiện một cách thường xuyên để đảm bảo phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội cũng như bối cảnh quốc tế. Duy trì sự ổn định môi trường kinh tế vĩ mô thông qua việc hoàn thiện chính sách đầu tư, tài chính, cân đối ngân sách, ổn định tiền tệ, quản lý, điều hành giá, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển; đơn giản hóa thủ tục hành chính, thủ tục thành lập doanh nghiệp, thủ tục xuất, nhập khẩu; chủ động phòng vệ thương mại… Theo đó, cần rà soát lại hệ thống các văn bản pháp luật và cơ chế, chính sách nhằm phát hiện những hạn chế, không còn phù hợp với thực tế cũng như không phù hợp với quy định quốc tế và các cam kết trong các Hiệp định thương mại song phương và đa phương. Tháo gỡ các rào cản về hệ thống pháp luật và chính sách kinh tế, tài chính đối với hoạt động xuất khẩu hàng hóa. Tăng cường quản lý nhà nước trong hoạt động xuất khẩu nhằm tạo điều kiện cho thương mại phát triển, chống gian lận thương mại và hướng tới thương mại công bằng. Hướng dẫn, hỗ trợ các doanh nghiệp áp dụng và đạt các chứng chỉ về tăng trưởng xanh, tăng trưởng bền vững, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế và tiêu chuẩn của các thị trường mục tiêu. Đảm bảo công bằng trong hoạt động xuất khẩu. Trên cơ sở đó, bổ sung, chỉnh sửa các chính sách cho phù hợp. Chủ động tham gia xây dựng các quy tắc và luật lệ chung của Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO), Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC); tích cực bảo vệ lợi ích chính đáng của Nhà nước, của doanh nghiệp và người tiêu dùng Việt Nam trong các tranh chấp kinh tế, thương mại và đầu tư quốc tế. Xây dựng thể chế kinh tế thị trường Việt Nam hiện đại, đảm bảo tính hệ thống, công khai, minh bạch và ổn định; đảm bảo thuận lợi cho xuất khẩu bền vững; thúc đẩy chế biến sâu, có hàm lượng công nghệ cao.

Thứ hai, cơ cấu lại các ngành sản xuất, dịch vụ, chuyển mạnh từ tăng sản lượng sang tăng giá trị; phát triển các ngành xuất khẩu giá trị gia tăng cao như các ngành điện tử, bán dẫn, cơ khí chính xác, thiết bị công nghiệp, công nghiệp sinh học, dược phẩm, nông nghiệp chế biến sâu, thực phẩm chức năng; giảm xuất khẩu sản phẩm thô, hạn chế xuất khẩu khoáng sản, nông sản sơ chế; gắn xuất khẩu với chuỗi chế biến - thương hiệu - logistics; tập trung trọng tâm vào xuất khẩu công nghệ, công nghệ cao, trí tuệ và thương hiệu Việt Nam; xây dựng thương hiệu quốc gia và thương hiệu doanh nghiệp; hình thành doanh nghiệp xuất khẩu đầu tàu, dẫn dắt của Việt Nam, đặc biệt hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân lớn vươn ra quốc tế; tạo nguồn cung đầy đủ, bền vững cho xuất khẩu; khuyến khích các dự án, các nghiên cứu về vật liệu mới, sản xuất và xuất khẩu sản phẩm, hàng hóa thân thiện với môi trường, sản phẩm có hàm lượng khoa học, công nghệ cao.

Thứ ba, tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia trong hoạt động xuất khẩu

Đổi mới mô hình tăng trưởng theo chiều sâu và ngày càng nâng cao chất lượng; cơ cấu lại ngành và doanh nghiệp trên cơ sở sử dụng hiệu quả các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến, nhất là Cách mạng công nghiệp 4.0, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh. Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, có khả năng kết nối cao; chuyển nền kinh tế từ khai thác và sử dụng tài nguyên dưới dạng thô sang chế biến sâu, nâng cao giá trị gia tăng của hàng hóa; xây dựng các trung tâm logicstics vùng, quốc gia để tham gia mạng lưới logicstic khu vực và quốc tế; phân tích, đánh giá khả năng cạnh tranh của từng ngành hàng, từng loại sản phẩm, dịch vụ, từng địa phương để có phương án nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Phát triển mạnh mẽ khu vực tư nhân để trở thành động lực quan trọng và thực sự của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo Nghị quyết số 68-NQ/ TW ngày 04/5/2025. Phát triển mạnh các liên kết kinh tế, tăng cường nguồn lực đầu tư cho phát triển sản xuất hàng hóa theo chiều sâu. Đầu tư phát triển thương hiệu quốc gia và đảm bảo sự hỗ trợ của Nhà nước cho các doanh nghiệp đăng ký bảo hộ nhãn hiệu trên thị trường quốc tế; khuyến khích hình thành các vùng sản xuất hàng xuất khẩu chủ lực tập trung, tạo nguồn hàng xuất khẩu quy mô lớn và có chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế.

Thứ tư, nâng cao năng lực cạnh trạnh của sản phẩm, dịch vụ và của các doanh nghiệp xuất khẩu. Theo đó, doanh nghiệp cần phải đổi mới chiến lược và phương thức sản xuất, kinh doanh; tăng cường mối quan hệ và tích cực chủ động tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, tham gia vào mạng lưới sản xuất, phân phối khu vực và quốc tế; tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu; đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số và kinh doanh trên nền tảng số của doanh nghiệp. Phát triển đa dạng hóa các phương thức xuất khẩu, kết hợp phương thức truyền thống với phương thức xuất khẩu hiện đại. Đẩy mạnh áp dụng thương mại điện tử xuyên biên giới và tham gia các sàn thương mại điện tử quốc tế. Tiếp tục đổi mới cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng giảm hàng xuất khẩu thô, tăng xuất khẩu sản phẩm chế biến, sản phẩm công nghiệp có hàm lượng khoa học cao. Tổ chức quy trình sản xuất hiện đại, áp dụng phương thức quản lý tiên tiến nhằm tiết kiệm chi phí đầu vào để giảm giá thành sản phẩm hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu. Đổi mới quy cách, mẫu mã sản phẩm, mẫu mã bao bì nhằm phù hợp thị hiếu người tiêu dùng từng khu vực thị trường. Nâng cao năng lực quản trị của đội ngũ lãnh đạo các cấp thông qua đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý xuất, nhập khẩu. Có chiến lược đào tạo hợp lý; kết hợp với các cơ sở giáo dục đào tạo, các viện nghiên cứu chuyên ngành để xây dựng và thực hiện các chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ và kiến thức công nghệ thông tin nhằm bắt kịp với thời đại công nghệ số. Xây dựng quy trình quản trị phù hợp, tăng cường thực hiện phân cấp, phân quyền và chế độ thưởng, phạt nghiêm minh trong doanh nghiệp… Trên cơ sở đó, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ hàng hóa xuất khẩu.

Thứ năm, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu: đẩy mạnh đàm phán song phương, đa phương với các thị trường, khu vực thị trường trọng điểm, nhiều tiềm năng; tăng cường các hoạt động xúc tiến xuất khẩu theo hướng chú trọng mở rộng thị trường sang các nước đang phát triển, các thị trường tiềm năng và thị trường mới nổi Trung Đông - châu Phi, Nam Á, Mỹ Latin… Phát triển xuất khẩu theo chiều sâu tới những thị trường truyền thống như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, các nước ASEAN…

Thứ sáu, khai thác, tận dụng hiệu quả các lợi thế do các FTA thế hệ mới đem lại. Việc áp thuế suất thấp hoặc bằng 0% đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam trong các FTA Việt Nam đã ký kết và thực thi là động lực thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam. Doanh nghiệp cần tìm hiểu kỹ lưỡng và tận dụng những ưu đãi từ các FTA thế hệ mới đem lại như: CPTPP, EVFTA, UKVFTA, RCEP; phát triển thị trường ngách, thị trường cao cấp… để thâm nhập thị trường, tăng trưởng xuất khẩu đạt hiệu quả cao và bền vững.

Thứ bảy, thúc đẩy phát triển kinh tế số, tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội nói chung và cho hoạt động xuất khẩu nói riêng một cách bền vững. Theo đó, cần đẩy mạnh 3 đột phá chiến lược số, bao gồm thể chế số, hạ tầng số và nguồn lực số. Trên cơ sở đó tăng tốc độ phát triển lực lượng sản xuất mới, chất lượng cao, chuyên nghiệp; tăng cường đầu tư phát triển khoa học công nghệ, xây dựng các trung tâm công nghệ cao, thu hút đầu tư nước ngoài của các công ty đa quốc gia nhằm từng bước rút ngắn khoảng cách về công nghệ với các nước trên thế giới, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận và tăng tính thanh khoản các nguồn vốn đầu tư cho nghiên cứu phát triển. Tăng cường đổi mới công nghệ và sản phẩm mang tính sáng tạo.

Thứ tám, tăng cường hoạt động thông tin, truyền thông trong xuất khẩu: đẩy mạnh thông tin truyền thông về xuất khẩu, về các thị trường quốc tế, các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam. Bộ Công thương cần chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị phát hành các ấn phẩm thông tin về xuất khẩu. Nhà nước cần có sự đầu tư thỏa đáng để có cơ sở dữ liệu, phát triển mạnh cơ sở dữ liệu điện tử dùng chung và liên thông quốc gia để hỗ trợ xuất khẩu.

Kết luận

Phát huy kết quả tích cực trong xuất khẩu năm 2025, nhận thức đầy đủ những khó khăn, thách thức trong thời gian tới của kinh tế thế giới và trong nước, Việt Nam với sự nỗ lực, phát huy tính chủ động sáng tạo trong lãnh đạo chỉ đạo của các cấp Đảng, Chính quyền từ trung ương đến địa phương và sự đồng thuận, khắc phục khó khăn, vượt qua mọi thách thức của cộng đồng doanh nghiệp và người dân, xuất khẩu của Việt Nam sẽ có sự phát triển kỷ lục, hoàn thành vượt mức mục tiêu “Chiến lược xuất khẩu hàng hóa đến năm 2030”.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Công Thương, “Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2021-2030”;

2. Bộ Tài chính - Cục Thống kê, “Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025;

3.Moit.vov.vn/bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang/chien-luoc-xuat-nhap-khau-hang-hoa-cua-vietnam-den-2030.html. Ngày 29 tháng 4 năm 2022;

4.Trungtamwto.vn/chuyen-de/31526-10-su-kien-noi-bat-cua-kinh-te-viet-nam-nam-2025- ngày đăng 31/12/2025;

5.Xaydungchinhsach.chinhphu.vn/xuat-nhap-khau-2025-ky-luc-kim-ngach-thac-thc-chat-luongtang-truong-119251229082019746.html. Cập nhật 02/01/2026.

Tác giả:

GS.TS Ngô Thế Chi - Học viện Tài chính

(Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, số tháng 2/2026)

 

Lượt xem: 19

Các đầu tàu kinh tế trước áp lực bứt tốc hai con số trong quý IV

Để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP cả năm 2026 ở mức hai con số, Chính phủ yêu cầu các địa phương có quy mô kinh tế lớn phát huy mạnh hơn vai trò dẫn dắt. Trong khi Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh phải tăng tốc đáng kể, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh cần duy trì đà tăng trưởng cao, thúc đẩy đầu tư, sản xuất và tiêu dùng. Áp lực tăng trưởng dồn vào những tháng cuối năm Theo Nghị quyết số 312/NQ-CP ngày 5/10/2026 của Chính phủ, GDP quý III ước tăng 9,95% so với cùng kỳ, đưa mức tăng trưởng 9 tháng lên 9,01%. Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số cả năm, GDP quý IV phải tăng trên 12,5%. Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 9/2026, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nhấn mạnh, đây là nhiệm vụ rất nặng nề, đòi hỏi các bộ, ngành, địa phương nỗ lực cao nhất. Đặc biệt, các cực tăng trưởng lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đồng Nai, Bắc Ninh phải khai thác mạnh hơn dư địa, đóng góp nhiều hơn cho tăng trưởng cả nước. Yêu cầu này được lượng hóa trong kịch bản tăng trưởng quý IV ban hành kèm Nghị quyết số 312/NQ-CP. Nguồn: Nghị quyết số 312/NQ-CP ngày 5/10/2026 về Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 9 năm 2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương Theo đó, Thành phố Hồ Chí Minh, địa phương chiếm 23,3% tổng GRDP cả nước năm 2025, đạt mức tăng trưởng 9,06% trong 9 tháng. Để hoàn thành mục tiêu 10,2% cả năm, Thành phố cần tăng 13,23% trong quý IV. Trong khi đó, Hà Nội phải đạt 16,55% trong quý cuối năm, sau khi tăng 8,85% trong 9 tháng, để hoàn thành mục tiêu 11%. Hải Phòng tăng trưởng 12,08% sau 9 tháng nhưng vẫn cần đạt 15,39% trong quý IV để hoàn thành mục tiêu 13% cả năm. Bắc Ninh cần tăng 14,37%, Quảng Ninh 14,24%. Riêng Đồng Nai, với mức tăng trưởng 10,01% sau 9 tháng, được yêu cầu duy trì tốc độ, tối thiểu đạt 9,98% trong quý IV và phấn đấu cao hơn. Đáng chú ý, Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội chiếm tới 35,7% tổng GRDP cả nước năm 2025. Nếu tính thêm Hải Phòng, Đồng Nai, Bắc Ninh và Quảng Ninh, tỷ trọng của sáu địa phương đạt 53,7%. Vì thế, kết quả của nhóm này có ảnh hưởng lớn tới tăng trưởng chung. Để hiện thực hóa kịch bản, Chính phủ yêu cầu từng địa phương xác định rõ dư địa tăng trưởng, tập trung tháo gỡ khó khăn cho những dự án có khả năng sớm hoàn thành, đưa vào khai thác và doanh nghiệp có khả năng mở rộng sản xuất, kinh doanh. Các cực kinh tế dồn lực cho đầu tư, sản xuất Đối với Thủ đô Hà Nội, đầu tư công và phát triển hạ tầng tiếp tục là những động lực quan trọng. Các dự án như đường Vành đai 4 - Vùng Thủ đô, tuyến kết nối sân bay Gia Bình không chỉ thúc đẩy hoạt động xây dựng mà còn mở rộng không gian phát triển công nghiệp, đô thị và dịch vụ. Theo GS.TS. Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, Thành phố Hà Nội có quy mô đầu tư công đứng đầu cả nước, công tác giải phóng mặt bằng phức tạp nhưng tiến độ giải ngân vẫn thuộc nhóm dẫn đầu. Điều này cho thấy vai trò quan trọng của năng lực thực thi trong huy động và sử dụng nguồn lực phát triển. Với Thành phố Hồ Chí Minh, dư địa tăng trưởng gắn với đầu tư hạ tầng, phát triển thị trường và các ngành dịch vụ giá trị gia tăng cao. Những công trình như Vành đai 3, Vành đai 4, tuyến cao tốc kết nối Thành phố Hồ Chí Minh - Mộc Bài cùng định hướng phát triển Trung tâm Tài chính quốc tế được kỳ vọng tạo thêm động lực dài hạn. Trước mắt, Thành phố cần đẩy nhanh tiến độ dự án, tháo gỡ vướng mắc về đất đai, thủ tục đầu tư, đồng thời thúc đẩy tiêu dùng, thương mại và du lịch. Ở phía Bắc, Hải Phòng phát huy lợi thế công nghiệp, cảng biển, logistics và liên kết vùng để thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu. Trong khi đó, Quảng Ninh có dư địa từ công nghiệp chế biến, chế tạo, đầu tư ngoài ngân sách và du lịch. Một góc Thành phố Hải Phòng Theo GS.TS. Hoàng Văn Cường, công nghiệp chế biến, chế tạo của Quảng Ninh trong 8 tháng đầu năm tăng 31,77% so với cùng kỳ, vốn đầu tư ngoài ngân sách trong nước đạt 182.732 tỷ đồng. Đây là những nguồn lực quan trọng để địa phương duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Bắc Ninh cũng đang phát huy lợi thế về công nghiệp điện tử, thu hút đầu tư và tham gia chuỗi cung ứng quốc tế. Quy hoạch chung đô thị Bắc Ninh được phê duyệt trong tháng 7/2026 xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực phát triển, hướng tới hình thành trung tâm công nghiệp điện tử, bán dẫn và trí tuệ nhân tạo. Trong khi đó, Đồng Nai tập trung phát huy lợi thế công nghiệp, thúc đẩy các dự án hạ tầng kết nối như Biên Hòa - Vũng Tàu, Dầu Giây - Tân Phú và các tuyến giao thông liên vùng. Để tạo thêm động lực trong quý cuối năm, Chính phủ yêu cầu đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công, phấn đấu hoàn thành 100% kế hoạch được giao. Theo đó, Hà Nội tăng cường theo dõi tiến độ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và các dự án xây dựng; Hải Phòng tập trung xử lý dự án tồn đọng, phát triển hạ tầng công nghiệp; Quảng Ninh triển khai đợt cao điểm 90 ngày đêm hoàn thành nhiệm vụ cuối năm. Tuy nhiên, tăng trưởng không thể chỉ dựa vào gia tăng đầu tư. GS.TS. Hoàng Văn Cường cho rằng, điểm nghẽn phát triển đang dịch chuyển từ thể chế, chính sách sang năng lực tổ chức thực thi. Phân quyền mạnh hơn nhưng nếu thiếu nhân lực, dữ liệu và hạ tầng số, hiệu quả giải quyết công việc khó cải thiện tương ứng. Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mới 2026 mới đây, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ chủ trương đúng sang đột phá trong thực thi. Kết quả phải thể hiện bằng những thay đổi cụ thể trong môi trường kinh doanh, năng lực quản trị địa phương và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Đặc biệt, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương lưu ý, đầu tư công phải trở thành vốn mồi dẫn dắt đầu tư xã hội, trong khi nguồn vốn dài hạn cần được phân bổ vào những dự án chất lượng, hiệu quả và minh bạch. Đồng thời, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải thực sự tạo ra năng suất, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh. Như vậy, kết quả tăng trưởng quý IV không chỉ quyết định khả năng hoàn thành mục tiêu GDP hai con số năm 2026, mà còn phản ánh hiệu quả điều hành, sử dụng nguồn lực của từng địa phương, tạo nền tảng phát triển cho năm 2027.

Kinh tế tăng trưởng 9,01%, vì sao VN-Index vẫn chưa bứt phá?

Kinh tế Việt Nam tăng tốc mạnh trong 9 tháng đầu năm 2026, với GDP tăng 9,01%, riêng quý III tăng 9,95% - mức cao nhất trong 4 năm. Tuy nhiên, VN-Index vẫn giảm 0,89%, VN30 giảm 6,10%, trong khi khối ngoại bán ròng khoảng 97.200 tỷ đồng trên HOSE. Sự lệch pha cho thấy tăng trưởng kinh tế chưa lập tức chuyển thành dòng tiền và mức định giá cao hơn trên thị trường chứng khoán. Theo báo cáo “Cập nhật tình hình vĩ mô 9 tháng đầu năm 2026” của TCBS Research, GDP tăng tốc qua từng quý, từ 8,15% trong quý I lên 8,81% quý II và 9,95% quý III, đưa mức tăng 9 tháng lên 9,01%. Đáng chú ý, đà tăng này được củng cố bởi nhiều chỉ báo độc lập: khối lượng hàng hóa vận chuyển tăng 15,8%, thu ngân sách tăng 12,1%, xuất khẩu theo tờ khai hải quan tăng 24,5% và PMI duy trì trên ngưỡng 50 trong 15 tháng liên tiếp. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán lại chưa phản ánh tương xứng. Sau 9 tháng, VN-Index giảm 0,89% so với cuối năm 2025, VN30 giảm 6,10%, thanh khoản bình quân giảm 26,9%, còn khối ngoại bán ròng khoảng 97.200 tỷ đồng trên HOSE. Nền kinh tế đang tăng tốc, nhưng dòng tiền trên thị trường cổ phiếu chưa chạy cùng nhịp. Tăng trưởng đang dựa nhiều hơn vào đầu tư Điểm đáng chú ý trong bức tranh kinh tế 9 tháng là động lực tăng trưởng đang nghiêng về phía đầu tư và mở rộng năng lực sản xuất. Khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 11,21%, đóng góp 49,62% vào mức tăng chung. Riêng công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,36%, đóng góp 33,85%, trong khi xây dựng tăng 12,22%. Khu vực dịch vụ tăng 8,69%; nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,02%. Ở phía sử dụng, tích lũy tài sản tăng 17,88%, riêng quý III tăng 21,39%, cao hơn đáng kể mức tăng 8,51% của tiêu dùng cuối cùng. Vốn đầu tư toàn xã hội 9 tháng đạt 3.109,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1%. Điều này cho thấy tăng trưởng hiện không đơn thuần đến từ việc người dân chi tiêu nhiều hơn, mà đang được hỗ trợ mạnh bởi quá trình tích lũy tài sản, xây dựng và mở rộng sản xuất. Số liệu về công nghiệp cũng củng cố nhận định này. IIP 9 tháng tăng 12,3%, riêng quý III tăng 14,8%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%. Chỉ số tiêu thụ ngành chế biến, chế tạo tăng 12,8%, cao hơn mức 9,1% cùng kỳ năm 2025. Sản lượng công nghiệp tăng ở cả 34/34 địa phương. TCBS đánh giá đây là dấu hiệu cho thấy chất lượng tăng trưởng được cải thiện, khi lao động có việc làm chỉ tăng khoảng 1,3%, trong khi năng suất lao động ước tăng khoảng 7,6%. Đáng chú ý, tín dụng đến cuối tháng 9 tăng 11,59%, thấp hơn mức 13,37% cùng kỳ, trong khi GDP lại tăng nhanh hơn. Dòng vốn đang đi vào năng lực sản xuất Một chi tiết đáng chú ý khác nằm ở cơ cấu nhập khẩu. 9 tháng, nhập khẩu đạt 453,72 tỷ USD, tăng 36,7%. Trong đó, máy móc, thiết bị chiếm 58,3%, nguyên, nhiên vật liệu chiếm 35,8%, còn hàng tiêu dùng chỉ chiếm 5,9%. Như vậy, 94,1% hàng nhập khẩu là tư liệu sản xuất. Theo TCBS, mức nhập siêu 19,42 tỷ USD trong bối cảnh này phần lớn phản ánh một nền kinh tế đang mở rộng công suất hơn là tiêu dùng vượt khả năng. Dòng vốn ngoại cũng cho thấy xu hướng tương tự. Vốn FDI đăng ký đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4%, trong khi FDI thực hiện đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% và là mức cao nhất trong 5 năm. TCBS cho rằng dòng vốn đăng ký hiện tại có thể trở thành “đường ống” năng lực sản xuất cho giai đoạn 2027-2030 khi các dự án đi vào vận hành. Chuỗi vận động của dòng vốn cũng khá rõ: đầu tư toàn xã hội tăng 15,1%, xây dựng tăng 12,22%, vận tải và kho bãi tăng 11,03%, FDI thực hiện tăng 12,1%, chế biến chế tạo tăng 11,36%, xuất khẩu tăng 24,5% và thu nhập người lao động tăng 9%. Đây là nền tảng quan trọng để kỳ vọng lợi nhuận doanh nghiệp cải thiện. Nhưng lợi nhuận tăng chưa đủ để thị trường chứng khoán tăng giá. Ba “trạm” khiến tăng trưởng chưa chuyển thành định giá Theo TCBS, một chỉ tiêu vĩ mô chỉ đến được giá cổ phiếu khi đi qua ba trạm: lãi suất, lợi nhuận doanh nghiệp và dòng tiền. Trong ba yếu tố này, lợi nhuận đang thuận lợi nhất. GDP quý III tăng 9,95%, IIP tăng 14,8%, tiêu thụ ngành chế biến, chế tạo tăng 12,8% - những dữ liệu hỗ trợ triển vọng lợi nhuận của các nhóm sản xuất, hạ tầng và logistics. Ngược lại, trạm lãi suất đang trở nên khó khăn hơn. CPI bình quân 9 tháng tăng 4,52%, vượt nhẹ mục tiêu khoảng 4,5%; riêng tháng 9 tăng 5,08%, trong khi lạm phát cơ bản tăng 4,26%. Khi lạm phát vượt mục tiêu, dư địa nới lỏng tiền tệ trở nên hạn chế. Nói cách khác, tăng trưởng cao không đồng nghĩa với việc thị trường có thêm một môi trường tiền rẻ để đẩy định giá cổ phiếu lên. Ở trạm thứ ba, dòng tiền cũng chưa đảo chiều. Khối ngoại đã bán ròng khoảng 97.200 tỷ đồng trên HOSE trong 9 tháng; riêng tháng 9 còn bán ròng khoảng 4.500 tỷ đồng. Thanh khoản bình quân giảm 26,9% so với cùng kỳ. Vì vậy, dù nền kinh tế tạo ra thêm sản lượng và triển vọng lợi nhuận được cải thiện, thị trường vẫn thiếu một yếu tố quan trọng để tái định giá: dòng tiền. Một lý do khác khiến thị trường chưa thể hoàn toàn lạc quan là những tín hiệu sớm từ khu vực sản xuất. Chỉ số quản lý mua sắm (PMI) tháng 9 đạt 51,9 điểm, tiếp tục trên ngưỡng 50 và đánh dấu tháng thứ 15 liên tiếp mở rộng. Tuy nhiên, đơn hàng mới tăng chậm nhất 5 tháng, chủ yếu nhờ cầu trong nước. Đáng chú ý, đơn hàng xuất khẩu mới giảm tháng thứ hai liên tiếp, với mức giảm mạnh nhất kể từ tháng 4. Trong khi đó, tồn kho ngành chế biến tại ngày 30/9 tăng 11,9% so với cùng kỳ. Như vậy, sản lượng hiện tại vẫn rất mạnh, nhưng thị trường đang phải nhìn xa hơn con số GDP của 9 tháng để đánh giá đơn hàng và lợi nhuận của các quý tới. Sức khỏe doanh nghiệp cũng chưa hoàn toàn đồng đều. Tháng 9, số doanh nghiệp thành lập mới giảm 31,1%, trong khi số doanh nghiệp hoàn tất giải thể tăng 89,3%. TCBS cho rằng điều này cho thấy độ lan tỏa của tăng trưởng chưa đồng đều, đặc biệt giữa doanh nghiệp quy mô lớn và khu vực doanh nghiệp nhỏ. Khoảng cách giữa GDP và chứng khoán vì thế không hẳn phản ánh việc thị trường “bỏ qua” tăng trưởng. Ngược lại, thị trường đang đặt ra những yêu cầu cao hơn đối với chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng. Trong quý IV, nhà đầu tư sẽ phải theo dõi sát diễn biến CPI, tín dụng, đơn hàng xuất khẩu và tồn kho. TCBS ước tính hệ thống tín dụng cần tăng thêm khoảng 3,4 điểm % trong ba tháng cuối năm để tiến gần định hướng khoảng 15% cả năm. Nếu tăng trưởng tiếp tục chuyển hóa thành lợi nhuận doanh nghiệp, lạm phát được kiểm soát và dòng tiền quay trở lại, khoảng cách giữa nền kinh tế và thị trường vốn có thể thu hẹp. Ngược lại, nếu lạm phát tiếp tục tăng, đơn hàng xuất khẩu suy yếu và dòng tiền chưa cải thiện, tốc độ tăng GDP cao cũng chưa đủ để tạo ra một mặt bằng định giá mới.

Dòng vốn cho tăng trưởng chuyển sang nhiều kênh

Nhu cầu đầu tư gia tăng cùng mục tiêu tăng trưởng cao đang thúc đẩy việc mở rộng các nguồn vốn trung, dài hạn. Đi cùng quy mô vốn là yêu cầu nâng hiệu quả phân bổ, chất lượng dự án và phát triển cân bằng các kênh huy động. Vốn lớn hơn, hiệu quả cao hơn Bức tranh tăng trưởng năm 2026 cho thấy vai trò ngày càng nổi bật của đầu tư. Báo cáo Triển vọng Phát triển châu Á của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cho biết, GDP Việt Nam tăng 8,2% trong nửa đầu năm, trong khi tổng vốn hình thành tài sản tăng 15,2%, phản ánh hoạt động đầu tư mạnh từ khu vực công, FDI và tư nhân. Vì thế, nhiều tổ chức quốc tế đã nâng dự báo tăng trưởng của Việt Nam, bởi những hỗ trợ từ sản xuất, nhu cầu trong nước, đầu tư công và FDI. Tuy nhiên, báo cáo của ADB cũng lưu ý, đầu tư và tín dụng tăng nhanh có thể làm gia tăng những điểm dễ tổn thương về tài chính và thu hẹp không gian chính sách. Theo ông Bùi Minh Giáp, Chuyên gia kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam, tăng trưởng của Việt Nam có sự đóng góp của nhiều động lực, từ công nghiệp, xây dựng, dịch vụ đến tiêu dùng, đầu tư công, FDI và thương mại. Trong đó, hoạt động đầu tư đang diễn ra mạnh. Tuy nhiên, trọng tâm không chỉ nằm ở lượng vốn đưa vào nền kinh tế. Việt Nam phải nâng hiệu quả sử dụng vốn và lao động để cải thiện năng suất tổng hợp, đồng thời phát triển hạ tầng kết nối và chất lượng nguồn nhân lực. Với đầu tư công, ông Bùi Minh Giáp cho rằng, bên cạnh tiến độ giải ngân, vốn phải tập trung vào những dự án có chất lượng, khả năng lan tỏa và dẫn dắt đầu tư tư nhân, chẳng hạn các dự án giảm chi phí logistics, tăng an ninh năng lượng hoặc cải thiện kết nối vùng. Nếu lựa chọn được dự án hiệu quả, tác động trung và dài hạn sẽ khác với việc đẩy vốn chủ yếu nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng trước mắt. Quy mô nguồn lực trong những năm tới cũng rất lớn. Theo phân tích của Ngân hàng UOB, Việt Nam cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 1,5 nghìn tỷ USD vốn đầu tư trong giai đoạn 2026-2030 để hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao. Nguồn lực này phục vụ hạ tầng, kinh tế xanh, công nghệ, mở rộng năng lực sản xuất, giáo dục và y tế. Tại buổi làm việc với Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) ngày 28/9/2026, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cũng nhấn mạnh, trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng 2 con số, nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế rất lớn. Việc huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực tài chính không chỉ đáp ứng yêu cầu trước mắt mà còn phục vụ các mục tiêu phát triển dài hạn, bền vững. Mở rộng các kênh vốn Theo Ngân hàng Nhà nước, tổng dư nợ của IFC tại Việt Nam hiện đạt 2,6 tỷ USD, trong khi tổng vốn cam kết trong tài khóa 2026 đạt 3 tỷ USD, bao gồm vốn ngắn hạn và dài hạn. Ông Arnaud Dupoizat, Giám đốc IFC khu vực Đông Á và Thái Bình Dương cho biết, IFC mong muốn tiếp tục mở rộng đầu tư, huy động vốn quốc tế và hỗ trợ khu vực tư nhân Việt Nam, trong đó chú trọng doanh nghiệp nhỏ và vừa, nông nghiệp và các dự án phát triển dài hạn. Đáng chú ý, IFC sẽ tập trung phát triển các công cụ tài chính trên thị trường vốn để bổ trợ cho nguồn vốn ngân hàng, nhất là đối với dự án dài hạn và hạ tầng; đồng thời huy động thêm nguồn lực quốc tế thông qua cơ chế đồng tài trợ và tăng kết nối nhà đầu tư quốc tế với Việt Nam. Chia sẻ thêm về hướng đa dạng hóa nguồn vốn, bà Jing Zhao, chuyên gia cao cấp về tài chính của Ngân hàng Thế giới cho rằng, việc lựa chọn nguồn tài trợ nên gắn với đặc điểm dự án. Với những dự án có ý nghĩa xã hội lớn nhưng khả năng thu hồi vốn thấp, nguồn lực công giữ vai trò chủ đạo. Trong khi đó, với các dự án có khả năng tạo doanh thu nhưng chưa đủ hấp dẫn nhà đầu tư, vốn công hoặc vốn ưu đãi có thể tham gia để chia sẻ rủi ro, qua đó thu hút thêm nguồn vốn tư nhân. Bà Jing Zhao cũng đề cập, các quỹ hưu trí, doanh nghiệp bảo hiểm và hình thức đầu tư tập thể như những nguồn vốn có đặc điểm kỳ hạn phù hợp với các khoản đầu tư dài hạn. Việc mở rộng sự tham gia của các tổ chức này phải đi cùng nâng cao năng lực đầu tư và phát triển nguồn dự án phù hợp. Cấu trúc các kênh huy động càng đáng chú ý khi ADB, cho biết dư nợ tín dụng tại Việt Nam đến cuối năm 2025 tương đương 145% GDP, trong khi thị trường trái phiếu doanh nghiệp khoảng 10% GDP. Theo ADB, chênh lệch kỳ hạn và bộ đệm vốn đặt ra yêu cầu thận trọng đối với việc tài trợ những dự án hạ tầng quy mô lớn, có thời gian thu hồi vốn dài. Ông Bùi Minh Giáp lưu ý, định hướng này không nhằm giảm vai trò của ngân hàng mà hướng tới một cấu trúc tài chính cân bằng hơn, trong đó các kênh vốn bổ trợ lẫn nhau. Để thị trường vốn đảm nhiệm tốt hơn vai trò cung ứng vốn trung và dài hạn, ngoài tăng phát hành cổ phiếu và trái phiếu, thị trường phải củng cố niềm tin thông qua công bố thông tin minh bạch, xếp hạng tín nhiệm độc lập, quản trị doanh nghiệp tốt hơn và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư rõ ràng. Việc thị trường chứng khoán Việt Nam được FTSE Russell nâng hạng tạo thêm một điều kiện cho quá trình này. Tuy nhiên, theo Chuyên gia kinh tế trưởng của ADB, nâng hạng trước hết là chỉ báo ghi nhận những cải thiện đã đạt được; khả năng thu hút nguồn lực trong thời gian tới còn phụ thuộc vào môi trường chính sách, khả năng tiếp cận thông tin và mức độ minh bạch của thị trường. Như vậy, cùng với việc gia tăng quy mô nguồn lực, trọng tâm đang chuyển sang hiệu quả phân bổ và sự phù hợp về kỳ hạn. Vốn công, vốn tư nhân, tín dụng, thị trường vốn và nguồn lực quốc tế có thể bổ trợ cho nhau theo đặc điểm từng dự án, qua đó vừa đáp ứng nhu cầu đầu tư lớn, vừa nâng hiệu quả sử dụng vốn và chất lượng tăng trưởng.

SSI Research dự báo lợi nhuận quý III/2026: Loạt doanh nghiệp tăng trưởng ba chữ số

Theo báo cáo Ước tính KQKD Q3/2026 của SSI Research, bức tranh lợi nhuận quý III/2026 giữa các doanh nghiệp có sự phân hóa rõ. Một số doanh nghiệp được hưởng lợi từ giá hàng hóa, sản lượng, bàn giao dự án hoặc sự phục hồi của tiêu dùng. Ngược lại, nhóm bất động sản và một số ngân hàng chịu tác động bởi nền so sánh cao, chi phí tăng hoặc tiến độ ghi nhận doanh thu chậm hơn. Loạt doanh nghiệp có thể tăng trưởng ba chữ số Viglacera (VGC) nằm trong nhóm có mức tăng trưởng lợi nhuận cao nhất. SSI Research ước tính lợi nhuận sau thuế quý III/2026 đạt 331 tỷ đồng, tăng 183% so với cùng kỳ, dù giảm 60% so với quý II. Động lực chính đến từ việc VGC bắt đầu ghi nhận doanh thu cho thuê đất tại KCN Tràng Yên, với khoảng 290 tỷ đồng, cùng sự phục hồi của mảng sản xuất kính. Kết quả kinh doanh còn được hỗ trợ bởi lãi suất tiền gửi tăng và chính sách thuế mới đối với sản phẩm kính xây dựng. Dự báo kết quả kinh doanh của SSI Research SSI Research cũng đề cập mức thuế chống bán phá giá đối với kính nổi nhập khẩu từ Indonesia và Malaysia ở mức 15,17%-63,39%. Với Masan (MSN), lợi nhuận sau thuế quý III/2026 được SSI Research ước tính đạt 4.200 tỷ đồng, tăng 125% so với cùng kỳ và tăng 11% so với quý trước. Mức tăng chủ yếu đến từ đóng góp đột biến của mảng khai khoáng, trong khi bán lẻ tiếp tục được kỳ vọng duy trì tăng trưởng. PHR cũng được dự báo đạt lợi nhuận sau thuế 576 tỷ đồng, tăng 118% so với cùng kỳ và 56% so với quý II. SSI Research dự báo sản lượng tiêu thụ cao su giảm khoảng 8%, nhưng giá bán bình quân tăng khoảng 18%. Đáng chú ý, lợi nhuận cả năm 2026 của PHR được dự báo tăng tới 234%. Trong nhóm tăng trưởng ba chữ số, NT2 được dự báo đạt 428 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, gấp đôi cùng kỳ, dù giảm 39% so với quý trước. Sản lượng điện khí được kỳ vọng tăng 40-50% nhờ nguồn cung khí được đảm bảo và chi phí khấu hao giảm. Bán lẻ, ngân hàng duy trì đà tăng trưởng Ở lĩnh vực bán lẻ, FRT được SSI Research dự báo đạt 530 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, tăng 99% so với cùng kỳ và 18% so với quý II. Động lực đến từ việc mở rộng mạng lưới cửa hàng, hiệu quả hoạt động của chuỗi nhà thuốc và sự cải thiện của nhu cầu sản phẩm công nghệ. MWG được dự báo đạt 3.000 tỷ đồng lợi nhuận, tăng 68% so với cùng kỳ nhưng giảm 11% so với quý trước. SSI Research kỳ vọng nhu cầu thay thế, nâng cấp sản phẩm công nghệ, điện máy và sự cải thiện của chuỗi bách hóa tiếp tục hỗ trợ kết quả kinh doanh. Trong nhóm ngân hàng, HDB được dự báo đạt 7.000 tỷ đồng lợi nhuận, tăng 48%; MBB đạt 10.000 tỷ đồng, tăng 38%; MSB đạt 2.100 tỷ đồng, tăng 32%. Một số ngân hàng khác cũng được dự báo tăng trưởng như TPB 31%, BID và CTG cùng 27%, VIB 23%, TCB 15% và VCB 14%. Riêng VPB, SSI Research ước tính lợi nhuận sau thuế quý III đạt 10.000 tỷ đồng, tăng 9% so với cùng kỳ nhưng giảm 9% so với quý trước. Tăng trưởng tín dụng tiếp tục là động lực chính, trong khi thu nhập ngoài lãi được hỗ trợ bởi hoạt động tư vấn phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Dầu khí, điện và cảng biển: lợi nhuận tiếp tục cải thiện Ở nhóm năng lượng, GAS được dự báo đạt 4.076 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, tăng 60% so với cùng kỳ. PVT đạt khoảng 595 tỷ đồng, tăng 71%, trong khi POW đạt 1.103 tỷ đồng, tăng 36%. Với POW, sản lượng điện được kỳ vọng tăng 35-45%, nhờ các nhà máy nhiệt điện hiện hữu và đóng góp của dự án Nhơn Trạch 3&4. SSI Research dự báo lợi nhuận cả năm 2026 của POW tăng tới 156%. GMD cũng được dự báo đạt 720 tỷ đồng lợi nhuận, tăng 67%. Động lực đến từ sản lượng qua cảng Gemalink và lợi nhuận mảng vận tải biển. SSI Research đồng thời đề cập khoản hoàn nhập dự phòng bất thường 624 tỷ đồng từ thoái vốn tại CJ Logistics trong quý II/2026. Bất động sản phân hóa mạnh Ở nhóm bất động sản, VHM được SSI Research ước tính đạt 4.601 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế trong quý III, tăng 3,7% so với cùng kỳ nhưng giảm tới 83% so với quý trước. Lợi nhuận chủ yếu đến từ bàn giao các dự án Golden City, Wonder City, Royal Island và Green Paradise. NLG được dự báo đạt 236 tỷ đồng, tăng nhẹ 1% so với cùng kỳ. Trong khi đó, KDH có thể đạt 185 tỷ đồng, giảm 22%. Lợi nhuận KDH chủ yếu đến từ bàn giao sản phẩm thấp tầng tại dự án Gladia, trong khi quý trước có nền lợi nhuận cao và khoản lãi tài chính bất thường từ việc ngừng hợp nhất Bình Trưng Mới. HDG cũng nằm trong nhóm suy giảm, với lợi nhuận dự báo 176 tỷ đồng, giảm 38%. Đối với PVD, lợi nhuận được dự báo đạt 200 tỷ đồng, giảm 28%, do chi phí tăng từ khoản đầu tư giàn PVD IX trong quý III. IDC, STB chịu áp lực giảm lợi nhuận Ở chiều ngược lại, IDC là một trong những doanh nghiệp được dự báo giảm lợi nhuận mạnh nhất. SSI Research ước tính lợi nhuận sau thuế quý III đạt 457 tỷ đồng, giảm 53% so với cùng kỳ và 29% so với quý II. Nguyên nhân chủ yếu là diện tích đất khu công nghiệp bàn giao trong quý III dự kiến chỉ khoảng 10 ha, giảm 71% so với cùng kỳ. Trong đó, KCN Hựu Thạnh và KCN Phú Mỹ II mở rộng đóng góp chính. Giá cho thuê đất được dự báo khoảng 140 USD/m²/chu kỳ thuê, tăng 3%. Tại ngân hàng, STB được dự báo đạt 2.000 tỷ đồng lợi nhuận, giảm 45% so với cùng kỳ. SSI Research cho rằng chi phí dự phòng vẫn ở mức cao, dù tăng trưởng tín dụng được kỳ vọng cải thiện từ quý III. Đáng chú ý, HPG lại được dự báo tăng 37%, lên 5.500 tỷ đồng, nhưng giảm 14% so với quý trước. SSI Research cho rằng chi phí đầu vào tăng nhanh hơn giá thép trong quý III, trong khi mặt bằng lãi suất cao hơn làm gia tăng chi phí lãi vay.

Dòng hàng đi liên vùng, hạ tầng không thể đầu tư riêng lẻ

Không dừng ở địa giới hành chính Một thay đổi đáng chú ý trong tư duy phát triển vùng được đặt ra tại Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới là yêu cầu tái cấu trúc, quản lý và khai thác hiệu quả không gian phát triển vùng đồng bộ với không gian phát triển quốc gia trên cơ sở phát huy tối đa ưu điểm nổi trội, lợi thế cạnh tranh, bản sắc văn hoá của từng vùng và từng địa phương; phát huy vai trò đi đầu, dẫn dắt, lan toả của các vùng động lực, hành lang kinh tế, cực tăng trưởng… Yêu cầu này cho thấy nguồn lực phát triển cần được nhìn trong không gian rộng hơn phạm vi của từng địa phương, gắn với vị trí, chức năng và khả năng kết nối của mỗi địa bàn trong tổng thể vùng, các hành lang kinh tế. Đối với phía Bắc, hành lang kinh tế Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh được xác định là một trong những hành lang kinh tế quan trọng, tạo không gian kết nối từ khu vực cửa khẩu, qua các trung tâm kinh tế, sản xuất lớn tới hệ thống cảng biển. Phát biểu tại Diễn đàn Logistics vùng lần VII năm 2026 mới đây, ông Nguyễn Ngọc Tuấn, Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương cho rằng, không gian kinh tế cần được cấu trúc theo các dòng lưu chuyển của hàng hóa, vốn, công nghệ, nhân lực và tri thức. Trong đó, hành lang kinh tế, cực tăng trưởng và chuỗi giá trị được kết nối để tạo ra giá trị gia tăng và sức lan tỏa. Trong cấu trúc này, logistics là một trong những lĩnh vực thể hiện được tính liên vùng. Dòng hàng từ nhà máy đến thị trường, cảng biển hay cửa khẩu thường đi qua nhiều địa phương và nhiều đầu mối khác nhau. Theo ông Hà Vũ Hào, Phó Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Cảng Hải Phòng, một container không kết thúc hành trình khi rời tàu xuống cảng. Hiệu quả của cảng biển phụ thuộc mật thiết vào sự đồng bộ của hạ tầng phía sau, bao gồm đường bộ, đường thủy nội địa, đường sắt, các cảng cạn, kho bãi và trung tâm logistics. Bởi ngay cả khi cảng được đầu tư hiện đại, nếu kết nối hậu cần không thông suốt thì chuỗi logistics vẫn có thể bị nghẽn. Là một doanh nghiệp vận tải, ông Cáp Trọng Cường, Tổng Giám đốc Tập đoàn Macstar cũng đề cập đến tình trạng nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất và cụm công nghiệp chưa có vị trí phù hợp để phương tiện thủy tiếp cận. Theo ông Cường, tình trạng này làm tăng chi phí khai thác và khiến doanh nghiệp khó duy trì các tuyến vận tải thường xuyên. Do đó cần hoàn thiện quy hoạch và đầu tư cảng cạn, ICD, bãi container rỗng, cảng thủy nội địa và trung tâm logistics gắn với các tuyến đường thủy; đồng thời hình thành các tuyến vận tải thủy thường xuyên kết nối cảng biển với ICD, cảng cạn, khu công nghiệp và trung tâm logistics. Đảm bảo hiệu quả của mạng lưới Nghị quyết số 27-NQ/TW không chỉ đặt vấn đề tổ chức lại không gian mà còn yêu cầu đổi mới cơ chế điều phối và liên kết vùng; tăng tính đồng bộ giữa quy hoạch, đầu tư, kết cấu hạ tầng và phân bổ nguồn lực. Mục tiêu là khắc phục tình trạng phát triển phân tán, thiếu liên kết giữa các địa phương. Điểm này càng đáng chú ý khi nhu cầu đầu tư hạ tầng ngày càng lớn. Một dự án nằm trên địa bàn một tỉnh, thành phố có thể phục vụ hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu của nhiều địa phương khác. Ngược lại, hiệu quả của một công trình lớn cũng có thể phụ thuộc vào những hạng mục nằm ngoài địa giới nơi công trình đó được đầu tư. Cảng biển là một trường hợp điển hình. Công suất cảng tăng nhưng khả năng tiếp nhận thêm dòng hàng còn phụ thuộc vào năng lực vận chuyển, kho bãi, trung chuyển và các khu vực sản xuất phía sau. Tương tự, khi một khu công nghiệp mở rộng sản xuất, nhu cầu hạ tầng phát sinh không chỉ ở địa phương đặt khu công nghiệp mà còn trên hành trình hàng hóa tới cảng biển, cửa khẩu và thị trường. Vì thế, việc lựa chọn nguồn lực đầu tư cần tính đến phạm vi tác động của từng dự án, nhất là những công trình phục vụ dòng hàng và hoạt động sản xuất của nhiều địa phương. Từ góc nhìn quốc tế, ông Stéphane Graber, Tổng Giám đốc Liên đoàn các Hiệp hội Giao nhận Vận tải Thế giới (FIATA) nhấn mạnh, đầu tư cơ sở hạ tầng là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng còn phụ thuộc vào chia sẻ thông tin, hợp tác công - tư và mức độ ứng dụng các công cụ thương mại số phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Ông Graber đưa ra 4 nhóm điều kiện đối với một trung tâm trung chuyển, gồm vị trí địa lý và hạ tầng vật lý; kết nối đa phương thức; tốc độ và độ ổn định trong vận hành; khả năng kết nối dữ liệu và đồng bộ pháp lý. Trong đó, dữ liệu vận tải, thương mại và thông quan cần được trao đổi thuận lợi giữa các bên trong chuỗi logistics. Đại diện FIATA cũng khuyến nghị tăng kết nối các tuyến đường sắt, đường thủy nội địa và đường bộ từ cảng biển đến các trung tâm sản xuất, nhà máy; đồng thời thúc đẩy hài hòa thủ tục hải quan nhằm hạn chế tình trạng hàng hóa đã được xử lý nhanh ở một đầu nhưng lại bị ách tắc ở điểm tiếp theo. Đối với doanh nghiệp, điều cần thiết là một mạng lưới có khả năng đưa hàng hóa từ nơi sản xuất tới thị trường ổn định và thuận lợi. Còn với mỗi địa phương, hiệu quả của một dự án liên vùng có thể vượt khỏi phạm vi địa giới khi công trình đó đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận cảng biển, cửa khẩu và thị trường cho doanh nghiệp ở các địa phương khác, qua đó phát huy tốt hơn vai trò dẫn dắt và lan tỏa của các cực tăng trưởng.

Thu hẹp khoảng cách từ nguồn lực đến năng suất

Khoảng cách từ có tiền đến tạo ra công nghệ Việt Nam đang đứng trước yêu cầu vừa mở rộng các nguồn lực cho phát triển, vừa nâng hiệu quả sử dụng khi mô hình tăng trưởng ngày càng dựa nhiều hơn vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực. Vì thế, vấn đề quan trọng hơn là đưa những nguồn lực sẵn có vào đúng nơi, kết nối với nhau và chuyển hóa thành năng suất, giá trị gia tăng. Phát biểu tại Hội thảo khoa học quốc gia “Khơi thông và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển kinh tế trong kỷ nguyên mới” mới đây, PGS.TS. Bùi Đức Thọ, Giám đốc Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng, trong giai đoạn phát triển mới, vấn đề không chỉ là Việt Nam có bao nhiêu nguồn lực, mà quan trọng hơn là làm thế nào khai thông những nguồn lực đang bị ách tắc, khơi dậy nguồn lực tiềm ẩn, thu hút nguồn lực mới và phân bổ hiệu quả để tạo ra giá trị kinh tế - xã hội cao nhất. Theo PGS.TS Vũ Trọng Lâm, Giám đốc, Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, lợi thế phát triển của một quốc gia ngày càng được quyết định bởi năng lực tổ chức, kết nối và chuyển hóa nguồn lực thành năng suất, giá trị gia tăng và sức mạnh phát triển. Đặt trong yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng, câu chuyện sử dụng nguồn lực càng rõ hơn ở lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. PGS.TS Vũ Sỹ Cường, Học viện Tài chính cho biết, khi mô hình phát triển chuyển sang dựa nhiều hơn vào tri thức và công nghệ, cách huy động và sử dụng nguồn lực tài chính cũng phải thay đổi. Thực tế cho thấy khu vực doanh nghiệp đang ngày càng giữ vai trò lớn hơn trong hoạt động nghiên cứu và phát triển. Năm 2023, R&D tại khu vực doanh nghiệp chiếm 77,76% tổng chi R&D, trong khi các tổ chức R&D chiếm 11,93%. Con số này cho thấy dư địa đáng kể để chuyển trọng tâm từ Nhà nước trực tiếp cấp vốn sang sử dụng nguồn lực công làm “vốn mồi”, tạo động lực để doanh nghiệp tăng đầu tư cho nghiên cứu, đổi mới công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Tuy nhiên, theo PGS.TS. Vũ Sỹ Cường, một số chính sách hiện vẫn mới dừng ở văn bản khung; doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn thiếu thông tin về các chương trình hỗ trợ. Vì thế, yêu cầu đặt ra không đơn thuần là bổ sung thêm một nguồn vốn mới, mà cần phổ biến và hướng dẫn cụ thể hơn cho doanh nghiệp về các ưu đãi thuế, tài chính dành cho R&D; hỗ trợ doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị trong nước và toàn cầu; hỗ trợ đăng ký quyền sở hữu trí tuệ và chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp khoa học, công nghệ... Nhìn rộng hơn từ nguồn lực tài chính sang hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế, PGS.TS. Hoàng Văn Hoan, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng, một nghịch lý đang tồn tại là các nguồn lực của Việt Nam mở rộng nhanh hơn khả năng chuyển hóa thành kết quả phát triển. Trong giai đoạn 2015-2025, quy mô vốn đầu tư, nhân lực, khoa học, công nghệ và hạ tầng số đều được mở rộng. Thị trường vốn tiếp tục phát triển, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng ngày càng lớn. Tuy nhiên, tốc độ tăng TFP giai đoạn 2021-2025 chỉ đạt 2,91%, gần như không thay đổi so với giai đoạn trước; hiệu quả sử dụng vốn chưa ổn định và nguồn lực chưa chuyển mạnh sang các ngành có năng suất cao. Theo PGS.TS. Hoàng Văn Hoan, vấn đề cần giải quyết là “khoảng cách” giữa có nguồn lực và chuyển hóa được nguồn lực. Một trong những hướng đi quan trọng là làm rõ quyền, lợi ích và trách nhiệm của các chủ thể, đồng thời kết nối thể chế, thị trường, doanh nghiệp, công nghệ và dữ liệu. Trong đó, khu vực tư nhân giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Khi doanh nghiệp đã trở thành khu vực chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi R&D, hiệu quả chính sách không chỉ thể hiện ở số tiền ngân sách dành cho khoa học, công nghệ, mà còn ở khả năng tạo ra môi trường để doanh nghiệp sẵn sàng bỏ thêm vốn, chấp nhận rủi ro nghiên cứu và đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường. Có vốn, có công nghệ vẫn cần người làm chủ Dòng tiền và công nghệ mới chỉ là một phần của bài toán. Khả năng chuyển hóa những nguồn lực này thành năng suất còn phụ thuộc trực tiếp vào nguồn nhân lực công nghệ chất lượng cao. GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết, Việt Nam đã đạt những kết quả đáng ghi nhận trong khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Kinh tế số đóng góp 14,02% GDP; năng suất lao động đạt khoảng 245 triệu đồng/lao động và tăng 6,83% theo giá so sánh. Tuy nhiên, đầu tư cho R&D mới ở mức khoảng 0,41% GDP năm 2023, thấp hơn đáng kể so với mục tiêu 2% GDP vào năm 2030 theo định hướng tại Nghị quyết 57-NQ/TW. Khoảng cách cũng thể hiện rõ ở nguồn nhân lực. Nhu cầu kỹ sư công nghệ thông tin và công nghệ số hiện khoảng 150.000 người mỗi năm, trong khi khả năng đáp ứng mới đạt khoảng 50%. Các lĩnh vực AI, khoa học dữ liệu, an ninh mạng và bán dẫn đặc biệt cần nguồn nhân lực trình độ cao. Theo GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, nếu không đồng thời cải thiện đầu tư cho R&D, chất lượng nhân lực và liên kết nghiên cứu - sản xuất, công nghệ khó trở thành động lực tăng trưởng thực chất. Vì thế, bài toán không thể giải quyết riêng ở từng nguồn lực. Một hướng được đề xuất là xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo “4 nhà”, trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, doanh nghiệp là trung tâm đổi mới sáng tạo, nhà trường là cái nôi nghiên cứu và nhà khoa học là hạt nhân. Các trường đại học cũng cần chuyển mạnh sang mô hình đại học nghiên cứu, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Từ những khoảng cách về vốn, công nghệ đến nhân lực, yêu cầu đặt ra không chỉ là dành thêm nguồn lực cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, mà quan trọng hơn là thay đổi cách sử dụng và đo lường hiệu quả của nguồn lực này. Khi mỗi đồng vốn công có thể kéo thêm vốn doanh nghiệp, mỗi kết quả nghiên cứu có đường đi vào sản xuất và nguồn nhân lực đủ khả năng làm chủ công nghệ, khoảng cách từ “có nguồn lực” đến “tạo ra giá trị” mới thực sự được thu hẹp. Đây mới là nền tảng để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực thực chất cho mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn mới.

Dòng hàng đi liên vùng, hạ tầng không thể đầu tư riêng lẻ

Không dừng ở địa giới hành chính Một thay đổi đáng chú ý trong tư duy phát triển vùng được đặt ra tại Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới là yêu cầu tái cấu trúc, quản lý và khai thác hiệu quả không gian phát triển vùng đồng bộ với không gian phát triển quốc gia trên cơ sở phát huy tối đa ưu điểm nổi trội, lợi thế cạnh tranh, bản sắc văn hoá của từng vùng và từng địa phương; phát huy vai trò đi đầu, dẫn dắt, lan toả của các vùng động lực, hành lang kinh tế, cực tăng trưởng… Yêu cầu này cho thấy nguồn lực phát triển cần được nhìn trong không gian rộng hơn phạm vi của từng địa phương, gắn với vị trí, chức năng và khả năng kết nối của mỗi địa bàn trong tổng thể vùng, các hành lang kinh tế. Đối với phía Bắc, hành lang kinh tế Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh được xác định là một trong những hành lang kinh tế quan trọng, tạo không gian kết nối từ khu vực cửa khẩu, qua các trung tâm kinh tế, sản xuất lớn tới hệ thống cảng biển. Phát biểu tại Diễn đàn Logistics vùng lần VII năm 2026 mới đây, ông Nguyễn Ngọc Tuấn, Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương cho rằng, không gian kinh tế cần được cấu trúc theo các dòng lưu chuyển của hàng hóa, vốn, công nghệ, nhân lực và tri thức. Trong đó, hành lang kinh tế, cực tăng trưởng và chuỗi giá trị được kết nối để tạo ra giá trị gia tăng và sức lan tỏa. Trong cấu trúc này, logistics là một trong những lĩnh vực thể hiện được tính liên vùng. Dòng hàng từ nhà máy đến thị trường, cảng biển hay cửa khẩu thường đi qua nhiều địa phương và nhiều đầu mối khác nhau. Theo ông Hà Vũ Hào, Phó Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Cảng Hải Phòng, một container không kết thúc hành trình khi rời tàu xuống cảng. Hiệu quả của cảng biển phụ thuộc mật thiết vào sự đồng bộ của hạ tầng phía sau, bao gồm đường bộ, đường thủy nội địa, đường sắt, các cảng cạn, kho bãi và trung tâm logistics. Bởi ngay cả khi cảng được đầu tư hiện đại, nếu kết nối hậu cần không thông suốt thì chuỗi logistics vẫn có thể bị nghẽn. Là một doanh nghiệp vận tải, ông Cáp Trọng Cường, Tổng Giám đốc Tập đoàn Macstar cũng đề cập đến tình trạng nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất và cụm công nghiệp chưa có vị trí phù hợp để phương tiện thủy tiếp cận. Theo ông Cường, tình trạng này làm tăng chi phí khai thác và khiến doanh nghiệp khó duy trì các tuyến vận tải thường xuyên. Do đó cần hoàn thiện quy hoạch và đầu tư cảng cạn, ICD, bãi container rỗng, cảng thủy nội địa và trung tâm logistics gắn với các tuyến đường thủy; đồng thời hình thành các tuyến vận tải thủy thường xuyên kết nối cảng biển với ICD, cảng cạn, khu công nghiệp và trung tâm logistics. Đảm bảo hiệu quả của mạng lưới Nghị quyết số 27-NQ/TW không chỉ đặt vấn đề tổ chức lại không gian mà còn yêu cầu đổi mới cơ chế điều phối và liên kết vùng; tăng tính đồng bộ giữa quy hoạch, đầu tư, kết cấu hạ tầng và phân bổ nguồn lực. Mục tiêu là khắc phục tình trạng phát triển phân tán, thiếu liên kết giữa các địa phương. Điểm này càng đáng chú ý khi nhu cầu đầu tư hạ tầng ngày càng lớn. Một dự án nằm trên địa bàn một tỉnh, thành phố có thể phục vụ hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu của nhiều địa phương khác. Ngược lại, hiệu quả của một công trình lớn cũng có thể phụ thuộc vào những hạng mục nằm ngoài địa giới nơi công trình đó được đầu tư. Cảng biển là một trường hợp điển hình. Công suất cảng tăng nhưng khả năng tiếp nhận thêm dòng hàng còn phụ thuộc vào năng lực vận chuyển, kho bãi, trung chuyển và các khu vực sản xuất phía sau. Tương tự, khi một khu công nghiệp mở rộng sản xuất, nhu cầu hạ tầng phát sinh không chỉ ở địa phương đặt khu công nghiệp mà còn trên hành trình hàng hóa tới cảng biển, cửa khẩu và thị trường. Vì thế, việc lựa chọn nguồn lực đầu tư cần tính đến phạm vi tác động của từng dự án, nhất là những công trình phục vụ dòng hàng và hoạt động sản xuất của nhiều địa phương. Từ góc nhìn quốc tế, ông Stéphane Graber, Tổng Giám đốc Liên đoàn các Hiệp hội Giao nhận Vận tải Thế giới (FIATA) nhấn mạnh, đầu tư cơ sở hạ tầng là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng còn phụ thuộc vào chia sẻ thông tin, hợp tác công - tư và mức độ ứng dụng các công cụ thương mại số phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Ông Graber đưa ra 4 nhóm điều kiện đối với một trung tâm trung chuyển, gồm vị trí địa lý và hạ tầng vật lý; kết nối đa phương thức; tốc độ và độ ổn định trong vận hành; khả năng kết nối dữ liệu và đồng bộ pháp lý. Trong đó, dữ liệu vận tải, thương mại và thông quan cần được trao đổi thuận lợi giữa các bên trong chuỗi logistics. Đại diện FIATA cũng khuyến nghị tăng kết nối các tuyến đường sắt, đường thủy nội địa và đường bộ từ cảng biển đến các trung tâm sản xuất, nhà máy; đồng thời thúc đẩy hài hòa thủ tục hải quan nhằm hạn chế tình trạng hàng hóa đã được xử lý nhanh ở một đầu nhưng lại bị ách tắc ở điểm tiếp theo. Đối với doanh nghiệp, điều cần thiết là một mạng lưới có khả năng đưa hàng hóa từ nơi sản xuất tới thị trường ổn định và thuận lợi. Còn với mỗi địa phương, hiệu quả của một dự án liên vùng có thể vượt khỏi phạm vi địa giới khi công trình đó đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận cảng biển, cửa khẩu và thị trường cho doanh nghiệp ở các địa phương khác, qua đó phát huy tốt hơn vai trò dẫn dắt và lan tỏa của các cực tăng trưởng.

SSI Research dự báo lợi nhuận quý III/2026: Loạt doanh nghiệp tăng trưởng ba chữ số

Theo báo cáo Ước tính KQKD Q3/2026 của SSI Research, bức tranh lợi nhuận quý III/2026 giữa các doanh nghiệp có sự phân hóa rõ. Một số doanh nghiệp được hưởng lợi từ giá hàng hóa, sản lượng, bàn giao dự án hoặc sự phục hồi của tiêu dùng. Ngược lại, nhóm bất động sản và một số ngân hàng chịu tác động bởi nền so sánh cao, chi phí tăng hoặc tiến độ ghi nhận doanh thu chậm hơn. Loạt doanh nghiệp có thể tăng trưởng ba chữ số Viglacera (VGC) nằm trong nhóm có mức tăng trưởng lợi nhuận cao nhất. SSI Research ước tính lợi nhuận sau thuế quý III/2026 đạt 331 tỷ đồng, tăng 183% so với cùng kỳ, dù giảm 60% so với quý II. Động lực chính đến từ việc VGC bắt đầu ghi nhận doanh thu cho thuê đất tại KCN Tràng Yên, với khoảng 290 tỷ đồng, cùng sự phục hồi của mảng sản xuất kính. Kết quả kinh doanh còn được hỗ trợ bởi lãi suất tiền gửi tăng và chính sách thuế mới đối với sản phẩm kính xây dựng. Dự báo kết quả kinh doanh của SSI Research SSI Research cũng đề cập mức thuế chống bán phá giá đối với kính nổi nhập khẩu từ Indonesia và Malaysia ở mức 15,17%-63,39%. Với Masan (MSN), lợi nhuận sau thuế quý III/2026 được SSI Research ước tính đạt 4.200 tỷ đồng, tăng 125% so với cùng kỳ và tăng 11% so với quý trước. Mức tăng chủ yếu đến từ đóng góp đột biến của mảng khai khoáng, trong khi bán lẻ tiếp tục được kỳ vọng duy trì tăng trưởng. PHR cũng được dự báo đạt lợi nhuận sau thuế 576 tỷ đồng, tăng 118% so với cùng kỳ và 56% so với quý II. SSI Research dự báo sản lượng tiêu thụ cao su giảm khoảng 8%, nhưng giá bán bình quân tăng khoảng 18%. Đáng chú ý, lợi nhuận cả năm 2026 của PHR được dự báo tăng tới 234%. Trong nhóm tăng trưởng ba chữ số, NT2 được dự báo đạt 428 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, gấp đôi cùng kỳ, dù giảm 39% so với quý trước. Sản lượng điện khí được kỳ vọng tăng 40-50% nhờ nguồn cung khí được đảm bảo và chi phí khấu hao giảm. Bán lẻ, ngân hàng duy trì đà tăng trưởng Ở lĩnh vực bán lẻ, FRT được SSI Research dự báo đạt 530 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, tăng 99% so với cùng kỳ và 18% so với quý II. Động lực đến từ việc mở rộng mạng lưới cửa hàng, hiệu quả hoạt động của chuỗi nhà thuốc và sự cải thiện của nhu cầu sản phẩm công nghệ. MWG được dự báo đạt 3.000 tỷ đồng lợi nhuận, tăng 68% so với cùng kỳ nhưng giảm 11% so với quý trước. SSI Research kỳ vọng nhu cầu thay thế, nâng cấp sản phẩm công nghệ, điện máy và sự cải thiện của chuỗi bách hóa tiếp tục hỗ trợ kết quả kinh doanh. Trong nhóm ngân hàng, HDB được dự báo đạt 7.000 tỷ đồng lợi nhuận, tăng 48%; MBB đạt 10.000 tỷ đồng, tăng 38%; MSB đạt 2.100 tỷ đồng, tăng 32%. Một số ngân hàng khác cũng được dự báo tăng trưởng như TPB 31%, BID và CTG cùng 27%, VIB 23%, TCB 15% và VCB 14%. Riêng VPB, SSI Research ước tính lợi nhuận sau thuế quý III đạt 10.000 tỷ đồng, tăng 9% so với cùng kỳ nhưng giảm 9% so với quý trước. Tăng trưởng tín dụng tiếp tục là động lực chính, trong khi thu nhập ngoài lãi được hỗ trợ bởi hoạt động tư vấn phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Dầu khí, điện và cảng biển: lợi nhuận tiếp tục cải thiện Ở nhóm năng lượng, GAS được dự báo đạt 4.076 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, tăng 60% so với cùng kỳ. PVT đạt khoảng 595 tỷ đồng, tăng 71%, trong khi POW đạt 1.103 tỷ đồng, tăng 36%. Với POW, sản lượng điện được kỳ vọng tăng 35-45%, nhờ các nhà máy nhiệt điện hiện hữu và đóng góp của dự án Nhơn Trạch 3&4. SSI Research dự báo lợi nhuận cả năm 2026 của POW tăng tới 156%. GMD cũng được dự báo đạt 720 tỷ đồng lợi nhuận, tăng 67%. Động lực đến từ sản lượng qua cảng Gemalink và lợi nhuận mảng vận tải biển. SSI Research đồng thời đề cập khoản hoàn nhập dự phòng bất thường 624 tỷ đồng từ thoái vốn tại CJ Logistics trong quý II/2026. Bất động sản phân hóa mạnh Ở nhóm bất động sản, VHM được SSI Research ước tính đạt 4.601 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế trong quý III, tăng 3,7% so với cùng kỳ nhưng giảm tới 83% so với quý trước. Lợi nhuận chủ yếu đến từ bàn giao các dự án Golden City, Wonder City, Royal Island và Green Paradise. NLG được dự báo đạt 236 tỷ đồng, tăng nhẹ 1% so với cùng kỳ. Trong khi đó, KDH có thể đạt 185 tỷ đồng, giảm 22%. Lợi nhuận KDH chủ yếu đến từ bàn giao sản phẩm thấp tầng tại dự án Gladia, trong khi quý trước có nền lợi nhuận cao và khoản lãi tài chính bất thường từ việc ngừng hợp nhất Bình Trưng Mới. HDG cũng nằm trong nhóm suy giảm, với lợi nhuận dự báo 176 tỷ đồng, giảm 38%. Đối với PVD, lợi nhuận được dự báo đạt 200 tỷ đồng, giảm 28%, do chi phí tăng từ khoản đầu tư giàn PVD IX trong quý III. IDC, STB chịu áp lực giảm lợi nhuận Ở chiều ngược lại, IDC là một trong những doanh nghiệp được dự báo giảm lợi nhuận mạnh nhất. SSI Research ước tính lợi nhuận sau thuế quý III đạt 457 tỷ đồng, giảm 53% so với cùng kỳ và 29% so với quý II. Nguyên nhân chủ yếu là diện tích đất khu công nghiệp bàn giao trong quý III dự kiến chỉ khoảng 10 ha, giảm 71% so với cùng kỳ. Trong đó, KCN Hựu Thạnh và KCN Phú Mỹ II mở rộng đóng góp chính. Giá cho thuê đất được dự báo khoảng 140 USD/m²/chu kỳ thuê, tăng 3%. Tại ngân hàng, STB được dự báo đạt 2.000 tỷ đồng lợi nhuận, giảm 45% so với cùng kỳ. SSI Research cho rằng chi phí dự phòng vẫn ở mức cao, dù tăng trưởng tín dụng được kỳ vọng cải thiện từ quý III. Đáng chú ý, HPG lại được dự báo tăng 37%, lên 5.500 tỷ đồng, nhưng giảm 14% so với quý trước. SSI Research cho rằng chi phí đầu vào tăng nhanh hơn giá thép trong quý III, trong khi mặt bằng lãi suất cao hơn làm gia tăng chi phí lãi vay.

Dòng vốn cho tăng trưởng chuyển sang nhiều kênh

Nhu cầu đầu tư gia tăng cùng mục tiêu tăng trưởng cao đang thúc đẩy việc mở rộng các nguồn vốn trung, dài hạn. Đi cùng quy mô vốn là yêu cầu nâng hiệu quả phân bổ, chất lượng dự án và phát triển cân bằng các kênh huy động. Vốn lớn hơn, hiệu quả cao hơn Bức tranh tăng trưởng năm 2026 cho thấy vai trò ngày càng nổi bật của đầu tư. Báo cáo Triển vọng Phát triển châu Á của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cho biết, GDP Việt Nam tăng 8,2% trong nửa đầu năm, trong khi tổng vốn hình thành tài sản tăng 15,2%, phản ánh hoạt động đầu tư mạnh từ khu vực công, FDI và tư nhân. Vì thế, nhiều tổ chức quốc tế đã nâng dự báo tăng trưởng của Việt Nam, bởi những hỗ trợ từ sản xuất, nhu cầu trong nước, đầu tư công và FDI. Tuy nhiên, báo cáo của ADB cũng lưu ý, đầu tư và tín dụng tăng nhanh có thể làm gia tăng những điểm dễ tổn thương về tài chính và thu hẹp không gian chính sách. Theo ông Bùi Minh Giáp, Chuyên gia kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam, tăng trưởng của Việt Nam có sự đóng góp của nhiều động lực, từ công nghiệp, xây dựng, dịch vụ đến tiêu dùng, đầu tư công, FDI và thương mại. Trong đó, hoạt động đầu tư đang diễn ra mạnh. Tuy nhiên, trọng tâm không chỉ nằm ở lượng vốn đưa vào nền kinh tế. Việt Nam phải nâng hiệu quả sử dụng vốn và lao động để cải thiện năng suất tổng hợp, đồng thời phát triển hạ tầng kết nối và chất lượng nguồn nhân lực. Với đầu tư công, ông Bùi Minh Giáp cho rằng, bên cạnh tiến độ giải ngân, vốn phải tập trung vào những dự án có chất lượng, khả năng lan tỏa và dẫn dắt đầu tư tư nhân, chẳng hạn các dự án giảm chi phí logistics, tăng an ninh năng lượng hoặc cải thiện kết nối vùng. Nếu lựa chọn được dự án hiệu quả, tác động trung và dài hạn sẽ khác với việc đẩy vốn chủ yếu nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng trước mắt. Quy mô nguồn lực trong những năm tới cũng rất lớn. Theo phân tích của Ngân hàng UOB, Việt Nam cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 1,5 nghìn tỷ USD vốn đầu tư trong giai đoạn 2026-2030 để hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao. Nguồn lực này phục vụ hạ tầng, kinh tế xanh, công nghệ, mở rộng năng lực sản xuất, giáo dục và y tế. Tại buổi làm việc với Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) ngày 28/9/2026, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cũng nhấn mạnh, trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng 2 con số, nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế rất lớn. Việc huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực tài chính không chỉ đáp ứng yêu cầu trước mắt mà còn phục vụ các mục tiêu phát triển dài hạn, bền vững. Mở rộng các kênh vốn Theo Ngân hàng Nhà nước, tổng dư nợ của IFC tại Việt Nam hiện đạt 2,6 tỷ USD, trong khi tổng vốn cam kết trong tài khóa 2026 đạt 3 tỷ USD, bao gồm vốn ngắn hạn và dài hạn. Ông Arnaud Dupoizat, Giám đốc IFC khu vực Đông Á và Thái Bình Dương cho biết, IFC mong muốn tiếp tục mở rộng đầu tư, huy động vốn quốc tế và hỗ trợ khu vực tư nhân Việt Nam, trong đó chú trọng doanh nghiệp nhỏ và vừa, nông nghiệp và các dự án phát triển dài hạn. Đáng chú ý, IFC sẽ tập trung phát triển các công cụ tài chính trên thị trường vốn để bổ trợ cho nguồn vốn ngân hàng, nhất là đối với dự án dài hạn và hạ tầng; đồng thời huy động thêm nguồn lực quốc tế thông qua cơ chế đồng tài trợ và tăng kết nối nhà đầu tư quốc tế với Việt Nam. Chia sẻ thêm về hướng đa dạng hóa nguồn vốn, bà Jing Zhao, chuyên gia cao cấp về tài chính của Ngân hàng Thế giới cho rằng, việc lựa chọn nguồn tài trợ nên gắn với đặc điểm dự án. Với những dự án có ý nghĩa xã hội lớn nhưng khả năng thu hồi vốn thấp, nguồn lực công giữ vai trò chủ đạo. Trong khi đó, với các dự án có khả năng tạo doanh thu nhưng chưa đủ hấp dẫn nhà đầu tư, vốn công hoặc vốn ưu đãi có thể tham gia để chia sẻ rủi ro, qua đó thu hút thêm nguồn vốn tư nhân. Bà Jing Zhao cũng đề cập, các quỹ hưu trí, doanh nghiệp bảo hiểm và hình thức đầu tư tập thể như những nguồn vốn có đặc điểm kỳ hạn phù hợp với các khoản đầu tư dài hạn. Việc mở rộng sự tham gia của các tổ chức này phải đi cùng nâng cao năng lực đầu tư và phát triển nguồn dự án phù hợp. Cấu trúc các kênh huy động càng đáng chú ý khi ADB, cho biết dư nợ tín dụng tại Việt Nam đến cuối năm 2025 tương đương 145% GDP, trong khi thị trường trái phiếu doanh nghiệp khoảng 10% GDP. Theo ADB, chênh lệch kỳ hạn và bộ đệm vốn đặt ra yêu cầu thận trọng đối với việc tài trợ những dự án hạ tầng quy mô lớn, có thời gian thu hồi vốn dài. Ông Bùi Minh Giáp lưu ý, định hướng này không nhằm giảm vai trò của ngân hàng mà hướng tới một cấu trúc tài chính cân bằng hơn, trong đó các kênh vốn bổ trợ lẫn nhau. Để thị trường vốn đảm nhiệm tốt hơn vai trò cung ứng vốn trung và dài hạn, ngoài tăng phát hành cổ phiếu và trái phiếu, thị trường phải củng cố niềm tin thông qua công bố thông tin minh bạch, xếp hạng tín nhiệm độc lập, quản trị doanh nghiệp tốt hơn và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư rõ ràng. Việc thị trường chứng khoán Việt Nam được FTSE Russell nâng hạng tạo thêm một điều kiện cho quá trình này. Tuy nhiên, theo Chuyên gia kinh tế trưởng của ADB, nâng hạng trước hết là chỉ báo ghi nhận những cải thiện đã đạt được; khả năng thu hút nguồn lực trong thời gian tới còn phụ thuộc vào môi trường chính sách, khả năng tiếp cận thông tin và mức độ minh bạch của thị trường. Như vậy, cùng với việc gia tăng quy mô nguồn lực, trọng tâm đang chuyển sang hiệu quả phân bổ và sự phù hợp về kỳ hạn. Vốn công, vốn tư nhân, tín dụng, thị trường vốn và nguồn lực quốc tế có thể bổ trợ cho nhau theo đặc điểm từng dự án, qua đó vừa đáp ứng nhu cầu đầu tư lớn, vừa nâng hiệu quả sử dụng vốn và chất lượng tăng trưởng.

Kinh tế tăng trưởng 9,01%, vì sao VN-Index vẫn chưa bứt phá?

Kinh tế Việt Nam tăng tốc mạnh trong 9 tháng đầu năm 2026, với GDP tăng 9,01%, riêng quý III tăng 9,95% - mức cao nhất trong 4 năm. Tuy nhiên, VN-Index vẫn giảm 0,89%, VN30 giảm 6,10%, trong khi khối ngoại bán ròng khoảng 97.200 tỷ đồng trên HOSE. Sự lệch pha cho thấy tăng trưởng kinh tế chưa lập tức chuyển thành dòng tiền và mức định giá cao hơn trên thị trường chứng khoán. Theo báo cáo “Cập nhật tình hình vĩ mô 9 tháng đầu năm 2026” của TCBS Research, GDP tăng tốc qua từng quý, từ 8,15% trong quý I lên 8,81% quý II và 9,95% quý III, đưa mức tăng 9 tháng lên 9,01%. Đáng chú ý, đà tăng này được củng cố bởi nhiều chỉ báo độc lập: khối lượng hàng hóa vận chuyển tăng 15,8%, thu ngân sách tăng 12,1%, xuất khẩu theo tờ khai hải quan tăng 24,5% và PMI duy trì trên ngưỡng 50 trong 15 tháng liên tiếp. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán lại chưa phản ánh tương xứng. Sau 9 tháng, VN-Index giảm 0,89% so với cuối năm 2025, VN30 giảm 6,10%, thanh khoản bình quân giảm 26,9%, còn khối ngoại bán ròng khoảng 97.200 tỷ đồng trên HOSE. Nền kinh tế đang tăng tốc, nhưng dòng tiền trên thị trường cổ phiếu chưa chạy cùng nhịp. Tăng trưởng đang dựa nhiều hơn vào đầu tư Điểm đáng chú ý trong bức tranh kinh tế 9 tháng là động lực tăng trưởng đang nghiêng về phía đầu tư và mở rộng năng lực sản xuất. Khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 11,21%, đóng góp 49,62% vào mức tăng chung. Riêng công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,36%, đóng góp 33,85%, trong khi xây dựng tăng 12,22%. Khu vực dịch vụ tăng 8,69%; nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,02%. Ở phía sử dụng, tích lũy tài sản tăng 17,88%, riêng quý III tăng 21,39%, cao hơn đáng kể mức tăng 8,51% của tiêu dùng cuối cùng. Vốn đầu tư toàn xã hội 9 tháng đạt 3.109,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1%. Điều này cho thấy tăng trưởng hiện không đơn thuần đến từ việc người dân chi tiêu nhiều hơn, mà đang được hỗ trợ mạnh bởi quá trình tích lũy tài sản, xây dựng và mở rộng sản xuất. Số liệu về công nghiệp cũng củng cố nhận định này. IIP 9 tháng tăng 12,3%, riêng quý III tăng 14,8%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%. Chỉ số tiêu thụ ngành chế biến, chế tạo tăng 12,8%, cao hơn mức 9,1% cùng kỳ năm 2025. Sản lượng công nghiệp tăng ở cả 34/34 địa phương. TCBS đánh giá đây là dấu hiệu cho thấy chất lượng tăng trưởng được cải thiện, khi lao động có việc làm chỉ tăng khoảng 1,3%, trong khi năng suất lao động ước tăng khoảng 7,6%. Đáng chú ý, tín dụng đến cuối tháng 9 tăng 11,59%, thấp hơn mức 13,37% cùng kỳ, trong khi GDP lại tăng nhanh hơn. Dòng vốn đang đi vào năng lực sản xuất Một chi tiết đáng chú ý khác nằm ở cơ cấu nhập khẩu. 9 tháng, nhập khẩu đạt 453,72 tỷ USD, tăng 36,7%. Trong đó, máy móc, thiết bị chiếm 58,3%, nguyên, nhiên vật liệu chiếm 35,8%, còn hàng tiêu dùng chỉ chiếm 5,9%. Như vậy, 94,1% hàng nhập khẩu là tư liệu sản xuất. Theo TCBS, mức nhập siêu 19,42 tỷ USD trong bối cảnh này phần lớn phản ánh một nền kinh tế đang mở rộng công suất hơn là tiêu dùng vượt khả năng. Dòng vốn ngoại cũng cho thấy xu hướng tương tự. Vốn FDI đăng ký đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4%, trong khi FDI thực hiện đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% và là mức cao nhất trong 5 năm. TCBS cho rằng dòng vốn đăng ký hiện tại có thể trở thành “đường ống” năng lực sản xuất cho giai đoạn 2027-2030 khi các dự án đi vào vận hành. Chuỗi vận động của dòng vốn cũng khá rõ: đầu tư toàn xã hội tăng 15,1%, xây dựng tăng 12,22%, vận tải và kho bãi tăng 11,03%, FDI thực hiện tăng 12,1%, chế biến chế tạo tăng 11,36%, xuất khẩu tăng 24,5% và thu nhập người lao động tăng 9%. Đây là nền tảng quan trọng để kỳ vọng lợi nhuận doanh nghiệp cải thiện. Nhưng lợi nhuận tăng chưa đủ để thị trường chứng khoán tăng giá. Ba “trạm” khiến tăng trưởng chưa chuyển thành định giá Theo TCBS, một chỉ tiêu vĩ mô chỉ đến được giá cổ phiếu khi đi qua ba trạm: lãi suất, lợi nhuận doanh nghiệp và dòng tiền. Trong ba yếu tố này, lợi nhuận đang thuận lợi nhất. GDP quý III tăng 9,95%, IIP tăng 14,8%, tiêu thụ ngành chế biến, chế tạo tăng 12,8% - những dữ liệu hỗ trợ triển vọng lợi nhuận của các nhóm sản xuất, hạ tầng và logistics. Ngược lại, trạm lãi suất đang trở nên khó khăn hơn. CPI bình quân 9 tháng tăng 4,52%, vượt nhẹ mục tiêu khoảng 4,5%; riêng tháng 9 tăng 5,08%, trong khi lạm phát cơ bản tăng 4,26%. Khi lạm phát vượt mục tiêu, dư địa nới lỏng tiền tệ trở nên hạn chế. Nói cách khác, tăng trưởng cao không đồng nghĩa với việc thị trường có thêm một môi trường tiền rẻ để đẩy định giá cổ phiếu lên. Ở trạm thứ ba, dòng tiền cũng chưa đảo chiều. Khối ngoại đã bán ròng khoảng 97.200 tỷ đồng trên HOSE trong 9 tháng; riêng tháng 9 còn bán ròng khoảng 4.500 tỷ đồng. Thanh khoản bình quân giảm 26,9% so với cùng kỳ. Vì vậy, dù nền kinh tế tạo ra thêm sản lượng và triển vọng lợi nhuận được cải thiện, thị trường vẫn thiếu một yếu tố quan trọng để tái định giá: dòng tiền. Một lý do khác khiến thị trường chưa thể hoàn toàn lạc quan là những tín hiệu sớm từ khu vực sản xuất. Chỉ số quản lý mua sắm (PMI) tháng 9 đạt 51,9 điểm, tiếp tục trên ngưỡng 50 và đánh dấu tháng thứ 15 liên tiếp mở rộng. Tuy nhiên, đơn hàng mới tăng chậm nhất 5 tháng, chủ yếu nhờ cầu trong nước. Đáng chú ý, đơn hàng xuất khẩu mới giảm tháng thứ hai liên tiếp, với mức giảm mạnh nhất kể từ tháng 4. Trong khi đó, tồn kho ngành chế biến tại ngày 30/9 tăng 11,9% so với cùng kỳ. Như vậy, sản lượng hiện tại vẫn rất mạnh, nhưng thị trường đang phải nhìn xa hơn con số GDP của 9 tháng để đánh giá đơn hàng và lợi nhuận của các quý tới. Sức khỏe doanh nghiệp cũng chưa hoàn toàn đồng đều. Tháng 9, số doanh nghiệp thành lập mới giảm 31,1%, trong khi số doanh nghiệp hoàn tất giải thể tăng 89,3%. TCBS cho rằng điều này cho thấy độ lan tỏa của tăng trưởng chưa đồng đều, đặc biệt giữa doanh nghiệp quy mô lớn và khu vực doanh nghiệp nhỏ. Khoảng cách giữa GDP và chứng khoán vì thế không hẳn phản ánh việc thị trường “bỏ qua” tăng trưởng. Ngược lại, thị trường đang đặt ra những yêu cầu cao hơn đối với chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng. Trong quý IV, nhà đầu tư sẽ phải theo dõi sát diễn biến CPI, tín dụng, đơn hàng xuất khẩu và tồn kho. TCBS ước tính hệ thống tín dụng cần tăng thêm khoảng 3,4 điểm % trong ba tháng cuối năm để tiến gần định hướng khoảng 15% cả năm. Nếu tăng trưởng tiếp tục chuyển hóa thành lợi nhuận doanh nghiệp, lạm phát được kiểm soát và dòng tiền quay trở lại, khoảng cách giữa nền kinh tế và thị trường vốn có thể thu hẹp. Ngược lại, nếu lạm phát tiếp tục tăng, đơn hàng xuất khẩu suy yếu và dòng tiền chưa cải thiện, tốc độ tăng GDP cao cũng chưa đủ để tạo ra một mặt bằng định giá mới.