Thứ sáu, 11/9/2026

Điện thoại (024) 6287 3463

Đường dây nóng (024) 6287 3463

Liên hệ quảng cáo (+84)915.632.345

Thứ sáu, 11/9/2026
Share on Facebook
Copy to Clipboard

Kiểm toán nhà nước ký Quy chế phối hợp với Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị và thành phố Huế

Sáng 05/7, tại Quảng Trị, Kiểm toán nhà nước phối hợp với Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị long trọng tổ chức Hội nghị sơ kết, ký Quy chế phối hợp công tác giữa Kiểm toán nhà nước với Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy, Thường trực Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các tỉnh: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị và Thành phố Huế; trao kỷ niệm chương vì sự nghiệp Kiểm toán nhà nước.

thumbnail
Tổng Kiểm toán nhà nước Nguyễn Hữu Nghĩa phát biểu tại Hội nghị

Tham dự Hội nghị có các đồng chí: Nguyễn Khắc Thận - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Nghệ An; Nguyễn Duy Lâm - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Tĩnh; Nguyễn Khắc Toàn - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Huế; Lê Hồng Vinh - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị.

Về phía Tổng Kiểm toán nhà nước, tham dự Hội nghị có: Đồng chí Nguyễn Hữu Nghĩa - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Bí thư Đảng ủy, Tổng Kiểm toán nhà nước; các đồng chí Phó Tổng Kiểm toán nhà nước; Lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Kiểm toán nhà nước.

Tham dự Hội nghị còn có các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy, Thường trực HĐND, UBND, đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh: Quảng Trị, Hà Tĩnh, Nghệ An và Thành phố Huế; đại diện Lãnh đạo sở, ban, ngành các địa phương.

Phát biểu chào mừng Hội nghị, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị Lê Hồng Vinh đánh giá cao việc triển khai thực hiện Quy chế phối hợp công tác giữa Kiểm toán nhà nước và tỉnh Quảng Trị.

Theo ông Lê Hồng Vinh, qua hơn 3 năm triển khai thực hiện, Quy chế đã phát huy hiệu quả thiết thực, tạo cơ chế phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa Kiểm toán nhà nước với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của mỗi bên.

Những kết quả đạt được trong thời gian qua là nền tảng quan trọng để tỉnh Quảng Trị tiếp tục triển khai hiệu quả Quy chế phối hợp trong giai đoạn mới.

thumbnail
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị Lê Hồng Vinh phát biểu chào mừng Hội nghị

“Trong bối cảnh tỉnh được hình thành sau sắp xếp đơn vị hành chính, phạm vi quản lý rộng hơn và yêu cầu phát triển ngày càng cao, sự phối hợp chặt chẽ với Kiểm toán nhà nước sẽ góp phần tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách, đầu tư công và tài sản công, đồng thời hỗ trợ tỉnh hoàn thiện công tác quản lý, điều hành, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới" - ông Lê Hồng Vinh khẳng định.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị bày tỏ tin tưởng, với việc ký kết Quy chế phối hợp hôm nay, mối quan hệ giữa Kiểm toán nhà nước và các địa phương sẽ ngày càng gắn bó, thực chất và hiệu quả hơn, góp phần xây dựng nền tài chính công công khai, minh bạch, sử dụng hiệu quả các nguồn lực phục vụ phát triển nhanh và bền vững.

Công tác phối hợp được triển khai toàn diện, đạt nhiều kết quả thiết thực

Báo cáo sơ kết trình bày tại Hội nghị cho thấy, thực hiện Quy chế phối hợp công tác, thời gian qua, mối quan hệ phối hợp giữa Kiểm toán nhà nước với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các tỉnh: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị và Thành phố Huế đã đạt nhiều kết quả thiết thực trên các mặt công tác, góp phần thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan.

Các nội dung phối hợp đã được triển khai toàn diện, từ xây dựng kế hoạch kiểm toán, tổ chức thực hiện kiểm toán đến theo dõi việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán, phục vụ hiệu quả công tác quản lý tài chính - ngân sách của địa phương.

Một trong những kết quả nổi bật là công tác phối hợp xây dựng kế hoạch kiểm toán hằng năm. Theo đó, Thường trực Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các địa phương luôn quan tâm phối hợp và chỉ đạo các cơ quan liên quan cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ công tác khảo sát, lập kế hoạch kiểm toán; phối hợp với Kiểm toán nhà nước tổ chức trao đổi, thống nhất đầu mối kiểm toán ngay từ đầu năm. Qua đó, góp phần hạn chế sự trùng lặp, chồng chéo giữa hoạt động kiểm toán với thanh tra, kiểm tra, giám sát của địa phương.

thumbnail
Các đại biểu tham dự Hội nghị

Trong quá trình kiểm toán, các địa phương luôn phối hợp kịp thời và tạo điều kiện thuận lợi để các đoàn kiểm toán của Kiểm toán nhà nước thực hiện nhiệm vụ. Lãnh đạo các địa phương thường xuyên quan tâm, chỉ đạo các sở, ngành, đơn vị phối hợp với các đoàn kiểm toán; kịp thời cung cấp hồ sơ, tài liệu, thực hiện đầy đủ trách nhiệm giải trình, đảm bảo hoạt động kiểm toán được thực hiện theo đúng kế hoạch.

Việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực. Các tỉnh, thành phố đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị nghiêm túc thực hiện các kết luận, kiến nghị kiểm toán, đồng thời phối hợp với Kiểm toán nhà nước tháo gỡ các khó khăn trong quá trình triển khai.

Giai đoạn 2021-2025, tỷ lệ thực hiện kiến nghị kiểm toán của 4 địa phương đạt bình quân 89%; trong đó, Hà Tĩnh và Quảng Trị cùng đạt 93%, Thành phố Huế đạt 87% và Nghệ An đạt 83%.

Báo cáo cũng cho thấy, kết quả kiểm toán ngày càng được khai thác hiệu quả phục vụ hoạt động của Hội đồng nhân dân các địa phương. Hội đồng nhân dân các địa phương tổ chức công khai kết quả kiểm toán, các kết luận, kiến nghị của Kiểm toán nhà nước tới đại biểu Hội đồng nhân dân. Qua đó, nâng cao hiệu quả trong hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân về lĩnh vực tài chính, ngân sách; công tác chỉ đạo, điều hành ngân sách của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố; khắc phục bất cập, hạn chế trong quản lý, điều hành ngân sách trên địa bàn.

Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố cũng đã phản ánh kịp thời với Lãnh đạo Kiểm toán nhà nước và Kiểm toán nhà nước khu vực II các thông tin về hoạt động của đoàn kiểm toán, nhằm khắc phục kịp thời những hạn chế, thiếu sót, góp phần nâng cao chất lượng kiểm toán.

Thông qua hoạt động kiểm toán, Kiểm toán nhà nước đã đánh giá toàn diện việc lập, phân bổ dự toán và điều hành ngân sách; phát hiện những bất cập trong cơ chế quản lý, đồng thời kiến nghị nhiều giải pháp hoàn thiện chính sách phù hợp với quy định của pháp luật và điều kiện thực tiễn của từng địa phương.

Những ý kiến đánh giá, kết luận và kiến nghị của Kiểm toán nhà nước góp phần chấn chỉnh và nâng cao hiệu quả công tác quản lý, điều hành ngân sách của địa phương, là cơ sở quan trọng để Hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố xem xét trong quá trình thẩm tra, quyết định dự toán, phân bổ dự toán, quyết toán năm sau.

Bên cạnh đó, Kiểm toán nhà nước và các địa phương còn duy trì phối hợp trong công tác tuyên truyền pháp luật, bồi dưỡng kiến thức về tài chính, ngân sách cho đại biểu Hội đồng nhân dân; phối hợp xây dựng, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến lĩnh vực kiểm toán và quản lý ngân sách…

Đáng chú ý, mặc dù chưa có Quy chế phối hợp riêng với Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy, song trên thực tế, hai bên đã duy trì sự phối hợp hiệu quả thông qua việc trao đổi thông tin, cung cấp kết quả kiểm toán và phối hợp chỉ đạo thực hiện các kết luận, kiến nghị kiểm toán.

Đổi mới công tác phối hợp theo hướng chủ động, thường xuyên, thực chất hơn

Tại Hội nghị, các đại biểu thống nhất đánh giá các kết quả đạt được, những hạn chế bất cập trong thực hiện Quy chế phối hợp; đồng thời đề xuất nhiều giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Kiểm toán nhà nước với các địa phương, đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới.

thumbnail
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh Phan Thiên Định phát biểu tại Hội nghị

Đồng chí Phan Thiên Định - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh - nêu rõ, thực tiễn gần 3 năm thực hiện Quy chế phối hợp cho thấy hiệu quả rõ nét. Mối quan hệ phối hợp giữa Kiểm toán nhà nước với Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ngày càng chặt chẽ, thực chất hơn.

Qua các cuộc kiểm toán, nhiều bất cập trong công tác quản lý tài chính, ngân sách, đầu tư công được kịp thời chấn chỉnh; nhiều quy trình quản lý được rà soát, hoàn thiện; nhiều kiến nghị kiểm toán trở thành cơ sở quan trọng giúp địa phương nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và chất lượng điều hành.

“Chúng tôi xác định hoạt động kiểm toán không chỉ nhằm phát hiện, xử lý tồn tại mà còn là cơ hội để địa phương tự soi, tự sửa, nâng cao chất lượng quản lý và phòng ngừa sai phạm từ sớm” -  Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhấn mạnh; đồng thời khẳng định, việc ký kết Quy chế phối hợp hôm nay không chỉ là sự tiếp nối của Quy chế đã triển khai trong thời gian qua mà còn thể hiện quyết tâm của các bên trong việc xây dựng cơ chế phối hợp ngày càng hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Đồng quan điểm, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Huế Hà Văn Tuấn đánh giá, mối quan hệ công tác giữa Kiểm toán nhà nước khu vực II với Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Thành phố Huế và các cơ quan, đơn vị địa phương ngày càng chặt chẽ, thực chất. Kết quả kiểm toán đã kiến nghị về tài chính và hoàn thiện cơ chế, chính sách, cung cấp thêm cơ sở quan trọng cho công tác lãnh đạo, giám sát, điều hành; góp phần tăng cường kỷ luật, kỷ cương, tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý, sử dụng ngân sách, tài chính công, tài sản công và đầu tư công của Thành phố.

thumbnail
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Huế Hà Văn Tuấn phát biểu tại Hội nghị

Theo Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Huế, việc ban hành quy chế mới với sự tham gia của Ban Thường vụ Thành ủy là cần thiết, đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất, gắn kết chặt chẽ giữa kiểm toán, giám sát, quản lý, điều hành và theo dõi việc thực hiện các kết luận, kiến nghị của kiểm toán.

Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An Võ Trọng Hải cho biết, những năm qua, kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An có những bước chuyển biến tích cực, quy mô nền kinh tế ngày càng được mở rộng. Kết quả đó có sự đồng hành, hỗ trợ tích cực của các cơ quan trung ương, trong đó có Kiểm toán nhà nước.

Thông qua hoạt động kiểm toán, Kiểm toán nhà nước đã chỉ ra những bất cập, hạn chế, đồng thời có những kiến nghị giúp tỉnh hoàn thiện cơ chế, chính sách, nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn lực nhà nước.

Tỉnh Nghệ An xác định việc thực hiện đầy đủ, kịp thời các kết luận, kiến nghị kiểm toán vừa là trách nhiệm theo quy định, vừa là giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, hoàn thiện cơ chế quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực công.

thumbnail
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An Võ Trọng Hải phát biểu tại Hội nghị

Đại diện lãnh đạo các địa phương cũng nhấn mạnh, đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều yêu cầu và kỳ vọng mới trong quản trị quốc gia, quản lý tài chính công và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển. Cùng với đó là việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp; yêu cầu hoàn thiện thể chế phát triển, yêu cầu về kỷ luật tài chính, kiểm soát quyền lực, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình ngày càng được đặt ra cao hơn.

Trong bối cảnh đó, vai trò của Kiểm toán nhà nước ngày càng quan trọng, không chỉ thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát theo quy định của pháp luật mà còn giúp các địa phương nhận diện những hạn chế, rủi ro trong quản lý, từ đó chủ động hoàn thiện cơ chế, nâng cao chất lượng quản trị và sử dụng hiệu quả các nguồn lực công.

Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với công tác phối hợp giữa Kiểm toán nhà nước với địa phương trong thời gian tới sẽ cao hơn, đòi hỏi phải đổi mới theo hướng chủ động hơn, thường xuyên hơn và thực chất hơn.

Đại diện lãnh đạo các địa phương khẳng định sẽ tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành thực hiện nghiêm túc Quy chế phối hợp lần này; đồng thời mong muốn tiếp tục nhận được sự quan tâm, đồng hành của Kiểm toán nhà nước trong việc chia sẻ kinh nghiệm, định hướng giải pháp về quản lý tài chính công, chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, góp phần hỗ trợ các địa phương thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.

Mở rộng cơ chế phối hợp, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý tài chính, tài sản công

Tại Hội nghị, Tổng Kiểm toán nhà nước Nguyễn Hữu Nghĩa nhấn mạnh, thực tiễn triển khai Quy chế phối hợp giữa Kiểm toán nhà nước với 4 địa phương cho thấy, đây là chủ trương hết sức đúng đắn, thiết thực và hiệu quả.

Công tác phối hợp đã góp phần giúp Kiểm toán nhà nước và các địa phương hoàn thành tốt nhiệm vụ, nâng cao chất lượng kiểm toán, hiệu lực, hiệu quả quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công và tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình trong quản lý, điều hành ngân sách địa phương. Đồng thời, kết quả kiểm toán cũng góp phần nâng cao hiệu quả giám sát của HĐND và trách nhiệm của các cơ quan quản lý trong quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công tại địa phương.

thumbnail
Đại diện lãnh đạo Kiểm toán nhà nước ký Quy chế phối hợp công tác giữa Kiểm toán nhà nước với Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy, Thường trực Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các tỉnh: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị và Thành phố Huế

Theo Tổng Kiểm toán nhà nước, trong bối cảnh cả nước đang quyết liệt triển khai thực hiện các mục tiêu phát triển nhanh và bền vững theo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, phấn đấu duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hai con số liên tục trong những năm tới, yêu cầu đặt ra đối với công tác quản lý tài chính công, tài sản công của địa phương ngày càng cao, đảm bảo vừa phải huy động, vừa phải quản lý và sử dụng hiệu quả, đúng pháp luật các nguồn lực công để phục vụ, đáp ứng các mục tiêu phát triển quốc gia cũng như địa phương.

Mặt khác, mô hình chính quyền địa phương hai cấp mới đi vào hoạt động hơn 1 năm cần tiếp tục hoàn thiện; năng lực thực thi chính sách pháp luật, quản lý sử dụng vốn, tài sản công, ngân sách nhà nước ở cấp chính quyền cơ sở vẫn còn mặt hạn chế.

Trước tình hình đó, đồng tình với đánh giá, đề xuất của đại diện các địa phương, Tổng Kiểm toán nhà nước khẳng định cần có sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả hơn nữa giữa Kiểm toán nhà nước với các địa phương trong việc nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng tài chính, tài sản công, tháo gỡ các điểm nghẽn, nút thắt về cơ chế chính sách, kịp thời phát hiện và xử lý nguy cơ thất thoát, lãng phí, tiêu cực và những hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý, sử dụng tài sản, tài chính công và ngân sách nhà nước.

Đặc biệt, Tổng Kiểm toán nhà nước cho biết, khắc phục những bất cập, hạn chế trong công tác phối hợp thời gian qua, Quy chế phối hợp công tác lần này giữa Kiểm toán nhà nước với 4 địa phương đã có nhiều điểm mới.

thumbnail
Tổng Kiểm toán nhà nước Nguyễn Hữu Nghĩa, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Hà Thị Mỹ Dung trao tặng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp Kiểm toán nhà nước cho lãnh đạo các tỉnh, thành phố và lãnh đạo  sở, ngành các địa phương

Theo đó, phạm vi nội dung phối hợp giữa Kiểm toán nhà nước và các địa phương đã được mở rộng lên 10 nội dung. Đặc biệt, Quy chế phối hợp lần này có sự tham gia của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy các địa phương, nhằm đảm bảo sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị các địa phương, cùng với Kiểm toán nhà nước quyết tâm quản lý và sử dụng hiệu quả tài chính, tài sản công, ngân sách nhà nước, xây dựng một nền quản trị địa phương vững mạnh và hiệu lực, hiệu quả.

Đồng thời, Quy chế cũng xác định rõ ràng hơn trách nhiệm của bốn bên: Kiểm toán nhà nước, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố.

thumbnail
Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Doãn Anh Thơ trao tặng biểu trưng Nhà tình nghĩa cho đại diện lãnh đạo các tỉnh, thành phố: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Thành phố Huế

Việc ký kết Quy chế phối hợp với sự tham gia của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện sự quyết tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương trong việc tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý sử dụng một cách có hiệu quả tài chính, tài sản công, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương - Tổng Kiểm toán nhà nước Nguyễn Hữu Nghĩa nhấn mạnh.

Tổng Kiểm toán nhà nước cũng khẳng định, Kiểm toán nhà nước cam kết luôn hỗ trợ, đồng hành và tạo điều kiện thuận lợi cùng với các tỉnh, thành phố, vì sự phát triển thịnh vượng của các địa phương. Tôi tin tưởng rằng với sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, sự nỗ lực của Kiểm toán nhà nước, Quy chế phối hợp mới sẽ được triển khai một cách thực chất, hiệu quả, đáp ứng được các mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới của các địa phương cũng như của đất nước.

Nhân dịp này, Lãnh đạo Kiểm toán nhà nước đã trao Kỷ niệm chương vì sự nghiệp Kiểm toán nhà nước tặng 20 đồng chí là lãnh đạo tỉnh, thành phố và lãnh đạo các sở, ngành của 4 địa phương đã có nhiều công lao đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và phát triển Kiểm toán nhà nước trong thời gian qua.

Đồng thời, Kiểm toán nhà nước đã trao biểu trưng Nhà tình nghĩa cho 40 gia đình có công với cách mạng và gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại các tỉnh: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị và thành phố Huế.

(Theo Cổng Thông tin điện tử Kiểm toán nhà nước)

Lượt xem: 4

Vai trò của Kiểm toán nhà nước trong việc thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia về thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững

Là quốc gia đang phát triển có đường bờ biển dài, nhiều vùng đồng bằng thấp và mức độ phụ thuộc tương đối lớn vào tài nguyên thiên nhiên, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu. Các hiện tượng như nước biển dâng, xâm nhập mặn, hạn hán kéo dài, mưa lũ bất thường và sạt lở đất ngày càng gia tăng cả về tần suất lẫn cường độ, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của người dân, hệ sinh thái tự nhiên và quá trình phát triển kinh tế - xã hội. GS.TS Đoàn Xuân Tiên, Phó Chủ tịch Hội đồng khoa học Kiểm toán nhà nước làm Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu Trong bối cảnh đó, biến đổi khí hậu không chỉ là thách thức về môi trường mà còn trở thành vấn đề phát triển có tính liên ngành, tác động sâu rộng đến tăng trưởng, an sinh xã hội và mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia. Trước yêu cầu đó, Việt Nam đã chủ động tham gia và từng bước thực hiện nhiều cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Song song với việc tham gia các cam kết quốc tế, Việt Nam đã tích cực nội địa hóa các định hướng toàn cầu thông qua việc ban hành nhiều chính sách, chiến lược và chương trình hành động cấp quốc gia về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Các văn bản này đã tạo nền tảng quan trọng cho việc triển khai các cam kết trong thực tiễn. Trên thực tế, Việt Nam đã đạt được một số kết quả tích cực trong thực hiện Chương trình Nghị sự 2030, nhất là ở các lĩnh vực như giảm nghèo, giáo dục, y tế và bình đẳng giới. Tuy nhiên, quá trình thực hiện các mục tiêu gắn với môi trường, khí hậu và quản lý tài nguyên vẫn còn nhiều khó khăn. Tình trạng ô nhiễm môi trường, suy giảm hệ sinh thái, khai thác tài nguyên thiếu bền vững, cùng với những hạn chế trong phối hợp liên ngành, bố trí nguồn lực và giám sát thực hiện, đang làm giảm hiệu quả của nhiều chính sách, chương trình và dự án. Trên thế giới, nhiều Cơ quan Kiểm toán tối cao (SAI) đã từng bước khẳng định vai trò ngày càng rõ nét trong việc kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện các cam kết về khí hậu và phát triển bền vững. Phạm vi hoạt động của các SAI không còn chỉ giới hạn ở kiểm toán chi tiêu công, mà đã được mở rộng sang đánh giá hiệu quả các chính sách về giảm phát thải, chuyển đổi năng lượng, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs). Trong xu thế chung đó, Kiểm toán nhà nước Việt Nam cũng đã từng bước triển khai một số cuộc kiểm toán chuyên đề có liên quan, đồng thời tích cực thúc đẩy hợp tác quốc tế, tham gia các hoạt động của INTOSAI, ASOSAI và các cơ chế hợp tác khu vực trong lĩnh vực kiểm toán môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy hoạt động kiểm toán trong lĩnh vực này ở Việt Nam vẫn còn không ít hạn chế. Đặc biệt, còn thiếu các tiêu chí và công cụ phù hợp để đo lường, đánh giá mức độ thực hiện cam kết; việc phối hợp, chia sẻ thông tin giữa Kiểm toán nhà nước với các cơ quan chuyên trách về môi trường, tài chính khí hậu và phát triển bền vững chưa thật sự chặt chẽ; nhận thức về vai trò của kiểm toán trong thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia trong lĩnh vực này cũng chưa đầy đủ và toàn diện. ThS. Nguyễn Thị Kiều Thu, Kiểm toán nhà nước chuyên ngành III, thay mặt Ban đề tài báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu Đề tài “Vai trò của Kiểm toán nhà nước trong việc thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia về thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững” do ThS. Nguyễn Thị Kiều Thu - Kiểm toán nhà nước chuyên ngành III làm chủ nhiệm, trên cơ sở đó được tiến hành nghiên cứu góp phần làm rõ vị trí, vai trò, nội dung và phương thức phát huy chức năng của Kiểm toán nhà nước trong việc thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững trong điều kiện Việt Nam. Về phương diện thực tiễn, đề tài không chỉ đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế, phương thức và nội dung kiểm toán trong lĩnh vực này, mà còn xây dựng Bảng lộ trình triển khai kiểm toán biến đổi khí hậu và phát triển bền vững và Bảng khung tiêu chí kiểm toán lĩnh vực biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Đây là những kết quả có giá trị tham khảo trực tiếp cho việc tổ chức hoạt động kiểm toán, lựa chọn trọng tâm kiểm toán, xác định nội dung đánh giá và xem xét trách nhiệm thực hiện cam kết của các cơ quan, đơn vị liên quan, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường trách nhiệm giải trình, minh bạch trong quản lý nhà nước về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững ở Việt Nam. Tập trung nghiên cứu giai đoạn 2021-2025, là giai đoạn gắn với việc Việt Nam đẩy mạnh thực hiện các cam kết quốc tế sau COP26, đồng thời triển khai các định hướng, kế hoạch quan trọng như Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021-2030 theo Quyết định số 1422/QĐ-TTg và Lộ trình thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững theo Quyết định số 841/QĐ-TTg, đề tài nghiên cứu tập trung phân tích thực tiễn các cuộc kiểm toán và các quyết định giao nhiệm vụ kiểm toán có liên quan. Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn của Đề tài Kết quả nghiên cứu cho thấy, Kiểm toán nhà nước không chỉ thực hiện chức năng kiểm toán đối với việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công, mà còn góp phần nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực hiện chính sách thông qua các kết luận, kiến nghị kiểm toán. Trong điều kiện quản trị rủi ro khí hậu đòi hỏi sự phối hợp liên ngành, liên cấp và dựa trên bằng chứng, kiểm toán môi trường và kiểm toán hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá mức độ gắn kết giữa mục tiêu chính sách, tổ chức thực hiện và kết quả đạt được trên thực tế. Qua phân tích thực trạng cho thấy Việt Nam đã đạt được một số kết quả tích cực trong việc nội địa hóa các cam kết quốc gia về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững thông qua hệ thống chiến lược, quy hoạch và chương trình hành động tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, việc triển khai các cam kết này vẫn đối mặt với nhiều hạn chế như phân tán nguồn lực, thiếu đồng bộ dữ liệu, khó khăn trong lượng hóa kết quả, cũng như khoảng cách giữa mục tiêu đề ra và hiệu quả thực thi tại nhiều bộ, ngành và địa phương. Trong bối cảnh đó, hoạt động của Kiểm toán nhà nước liên quan đến môi trường, biến đổi khí hậu và phát triển bền vững đã bước đầu được mở rộng về phạm vi và nội dung, song mức độ lồng ghép các tiêu chí khí hậu và phát triển bền vững vào kiểm toán vẫn chưa thực sự hệ thống; các nội dung như tài chính khí hậu, giảm phát thải, thích ứng dựa vào hệ sinh thái, hay kiểm toán việc thực hiện các mục tiêu SDGs mới chỉ được tiếp cận ở mức độ ban đầu. Kết quả khảo sát các bên liên quan và phân tích mô hình nghiên cứu khẳng định vai trò của Kiểm toán nhà nước có mối liên hệ tích cực và có ý nghĩa thống kê với việc nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và mức độ thực hiện kiến nghị kiểm toán của các đơn vị được kiểm toán. Trên cơ sở đó, có thể nhận thấy hoạt động kiểm toán có khả năng góp phần hỗ trợ việc thực hiện các cam kết quốc gia về thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững, thông qua việc cung cấp thông tin, bằng chứng và kiến nghị phục vụ hoàn thiện quản lý, điều hành và sử dụng nguồn lực công. Kết quả này cũng cho thấy khi hoạt động kiểm toán được thiết kế phù hợp, có tiêu chí đánh giá rõ ràng và gắn với mục tiêu chính sách dài hạn, Kiểm toán nhà nước có thể phát huy tốt hơn vai trò của mình trong việc xem xét tiến độ thực hiện, phát hiện những hạn chế, bất cập trong cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện, qua đó hỗ trợ các cơ quan có thẩm quyền trong việc điều chỉnh phân bổ và sử dụng nguồn lực công cho ứng phó với biến đổi khí hậu. Đề tài được Hội đồng nghiệm thu xếp loại xuất sắc Từ các phân tích lý luận và thực tiễn, đề tài cho rằng việc nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước trong thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững không chỉ là yêu cầu đặt ra từ sự phát triển của hoạt động kiểm toán, mà còn phù hợp với đòi hỏi nâng cao chất lượng quản lý nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Trong điều kiện Việt Nam đang thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, phát thải thấp và thích ứng với khí hậu, Kiểm toán nhà nước cần tiếp tục phát huy vai trò của mình trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định, thông qua kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công và đưa ra các kết luận, kiến nghị kiểm toán có giá trị. Qua đó, Kiểm toán nhà nước góp phần tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực hiện các chương trình, dự án, chính sách công có liên quan đến các cam kết quốc gia về môi trường, khí hậu và phát triển bền vững. Đánh giá về Đề tài, Hội đồng nghiệm thu khẳng định đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao, nội dung công phu, cập nhật bối cảnh quốc tế và trong nước, bước đầu làm rõ vai trò của Kiểm toán nhà nước trong thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia về thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Đề tài cũng đã làm rõ mối quan hệ giữa biến đổi khí hậu, phát triển bền vững, cam kết quốc gia và yêu cầu giám sát độc lập; phân biệt các phạm vi kiểm toán có liên quan và khẳng định việc triển khai thông qua các loại hình kiểm toán hiện hành, không hình thành một loại hình kiểm toán mới ngoài quy định. Đề tài cũng đã nhận diện tương đối phù hợp các nhóm hạn chế về cơ sở pháp lý và tiêu chí, phương pháp tiếp cận, dữ liệu và bằng chứng, nhân lực chuyên sâu, phối hợp và chia sẻ thông tin, qua đó tạo căn cứ cho các giải pháp được đề xuất. Về giải pháp và khả năng ứng dụng, đề tài đã xây dựng năm nhóm giải pháp tương đối toàn diện, lộ trình ba giai đoạn, khung tiêu chí, tiêu chí lựa chọn chủ đề, danh mục dữ liệu và chương trình đào tạo có giá trị định hướng. Tuy nhiên, các nội dung này hiện phù hợp ở mức khung đề xuất và cần được lựa chọn thí điểm, đánh giá, chuẩn hóa trước khi sử dụng như hướng dẫn nghiệp vụ chính thức. Để hoàn thiện đề tài, Ban chủ nhiệm cần nhấn mạnh trọng tâm, tăng chiều sâu phân tích tác động và ưu tiên các giải pháp để nâng cao tính cô đọng, khả thi và giá trị ứng dụng của kết quả nghiên cứu. Ngoài ra, cần làm rõ phạm vi và trọng tâm nghiên cứu, cơ sở lý luận và chiếu sâu phân tích thực trạng, nghiên cứu định lượng và tính thống nhất của số liệu; hệ thống giải pháp, lộ trình và thẩm quyền kiến nghị. Đề tài cần hoàn thiện khung tiêu chí kiểm toán, làm tõ tính mới và khả năng ứng dụng, tiếp tục chuẩn hóa khung tiêu chí kiểm toán, phân biệt rõ tiêu chí hoặc chuẩn so sánh với câu hỏi kiểm toán, chỉ số đo lường, nguồn bằng chứng và thủ tục kiểm toán. Khung tiêu chí hiện có nên được xác định là danh mục định hướng cần tiếp tục thí điểm và hoàn thiện, chưa phải hướng dẫn nghiệp vụ có thể áp dụng trực tiếp cho mọi cuộc kiểm toán. Phát biểu kết luận tại buổi nghiệm thu, GS.TS Đoàn Xuân Tiên, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu cho rằng Đề tài cần ưu tiên giải pháp theo mức độ khả thi và thứ tự thực hiện; làm rõ giải pháp nào thuộc thẩm quyền Kiểm toán nhà nước, giải pháp nào cần kiến nghị Quốc hội, Chính phủ; cần rút gọn các phần liệt kê thông tin. Đề tài đã kết hợp phân tích thực tiễn với mô hình định lượng, tuy nhiên cần nhấn mạnh rõ hơn giá trị mới so với các đề tài kiểm toán môi trường trước đây của Kiểm toán nhà nước, đóng góp cụ thể của đề tài đối với việc xây dựng lộ trình kiểm toán biến đổi khí hậu đến 2030. Đề tài được Hội đồng nghiệm thu xếp loại xuất sắc.

Khai giảng Khóa bồi dưỡng “Nâng cao năng lực quản trị tài chính công, tài sản công cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp” tại thành phố Đà Nẵng

Được sự đồng ý của lãnh đạo Kiểm toán nhà nước và lãnh đạo Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng, nhằm nâng cao năng lực quản trị tài chính công, tài sản công cho cán bộ, công chức cấp xã, phường trong thực thi nhiệm theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, sáng ngày 4/9/2026 tại Trường Chính trị Thành phố Đà Nẵng, Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán phối hợp với Sở Nội vụ Thành phố Đà Nẵng tổ chức Khóa bồi dưỡng “Nâng cao năng lực quản trị tài chính công, tài sản công cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp”. Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Bùi Quốc Dũng phát biểu khai giảng Khóa bồi dưỡng Tới dự khai giảng Khóa bồi dưỡng, về phía Kiểm toán nhà nước, có ông Bùi Quốc Dũng, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước, ông Vũ Văn Họa - Nguyên Phó Tổng Kiểm toán nhà nước, đại diện lãnh đạo Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán, đại diện lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Kiểm toán nhà nước. Về phía thành phố Đà Nẵng có ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng, đại diện lãnh đạo các cơ quan của Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các sở, ban, ngành của Thành phố. Tham dự Khóa học, 287 học viên là cán bộ, công chức cấp xã, phường thuộc các nhóm vị trí việc làm liên quan trực tiếp đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tham mưu và tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý tài chính, ngân sách, đầu tư và tài sản công sẽ được các giảng viên giàu kinh nghiệm đến từ Kiểm toán nhà nước, Bộ Tài chính, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh truyền đạt 5 chuyên đề, gồm: Thể chế, phân cấp và trách nhiệm quản lý ngân sách cấp xã, phường; Lập dự toán và phân bổ ngân sách cấp xã, phường; Điều hành ngân sách và quản lý tài sản công; Xử lý ngân sách cuối năm và quyết toán ngân sách; Quản lý nguồn cải cách tiền lương, quỹ lương và biên chế. Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng phát biểu tại Khóa bồi dưỡng Phát biểu khai giảng Khóa học, Phó tổng Kiểm toán nhà nước Bùi Quốc Dũng cho biết, thời gian qua, trong quá trình kiểm toán tại các địa phương, đặc biệt trong bối cảnh triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, Kiểm toán nhà nước nhận thấy đội ngũ cán bộ ở cấp xã đang phải đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ mới, thẩm quyền mới, trách nhiệm mới. Có những công việc trước đây thuộc cấp trung gian, nay được phân cấp trực tiếp về xã, phường. Trong khi đó, các quy định về ngân sách, tài sản công, mua sắm, đấu thầu, quyết toán, công khai tài chính… vừa nhiều, vừa có tính chuyên môn cao, lại đang trong quá trình tiếp tục hoàn thiện để phù hợp với mô hình tổ chức mới. Vì vậy, việc cán bộ cơ sở còn có những bỡ ngỡ, lúng túng, có những vấn đề chưa thống nhất trong cách hiểu và cách thực hiện. Thông qua kết quả kiểm toán cho thấy, nhiều sai sót không xuất phát từ động cơ cố ý mà do chưa nắm chắc thẩm quyền; chưa cập nhật đầy đủ quy định mới; chưa phân biệt rõ trách nhiệm giữa các chủ thể; hoặc chưa nhận diện được rủi ro ngay từ khâu đầu của quy trình. Những vấn đề như vậy nếu được phát hiện ngay trong quá trình thực hiện thì việc khắc phục thường đơn giản hơn rất nhiều. Từ thực tiễn đó, Kiểm toán nhà nước không chỉ dừng ở việc kết luận đơn vị đã làm đúng hay chưa đúng, mà còn cùng đồng hành thông qua việc chia sẻ từ thực tiễn kiểm toán để giúp các cơ quan, đơn vị nhận diện được những điểm dễ sai, những khâu có rủi ro cao và những vấn đề cần kiểm soát trước khi ra quyết định. “Do vậy, chúng ta cần chuyển dần từ tư duy “phát hiện sai sót sau khi đã xảy ra” sang việc góp phần giúp đơn vị “phòng ngừa sai sót ngay từ đầu”. Qua Khóa bồi dưỡng này, tôi hy vọng các đồng chí chính là những người đang đứng ở tuyến đầu của bộ máy chính quyền địa phương hai cấp, mọi thay đổi về cơ cấu tổ chức, phân cấp và phân quyền cuối cùng đều đi qua những công việc rất cụ thể. Vì vậy, tôi mong rằng trong khóa bồi dưỡng này, các đồng chỉ không chỉ dừng ở mang theo giáo trình mà mang chính công việc của mình vào lớp học, tích cực trao đổi với các đồng chí giảng viên để làm rõ những bất cập đang gặp từ thực tiễn triển khai công việc. Đặc biệt, sau khóa học, mỗi đồng chí khi trở về đơn vị sẽ có thêm những công cụ để tự kiểm soát công việc của mình tốt hơn.” - Phó Tổng Kiểm toán nhà nước đề nghị. Tham dự Khóa học có 287 học viên đến từ các đơn vị cấp xã, phường của Thành phố Đà Nẵng Phát biểu tại lễ khai giảng, ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng cho biết, việc tổ chức và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp là một chủ trương lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiến trình xây dựng nền hành chính hiện đại, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, gần dân, sát dân và phục vụ Nhân dân tốt hơn. Đối với thành phố Đà Nẵng, năm 2026 được xác định là “Năm phát huy hiệu quả mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, các cơ chế, chính sách đặc thù, đẩy mạnh thu hút đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội”. “Trong mô hình mới, cấp xã được giao thêm nhiều nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm và ngày càng phải chủ động quyết định, tổ chức thực hiện, kiểm soát nguồn lực và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện. Yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã vì thế cũng cao hơn, toàn diện hơn. Do vậy, yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là “quản lý tài chính, tài sản công đúng quy định”, mà cao hơn là phải quản trị tài chính, tài sản công một cách chủ động, minh bạch, hiệu quả, tiết kiệm và hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Đội ngũ cán bộ, công chức phải có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực tiễn ngày càng cao. Khóa bồi dưỡng này với sự đồng hành của Kiểm toán nhà nước, trực tiếp là Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán là một cơ hội quý báu để các đồng chí cán bộ, công chức xã, phường trên địa bàn thành phố được trao đổi, tiếp cận kinh nghiệm thực tiễn từ hoạt động kiểm toán; qua đó nâng cao năng lực tham mưu, tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao.” Các đồng chí lãnh đạo, đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại buổi khai giảng Khóa bồi dưỡng Để lớp học đạt được kết quả tốt theo mục tiêu đề ra, đồng chí Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố đề nghị các đồng chí học viên tập trung tham gia Khóa bồi dưỡng đầy đủ, nghiêm túc. Sau Khóa bồi dưỡng, đề nghị các cơ quan, đơn vị, địa phương cần rà soát ngay những vấn đề đang tồn tại tại đơn vị mình; chủ động áp dụng các nội dung đã được trao đổi; kịp thời báo cáo những khó khăn, vướng mắc để thành phố nghiên cứu, hướng dẫn và xử lý theo thẩm quyền. Khóa bồi dưỡng diễn ra từ ngày 4/9/2026 - 7/9/2026.

Hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước

Sáng 12/8/2026, Hội đồng khoa học Kiểm toán nhà nước đã tổ chức nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước” do ThS. Đào Trọng Khánh (Kiểm toán nhà nước khu vực VIII) làm đồng chủ nhiệm. Hội đồng nghiệm thu do TS. Bùi Quốc Dũng, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Kiểm toán nhà nước làm Chủ tịch. TS Bùi Quốc Dũng, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu, đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn của đề tài Hoạt động kiểm toán môi trường ngày càng được các Cơ quan Kiểm toán tối cao sử dụng như một công cụ hữu hiệu nhằm đánh giá hiệu quả quản lý, sử dụng tài nguyên, kiểm soát ô nhiễm và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững. Nhận thức được vai trò ngày càng quan trọng của kiểm toán môi trường, thời gian qua, Kiểm toán nhà nước đã từng bước mở rộng phạm vi và nội dung kiểm toán. Giai đoạn 2018-2023, Kiểm toán nhà nước đã thực hiện hơn 40 cuộc kiểm toán có nội dung liên quan đến môi trường. Riêng năm 2024, Kiểm toán nhà nước đã triển khai nhiều cuộc kiểm toán chuyên đề như: quản lý, bảo vệ nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt; quản lý môi trường tại các khu kinh tế, khu công nghiệp; quản lý, sử dụng kinh phí bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu tại các bộ, ngành và địa phương. Thông qua hoạt động kiểm toán, Kiểm toán nhà nước đã phát hiện nhiều tồn tại, bất cập trong công tác quản lý môi trường, kiến nghị hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công dành cho bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, đại diện Ban đề tài - ThS Đào Trọng Khánh cho biết, mặc dù Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã quy định Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán trong lĩnh vực môi trường, nhưng Luật Kiểm toán nhà nước hiện hành chưa có quy định cụ thể về đối tượng, nội dung và phạm vi kiểm toán môi trường. Một số hoạt động có tác động trực tiếp đến môi trường của doanh nghiệp ngoài khu vực công chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng để đưa vào kế hoạch kiểm toán. Bên cạnh đó, hệ thống dữ liệu môi trường phục vụ kiểm toán còn phân tán, việc chia sẻ thông tin giữa các cơ quan quản lý và Kiểm toán nhà nước chưa thực sự đồng bộ. Ngoài ra, các quy định về kiểm toán môi trường trong khu vực doanh nghiệp, tiêu chuẩn chuyên môn và hướng dẫn kỹ thuật phục vụ hoạt động kiểm toán môi trường vẫn chưa được hoàn thiện. Trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện các cam kết quốc tế về phát triển bền vững, ứng phó biến đổi khí hậu và mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, yêu cầu đối với hoạt động kiểm toán môi trường ngày càng cao, đòi hỏi phải mở rộng phạm vi đánh giá đối với các vấn đề môi trường liên ngành, liên vùng và các mục tiêu phát triển bền vững. Nhóm nghiên cứu cho rằng, bên cạnh việc tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động kiểm toán môi trường, việc nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước trong giám sát, đánh giá hiệu quả chính sách môi trường, quản lý tài nguyên, sử dụng nguồn lực công cho bảo vệ môi trường và thực hiện các cam kết quốc tế là yêu cầu cấp thiết. Điều này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng quản trị môi trường quốc gia mà còn khẳng định vị thế của Kiểm toán nhà nước trong việc hỗ trợ Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện mục tiêu phát triển bền vững. Đề tài “Hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước” được thực hiện nhằm đề xuất định hướng, giải pháp hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường, đồng thời nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước trong giám sát việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công và nguồn lực công gắn với bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. ThS Đào Trọng Khánh đại diện Ban đề tài trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, đề tài đã hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề lý luận chung về môi trường, kiểm toán môi trường, cơ sở pháp lý kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước. Theo đó, kiểm toán môi trường được xác định là một lĩnh vực kiểm toán chuyên biệt, được thực hiện thông qua kiểm toán tài chính, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động. Đề tài đã phân tích, đánh giá thực trạng cơ sở pháp lý và thực tiễn triển khai kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước. Kết quả nghiên cứu cho thấy cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường ở Việt Nam đã từng bước được hình thành, nhất là khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 ghi nhận vai trò của Kiểm toán nhà nước trong lĩnh vực môi trường; đồng thời Kiểm toán nhà nước đã ban hành, cập nhật chuẩn mực, quy trình, hướng dẫn nghiệp vụ và triển khai nhiều cuộc kiểm toán có nội dung liên quan đến môi trường. Bên cạnh kết quả đạt được, đề tài cũng chỉ ra một số hạn chế, bất cập chủ yếu như: Luật Kiểm toán nhà nước chưa quy định cụ thể về đối tượng, phạm vi, nội dung, phương thức và tiêu chí kiểm toán môi trường; cơ chế tiếp cận, chia sẻ dữ liệu môi trường còn thiếu đồng bộ; thẩm quyền kiểm tra, đối chiếu đối với các chủ thể ngoài khu vực công có tác động đến môi trường còn chưa rõ; nguồn nhân lực chuyên sâu, hướng dẫn kỹ thuật và ứng dụng công nghệ còn hạn chế. Trên cơ sở đó, đề tài đã khẳng định vai trò của Kiểm toán nhà nước là công cụ giám sát độc lập, góp phần tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình, đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực công cho bảo vệ môi trường và hỗ trợ hoàn thiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường, tăng trưởng xanh, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Nhóm nghiên cứu cũng đã đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước, tập trung vào hoàn thiện Luật Kiểm toán nhà nước và pháp luật có liên quan; làm rõ phạm vi, đối tượng, thẩm quyền, quyền tiếp cận dữ liệu và trách nhiệm phối hợp; cập nhật hướng dẫn kiểm toán môi trường theo các chủ đề mới như khí nhà kính, thị trường các-bon, EPR, kinh tế tuần hoàn, tài chính xanh; đồng thời phát triển nguồn nhân lực, tăng cường sử dụng chuyên gia, ứng dụng công nghệ số và nâng cao hiệu lực thực hiện kiến nghị kiểm toán. Có thể khẳng định, việc hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường là yêu cầu cần thiết trong bối cảnh Việt Nam thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, tăng trưởng xanh và cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Việc hoàn thiện này không nhằm mở rộng Kiểm toán nhà nước thành cơ quan quản lý hay thanh tra môi trường, mà nhằm tạo hành lang pháp lý rõ ràng để Kiểm toán nhà nước thực hiện tốt chức năng kiểm toán độc lập trong lĩnh vực môi trường. Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật về kiểm toán môi trường ở Việt Nam, đồng thời đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng, hiệu lực và hiệu quả hoạt động kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước trong thời gian tới. Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn mà đề tài mang lại Nhận xét về kết quả nghiên cứu của đề tài, Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn mà đề tài mang lại. Đề tài đã nhận diện trúng các “nút thắt” pháp lý hiện nay cũng như thẳng thắn chỉ ra các khoảng trống pháp lý mang tính cốt lõi. Đặc biệt, Đề tài đã đưa ra được bộ 8 tiêu chí (trên giác độ tiếp cận là công cụ quản lý, kiểm soát môi trường) để phân tích, so sánh, phân biệt kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước với thanh tra môi trường, đánh giá tác động môi trường, quan trắc môi trường, kiểm toán nội bộ ISO14001. Đề tài nghiên cứu phản ánh thực tiễn pháp lý về kiểm toán môi trường hiện nay cũng như thực tiễn hoạt động kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước, giữa thực tiễn tác động công tác quản lý, bảo vệ môi trường từ hoạt động kiểm toán môi trường, đối sánh với vai trò kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước cần phải khẳng định; nêu được các nhân tố tác động đến kiểm toán môi trường ở Việt Nam; xây dựng ma trận so sánh một số tiêu chí để rút ra giá trị tham khảo kinh nghiệm quốc tế cho Kiểm toán nhà nước Việt Nam… Việc bổ sung bảng phân biệt kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước với thanh tra môi trường, đánh giá tác động môi trường, quan trắc môi trường và kiểm toán nội bộ theo ISO 14001 đã góp phần khắc phục tình trạng đồng nhất giữa các công cụ quản lý môi trường được phản biện kín chỉ ra. Đề tài đã đón đầu xu hướng công nghệ khi đưa các quy trình ứng dụng GIS, dữ liệu viễn thám, dữ liệu lớn (Big Data) và Trí tuệ nhân tạo (AI) vào việc thu thập bằng chứng kiểm toán xanh. Những đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường, đồng thời nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước có giá trị thực tiễn, với những nguyên tắc, giải pháp và lộ trình tương đối rõ ràng; có giá trị tham khảo thiết thực đối với định hướng phát triển kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước trong thời gian tới. Toàn cảnh buổi nghiệm thu Nhằm hoàn thiện đề tài, Hội đồng đề nghị Ban đề tài rà soát, biên tập lại một số nội dung kết cấu các mục; rà soát lại các kinh nghiệm quốc tế để gắn với nội dung nghiên cứu của đề tài. Ban đề tài nên tập trung vào các bất cập hiện tại của hoạt động kiểm toán môi trường và định hướng phát triển của Kiểm toán môi trường để đưa ra các giải pháp. Đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn cũng như công tác tổ chức nghiên cứu đề tài, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu - Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Bùi Quốc Dũng đề nghị Ban Đề tài khi tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý và xây dựng Chiến lược kiểm toán môi trường giai đoạn 5-10 năm tới, cần có cách tiếp cận toàn diện, phân định rõ giữa giải quyết bất cập hiện tại và định hướng tương lai. Theo đó, bên cạnh việc nhận diện, tháo gỡ những vướng mắc từ thực tiễn môi trường để kiến nghị hoàn thiện pháp luật, cần dự báo sớm những xu hướng mới của môi trường trên thế giới, nhất là các vấn đề về Net Zero, phát triển bền vững, các công cụ kinh tế môi trường. Chủ tịch Hội đồng cũng lưu ý yêu cầu mở rộng phạm vi, đối tượng và phương thức tiếp cận dữ liệu phục vụ môi trường, hướng tới cơ chế khai thác dữ liệu thường xuyên, liên tục, kết nối trực tiếp, thay vì chủ yếu tiếp cận theo từng cuộc kiểm toán.  Đề tài được Hội đồng nghiệm thu xếp loại Xuất sắc./.

Tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong thực hiện nhiệm vụ hằng ngày

Chiều 21/7, Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán (Trường) đã tổ chức Hội nghị tuyên truyền, phổ biến Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 (Luật số 110/2025/QH15 của Quốc hộ) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (Luật số 132/2025/QH15 của Quốc hội). Tham dự Hội nghị có Giám đốc Trường Đặng Thế Bình; các Phó Giám đốc: Hà Minh Tuấn, Nguyễn Huy Hoàng; cùng toàn thể viên chức, người lao động thuộc Trường. Giám đốc Trường Đặng Thế Bình chủ trì Hội nghị Phát biểu khai mạc Hội nghị, Ông Đặng Thế Bình, Giám đốc Trường nhấn mạnh, đối với Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán, việc quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật không chỉ là yêu cầu bắt buộc mà còn là trách nhiệm của mỗi đảng viên, viên chức và người lao động. “Mỗi cá nhân cần nhận thức đầy đủ rằng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và phòng, chống tham nhũng không chỉ là nhiệm vụ của người đứng đầu hay của một đơn vị chuyên trách mà phải trở thành ý thức tự giác trong thực hiện nhiệm vụ hằng ngày”. Tại Hội nghị, TS. Nguyễn Hữu Hiểu, Trưởng khoa Cơ sở đã phổ biến các quy định của Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025. Trong đó, làm rõ khái niệm tiết kiệm, chống lãng phí theo quy định hiện hành; các hành vi gây lãng phí; nguyên tắc tiết kiệm, chống lãng phí và trách nhiệm của công chức, viên chức và người lao động. Từ đó, xây dựng chương trình và lan toả văn hoá tiết kiệm, chống lãng phí gắn chặt với hoạt động của Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán. TS. Nguyễn Hữu Hiểu, Trưởng khoa Cơ sở phổ biến Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 Đối với Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng, Trưởng khoa Chuyên ngành Hoàng Thế Linh đã làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý và bối cảnh thực tiễn dấn đến việc ban hành Luật; các nội dung được sửa đổi, bổ sung trong Luật Tại Hội nghị, các đảng viên, viên chức, người lao động đã trao đổi, thảo luận về xây dựng chương trình, kế hoạch tiết kiệm, chống lãng phí, trong đó có việc lồng ghép vào nội quy, quy chế làm việc của Trường; tổ chức các hoạt động phong trào và lồng ghép nội dung giáo dục tiết kiệm, chống lãng phí trong hoạt động thường niên; trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu và từng cá nhân. Trưởng khoa Chuyên ngành Hoàng Thế Linh chia sẻ một số quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng Đánh giá cao các nội dung báo cáo viên đã truyền đạt, đặc biệt là những điểm mới của các Luật, phân tích, làm rõ nhiều vấn đề gắn với thực tiễn công tác quản lý nhà nước, quản lý tài chính công, tài sản công và công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Giám đốc Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán Đặng Thế Bình đề nghị, ngay sau Hội nghị, toàn thể viên chức, người lao động tiếp tục thực hiện tốt các quy định của pháp luật và tập trung vào một số nhiệm vụ trọng tâm: Thứ nhất, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong toàn Trường, bảo đảm mỗi viên chức, người lao động đều nắm được những quy định cơ bản, những yêu cầu cần thực hiện trong công việc hằng ngày. Thứ hai, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính; nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu và trách nhiệm của từng cá nhân trong quản lý, sử dụng nguồn kinh phí, tài sản, trang thiết bị được giao. Thứ ba, thực hiện công khai, minh bạch trong các hoạt động của Trường; chú trọng công tác kiểm tra, giám sát nội bộ nhằm phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật, góp phần xây dựng tập thể đoàn kết, trách nhiệm và liêm chính. Thứ tư, mỗi viên chức, người lao động cần phát huy tinh thần gương mẫu, tự giác thực hành tiết kiệm từ những việc nhỏ nhất; sử dụng hiệu quả điện, nước, văn phòng phẩm, thiết bị làm việc; bảo vệ tài sản chung; đồng thời tích cực tham gia xây dựng môi trường làm việc kỷ cương, lành mạnh, minh bạch. Giám đốc Đặng Thế Bình tin tưởng rằng, “với những kiến thức đã được tiếp thu, cùng tinh thần trách nhiệm và quyết tâm của toàn thể viên chức, người lao động thuộc Trường, các quy định của pháp luật sẽ được triển khai thực hiện nghiêm túc, thống nhất và hiệu quả, góp phần xây dựng Trường ngày càng phát triển, hoạt động chuyên nghiệp, minh bạch và đáp ứng yêu cầu đổi mới trong giai đoạn hiện nay.”

Nhận diện hành vi gây lãng phí liên quan đến đầu tư công thông qua kết quả kiểm toán các dự án đầu tư xây dựng cơ bản của Kiểm toán nhà nước

Thực hiện Quyết định số 1392/QĐ-KTNN ngày 28/8/2025 của Tổng Kiểm toán nhà nước về việc phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng của Kiểm toán nhà nước năm 2026; sáng 21/7, Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán phối hợp với Kiểm toán nhà nước chuyên ngành IV và Kiểm toán nhà nước chuyên ngành V đã tổ chức tọa đàm trao đổi kinh nghiệm với chủ đề “Nhận diện hành vi gây lãng phí liên quan đến đầu tư công thông qua kết quả kiểm toán các dự án đầu tư xây dựng cơ bản của Kiểm toán nhà nước”. Tọa đàm được tổ chức theo hình thức trực tiếp tại Hà Nội kết hợp kết nối trực tuyến tới các Kiểm toán nhà nước khu vực. Ông Ngô Minh Sơn, Phó Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước chuyên ngành V phát biểu khai mạc Tọa đàm Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng chiến lược, triển khai nhiều dự án trọng điểm quốc gia và thực hiện các mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, việc quản lý, sử dụng hiệu quả từng đồng vốn đầu tư công không chỉ là yêu cầu về kinh tế mà còn là trách nhiệm chính trị trước Đảng, Nhà nước và Nhân dân.  Phát biểu khai mạc tọa đàm, ông Ngô Minh Sơn, Phó Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước chuyên ngành V, cho biết qua thực tiễn kiểm toán trong những năm qua cho thấy, tình trạng lãng phí trong đầu tư công vẫn còn tiềm ẩn ở nhiều khâu, từ công tác chuẩn bị đầu tư, lập và phê duyệt dự án, bố trí nguồn vốn, giải phóng mặt bằng, lựa chọn nhà thầu, tổ chức thi công, nghiệm thu, thanh toán đến quản lý, vận hành và khai thác công trình. Những hạn chế, bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả đầu tư, kéo dài thời gian thực hiện dự án, phát sinh chi phí mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng nguồn lực công và niềm tin của Nhân dân đối với các chính sách phát triển của Nhà nước.  Trong bối cảnh đó, việc nhận diện đầy đủ, chính xác các hành vi, biểu hiện và nguyên nhân dẫn đến lãng phí thông qua kết quả kiểm toán có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là cơ sở để nâng cao chất lượng, hiệu lực và hiệu quả hoạt động kiểm toán mà còn góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong quản lý đầu tư công, qua đó thực hiện tốt chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Ông Vũ Duy Bắc, Phó Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước chuyên ngành IV chủ trì thảo luận tại Hội trường Chia sẻ về nhận diện hành vi lãng phí thông qua kết quả kiểm toán các dự án đầu tư công lĩnh vực đường bộ cao tốc, đại diện Kiểm toán nhà nước chuyên ngành IV cho biết, các sai sót dẫn đến lãng phí được nhận diện cụ thể trong từng giai đoạn khác nhau của quá trình thực hiện dự án đầu tư như: công tác lập, thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư dự án; lập, thẩm định, phê duyệt dự án; công tác khảo sát, lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán; lựa chọn nhà thầu, thương thảo, ký kết và thực hiện hợp đồng; nghiệm thu, thanh toán; công tác quản lý chất lượng công trình; quản lý tiến độ thực hiện dự án (cả tiến độ các gói thầu; tiến độ giải phóng mặt bằng); công tác quản lý, sử dụng nguồn vốn, chấp hành chế độ tài chính, kế toán (lập, phân bổ kế hoạch vốn; quản lý, sử dụng vốn; thanh toán, quyết toán, ...); công tác giải phóng mặt bằng; công tác nghiệm thu, bàn giao, đưa công trình vào khai thác, sử dụng; Trong thực hiện chính sách đặc thù và các nội dung khác có liên quan đến dự án. Đi sâu vào vấn đề kiểm toán công tác khảo sát, thiết kế, lập dự toán, Kiểm toán nhà nước chuyên ngành V chia sẻ về những sai sót chưa phù hợp quy hoạch, quy chuẩn, tiêu chuẩn, đơn giá, định mức của nhà nước dẫn đến thiết kế công trình chưa tối ưu, tăng tổng mức đầu tư. Chi phí cho các công tác khảo sát, thiết kế và lập dự toán với các dự án đầu tư công thường chiếm tỷ trọng chi phí không lớn trong tổng mức đầu tư. Tuy nhiên, việc thực hiện công tác khảo sát, thiết kế, lập dự toán của các đơn vị tư vấn có thể chưa phù hợp quy hoạch, quy chuẩn, tiêu chuẩn, đơn giá, định mức của Nhà nước. Quá trình thẩm tra, thẩm định chưa kịp thời phát hiện những vấn đề chưa phù hợp nói trên có thể dẫn đến công trình không được tối ưu về công năng sử dụng, công nghệ, yêu cầu kỹ thuật, thiết kế làm tăng chi phí thực tế của toàn bộ dự án hoặc sử dụng không hiệu quả, không hết công suất thiết kế, gây lãng phí nguồn lực đầu tư công. Thông qua kiểm toán công tác khảo sát, thiết kế, lập dự toán có thể xác định được sự phù hợp quy hoạch, quy chuẩn, tiêu chuẩn, đơn giá, định mức của Nhà nước để phần nào đánh giá sự tối ưu khi thiết kế công trình cũng như sự phù hợp của tổng mức đầu tư. Các đại biểu tham dự Tọa đàm Đối với hành vi lãng phí do chậm tiến độ dự án dẫn đến thời gian thi công kéo dài, phải điều chỉnh tăng tổng mức đầu tư, chậm đưa công trình vào khai thác, sử dụng, Kiểm toán nhà nước khu vực VI cho biết, nhiều dự án chậm tiến độ, kéo dài thời gian thi công, phải điều chỉnh quy mô, điều chỉnh thời gian thực hiện, tăng tổng mức đầu tư, phát sinh chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn, chi phí bù trượt giá vật liệu, nhân công và nhiều chi phí khác. Không ít công trình hoàn thành nhưng chậm được nghiệm thu, chậm quyết toán, chậm đưa vào khai thác, sử dụng hoặc đưa vào sử dụng nhưng chưa phát huy đầy đủ hiệu quả đầu tư. Tình trạng trên không chỉ làm giảm hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công mà còn có thể tạo ra lãng phí nguồn lực nhà nước, lãng phí đất đai, lãng phí cơ hội phát triển, làm tăng gánh nặng ngân sách và ảnh hưởng đến niềm tin của người dân, doanh nghiệp đối với hiệu quả quản lý, điều hành của cơ quan nhà nước. Vì vậy, việc nhận diện đúng, đầy đủ và kịp thời các hành vi, dấu hiệu gây lãng phí từ thực trạng chậm tiến độ dự án là yêu cầu cần thiết trong hoạt động kiểm toán. Qua thực tiễn kiểm toán các dự án đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn, Kiểm toán nhà nước khu vực VI nhận thấy nguyên nhân chủ yếu của tình trạng chậm tiến độ thường tập trung ở các khâu: chuẩn bị đầu tư chưa kỹ; khảo sát, thiết kế, dự toán chưa sát thực tế; giải phóng mặt bằng kéo dài; bố trí vốn chưa đáp ứng tiến độ; năng lực quản lý dự án, năng lực nhà thầu còn hạn chế; điều hành dự án thiếu quyết liệt; công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm chưa nghiêm. Để nhận diện đúng dấu hiệu lãng phí, kiểm toán cần đánh giá dự án theo chuỗi logic đầu vào - quá trình thực hiện - đầu ra - kết quả - tác động. Không nên chỉ xem xét riêng việc tăng tổng mức đầu tư hoặc chậm tiến độ ở thời điểm kiểm toán, mà cần phân tích nguyên nhân gốc rễ, trách nhiệm của từng chủ thể và ảnh hưởng của việc chậm tiến độ đến ngân sách, đến hiệu quả sử dụng vốn và đến mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Trong khi đó, thông qua hoạt động kiểm toán, Kiểm toán nhà nước khu vực XII nhận thấy, hành vi gây lãng phí ở giai đoạn quyết định đầu tư tập trung vào 02 nhóm hành vi điển hình: phê duyệt dự án chưa xác định rõ nhu cầu sử dụng và quyết định địa điểm đầu tư chưa phù hợp. Theo đó, phê duyệt dự án chưa xác định rõ nhu cầu sử dụng xuất phát từ việc khảo sát một cánh hình thức, tư duy nhiệm kỳ, hoặc áp đặt chủ quan dẫn đến quy mô công trình vượt quá xa nhu cầu thực tế, hoặc công trình xây xong không thể đưa vào khai thác. Lãng phí khi quyết định địa điểm đầu tư chưa phù hợp biểu hiện qua việc phê duyệt dự án không tuân thủ quy hoạch chung, chọn địa điểm bất lợi dẫn đến vướng mắc, khó khăn về pháp lý trong quá trình đầu tư dự án. Bên cạnh đó, Kiểm toán nhà nước khu vực XII cũng cho biết thêm hiện tượng lãng phí cũng xảy ra đối với các dự án đầu tư ngoài ngân sách. Đây là việc lãng phí rất lớn nguồn lực xã hội và nguồn lực đất đai của nhà nước mà nguyên nhân do địa phương xác định mục tiêu đầu tư chưa chuẩn xác (việc xác định mục tiêu dự án chưa thật sự phù hợp với mức độ đáp ứng của hạ tầng giao thông, hạ tầng kỹ thuật cũng như lực lượng lao động địa phương dẫn đến), chưa có cơ chế chính sách để phát triển đồng bộ các hạ tầng và các yếu tố liên quan khác để các dự án do các doanh nghiệp đầu tư phát huy hiệu quả, góp phần đóng góp nguồn thu cho địa phương. Đại biểu tham luận tại Hội trường Trong lĩnh vực giáo dục đại học, đại diện Kiểm toán nhà nước chuyên ngành III cho biết, đối với lĩnh vực giáo dục, các dự án đầu tư công chủ yếu bao gồm xây dựng trường học, trụ sở làm việc, đầu tư phòng thí nghiệm, máy móc, trang thiết bị chuyên ngành và các công trình phục vụ đào tạo, nghiên cứu. Một số hành vi gây lãng phí trong đầu tư công lĩnh vực giáo dục đại học được Kiểm toán nhà nước chuyên ngành III nhận diện như: lãng phí do công tác quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch; lãng phí do quy hoạch và đầu tư thiếu đồng bộ; lãng phí do bố trí vốn, giải ngân và thực hiện dự án chậm; lãng phí trong lập dự án, thiết kế và dự toán; Lãng phí do kéo dài thời gian thi công và đưa công trình vào sử dụng; Lãng phí trong khai thác, sử dụng tài sản sau đầu tư. Một số cơ sở đào tạo có quy mô tuyển sinh thực tế thấp hơn nhiều so với dự báo khi lập dự án, dẫn đến số lượng phòng học, phòng chức năng và phòng thí nghiệm được khai thác dưới công suất thiết kế. Nhiều máy móc, thiết bị phục vụ giảng dạy, nghiên cứu có tần suất sử dụng thấp, thậm chí không được đưa vào sử dụng. Một số dự án chưa tính toán đầy đủ nhu cầu kinh phí cho giai đoạn vận hành, bảo trì, bảo dưỡng và mua sắm vật tư, hóa chất phục vụ hoạt động chuyên môn. Do thiếu kinh phí vận hành, một số phòng thí nghiệm hoạt động không hiệu quả hoặc phải tạm dừng, làm giảm đáng kể hiệu quả đầu tư. Bên cạnh đó, một số máy móc, thiết bị được đầu tư đã lạc hậu hoặc ngừng sản xuất, không còn linh kiện thay thế, không tương thích với công nghệ mới nên không thể sửa chữa, nâng cấp hoặc tiếp tục khai thác. Điều này không chỉ làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản công mà còn làm phát sinh nhu cầu đầu tư thay thế trước thời hạn. Cũng tại tọa đàm, các đại biểu đã tập trung phân tích, nhận diện nhiều nguy cơ lãng phí vốn đầu tư công, những yếu tố ảnh hưởng đến tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả của các dự án đầu tư công, từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư đến giai đoạn nghiệm thu, vận hành, khai thác công trình cũng như đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực để nhân diện hành vi gây lãng phí trong kiểm toán dự án đầu tư công.

Hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước

Sáng 12/8/2026, Hội đồng khoa học Kiểm toán nhà nước đã tổ chức nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước” do ThS. Đào Trọng Khánh (Kiểm toán nhà nước khu vực VIII) làm đồng chủ nhiệm. Hội đồng nghiệm thu do TS. Bùi Quốc Dũng, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Kiểm toán nhà nước làm Chủ tịch. TS Bùi Quốc Dũng, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu, đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn của đề tài Hoạt động kiểm toán môi trường ngày càng được các Cơ quan Kiểm toán tối cao sử dụng như một công cụ hữu hiệu nhằm đánh giá hiệu quả quản lý, sử dụng tài nguyên, kiểm soát ô nhiễm và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững. Nhận thức được vai trò ngày càng quan trọng của kiểm toán môi trường, thời gian qua, Kiểm toán nhà nước đã từng bước mở rộng phạm vi và nội dung kiểm toán. Giai đoạn 2018-2023, Kiểm toán nhà nước đã thực hiện hơn 40 cuộc kiểm toán có nội dung liên quan đến môi trường. Riêng năm 2024, Kiểm toán nhà nước đã triển khai nhiều cuộc kiểm toán chuyên đề như: quản lý, bảo vệ nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt; quản lý môi trường tại các khu kinh tế, khu công nghiệp; quản lý, sử dụng kinh phí bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu tại các bộ, ngành và địa phương. Thông qua hoạt động kiểm toán, Kiểm toán nhà nước đã phát hiện nhiều tồn tại, bất cập trong công tác quản lý môi trường, kiến nghị hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công dành cho bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, đại diện Ban đề tài - ThS Đào Trọng Khánh cho biết, mặc dù Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã quy định Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán trong lĩnh vực môi trường, nhưng Luật Kiểm toán nhà nước hiện hành chưa có quy định cụ thể về đối tượng, nội dung và phạm vi kiểm toán môi trường. Một số hoạt động có tác động trực tiếp đến môi trường của doanh nghiệp ngoài khu vực công chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng để đưa vào kế hoạch kiểm toán. Bên cạnh đó, hệ thống dữ liệu môi trường phục vụ kiểm toán còn phân tán, việc chia sẻ thông tin giữa các cơ quan quản lý và Kiểm toán nhà nước chưa thực sự đồng bộ. Ngoài ra, các quy định về kiểm toán môi trường trong khu vực doanh nghiệp, tiêu chuẩn chuyên môn và hướng dẫn kỹ thuật phục vụ hoạt động kiểm toán môi trường vẫn chưa được hoàn thiện. Trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện các cam kết quốc tế về phát triển bền vững, ứng phó biến đổi khí hậu và mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, yêu cầu đối với hoạt động kiểm toán môi trường ngày càng cao, đòi hỏi phải mở rộng phạm vi đánh giá đối với các vấn đề môi trường liên ngành, liên vùng và các mục tiêu phát triển bền vững. Nhóm nghiên cứu cho rằng, bên cạnh việc tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động kiểm toán môi trường, việc nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước trong giám sát, đánh giá hiệu quả chính sách môi trường, quản lý tài nguyên, sử dụng nguồn lực công cho bảo vệ môi trường và thực hiện các cam kết quốc tế là yêu cầu cấp thiết. Điều này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng quản trị môi trường quốc gia mà còn khẳng định vị thế của Kiểm toán nhà nước trong việc hỗ trợ Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện mục tiêu phát triển bền vững. Đề tài “Hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước” được thực hiện nhằm đề xuất định hướng, giải pháp hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường, đồng thời nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước trong giám sát việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công và nguồn lực công gắn với bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. ThS Đào Trọng Khánh đại diện Ban đề tài trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, đề tài đã hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề lý luận chung về môi trường, kiểm toán môi trường, cơ sở pháp lý kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước. Theo đó, kiểm toán môi trường được xác định là một lĩnh vực kiểm toán chuyên biệt, được thực hiện thông qua kiểm toán tài chính, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động. Đề tài đã phân tích, đánh giá thực trạng cơ sở pháp lý và thực tiễn triển khai kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước. Kết quả nghiên cứu cho thấy cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường ở Việt Nam đã từng bước được hình thành, nhất là khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 ghi nhận vai trò của Kiểm toán nhà nước trong lĩnh vực môi trường; đồng thời Kiểm toán nhà nước đã ban hành, cập nhật chuẩn mực, quy trình, hướng dẫn nghiệp vụ và triển khai nhiều cuộc kiểm toán có nội dung liên quan đến môi trường. Bên cạnh kết quả đạt được, đề tài cũng chỉ ra một số hạn chế, bất cập chủ yếu như: Luật Kiểm toán nhà nước chưa quy định cụ thể về đối tượng, phạm vi, nội dung, phương thức và tiêu chí kiểm toán môi trường; cơ chế tiếp cận, chia sẻ dữ liệu môi trường còn thiếu đồng bộ; thẩm quyền kiểm tra, đối chiếu đối với các chủ thể ngoài khu vực công có tác động đến môi trường còn chưa rõ; nguồn nhân lực chuyên sâu, hướng dẫn kỹ thuật và ứng dụng công nghệ còn hạn chế. Trên cơ sở đó, đề tài đã khẳng định vai trò của Kiểm toán nhà nước là công cụ giám sát độc lập, góp phần tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình, đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực công cho bảo vệ môi trường và hỗ trợ hoàn thiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường, tăng trưởng xanh, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Nhóm nghiên cứu cũng đã đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước, tập trung vào hoàn thiện Luật Kiểm toán nhà nước và pháp luật có liên quan; làm rõ phạm vi, đối tượng, thẩm quyền, quyền tiếp cận dữ liệu và trách nhiệm phối hợp; cập nhật hướng dẫn kiểm toán môi trường theo các chủ đề mới như khí nhà kính, thị trường các-bon, EPR, kinh tế tuần hoàn, tài chính xanh; đồng thời phát triển nguồn nhân lực, tăng cường sử dụng chuyên gia, ứng dụng công nghệ số và nâng cao hiệu lực thực hiện kiến nghị kiểm toán. Có thể khẳng định, việc hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường là yêu cầu cần thiết trong bối cảnh Việt Nam thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, tăng trưởng xanh và cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Việc hoàn thiện này không nhằm mở rộng Kiểm toán nhà nước thành cơ quan quản lý hay thanh tra môi trường, mà nhằm tạo hành lang pháp lý rõ ràng để Kiểm toán nhà nước thực hiện tốt chức năng kiểm toán độc lập trong lĩnh vực môi trường. Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật về kiểm toán môi trường ở Việt Nam, đồng thời đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng, hiệu lực và hiệu quả hoạt động kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước trong thời gian tới. Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn mà đề tài mang lại Nhận xét về kết quả nghiên cứu của đề tài, Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn mà đề tài mang lại. Đề tài đã nhận diện trúng các “nút thắt” pháp lý hiện nay cũng như thẳng thắn chỉ ra các khoảng trống pháp lý mang tính cốt lõi. Đặc biệt, Đề tài đã đưa ra được bộ 8 tiêu chí (trên giác độ tiếp cận là công cụ quản lý, kiểm soát môi trường) để phân tích, so sánh, phân biệt kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước với thanh tra môi trường, đánh giá tác động môi trường, quan trắc môi trường, kiểm toán nội bộ ISO14001. Đề tài nghiên cứu phản ánh thực tiễn pháp lý về kiểm toán môi trường hiện nay cũng như thực tiễn hoạt động kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước, giữa thực tiễn tác động công tác quản lý, bảo vệ môi trường từ hoạt động kiểm toán môi trường, đối sánh với vai trò kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước cần phải khẳng định; nêu được các nhân tố tác động đến kiểm toán môi trường ở Việt Nam; xây dựng ma trận so sánh một số tiêu chí để rút ra giá trị tham khảo kinh nghiệm quốc tế cho Kiểm toán nhà nước Việt Nam… Việc bổ sung bảng phân biệt kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước với thanh tra môi trường, đánh giá tác động môi trường, quan trắc môi trường và kiểm toán nội bộ theo ISO 14001 đã góp phần khắc phục tình trạng đồng nhất giữa các công cụ quản lý môi trường được phản biện kín chỉ ra. Đề tài đã đón đầu xu hướng công nghệ khi đưa các quy trình ứng dụng GIS, dữ liệu viễn thám, dữ liệu lớn (Big Data) và Trí tuệ nhân tạo (AI) vào việc thu thập bằng chứng kiểm toán xanh. Những đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường, đồng thời nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước có giá trị thực tiễn, với những nguyên tắc, giải pháp và lộ trình tương đối rõ ràng; có giá trị tham khảo thiết thực đối với định hướng phát triển kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước trong thời gian tới. Toàn cảnh buổi nghiệm thu Nhằm hoàn thiện đề tài, Hội đồng đề nghị Ban đề tài rà soát, biên tập lại một số nội dung kết cấu các mục; rà soát lại các kinh nghiệm quốc tế để gắn với nội dung nghiên cứu của đề tài. Ban đề tài nên tập trung vào các bất cập hiện tại của hoạt động kiểm toán môi trường và định hướng phát triển của Kiểm toán môi trường để đưa ra các giải pháp. Đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn cũng như công tác tổ chức nghiên cứu đề tài, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu - Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Bùi Quốc Dũng đề nghị Ban Đề tài khi tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý và xây dựng Chiến lược kiểm toán môi trường giai đoạn 5-10 năm tới, cần có cách tiếp cận toàn diện, phân định rõ giữa giải quyết bất cập hiện tại và định hướng tương lai. Theo đó, bên cạnh việc nhận diện, tháo gỡ những vướng mắc từ thực tiễn môi trường để kiến nghị hoàn thiện pháp luật, cần dự báo sớm những xu hướng mới của môi trường trên thế giới, nhất là các vấn đề về Net Zero, phát triển bền vững, các công cụ kinh tế môi trường. Chủ tịch Hội đồng cũng lưu ý yêu cầu mở rộng phạm vi, đối tượng và phương thức tiếp cận dữ liệu phục vụ môi trường, hướng tới cơ chế khai thác dữ liệu thường xuyên, liên tục, kết nối trực tiếp, thay vì chủ yếu tiếp cận theo từng cuộc kiểm toán.  Đề tài được Hội đồng nghiệm thu xếp loại Xuất sắc./.

Khai giảng Khóa bồi dưỡng “Nâng cao năng lực quản trị tài chính công, tài sản công cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp” tại thành phố Đà Nẵng

Được sự đồng ý của lãnh đạo Kiểm toán nhà nước và lãnh đạo Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng, nhằm nâng cao năng lực quản trị tài chính công, tài sản công cho cán bộ, công chức cấp xã, phường trong thực thi nhiệm theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, sáng ngày 4/9/2026 tại Trường Chính trị Thành phố Đà Nẵng, Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán phối hợp với Sở Nội vụ Thành phố Đà Nẵng tổ chức Khóa bồi dưỡng “Nâng cao năng lực quản trị tài chính công, tài sản công cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp”. Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Bùi Quốc Dũng phát biểu khai giảng Khóa bồi dưỡng Tới dự khai giảng Khóa bồi dưỡng, về phía Kiểm toán nhà nước, có ông Bùi Quốc Dũng, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước, ông Vũ Văn Họa - Nguyên Phó Tổng Kiểm toán nhà nước, đại diện lãnh đạo Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán, đại diện lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Kiểm toán nhà nước. Về phía thành phố Đà Nẵng có ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng, đại diện lãnh đạo các cơ quan của Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các sở, ban, ngành của Thành phố. Tham dự Khóa học, 287 học viên là cán bộ, công chức cấp xã, phường thuộc các nhóm vị trí việc làm liên quan trực tiếp đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tham mưu và tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý tài chính, ngân sách, đầu tư và tài sản công sẽ được các giảng viên giàu kinh nghiệm đến từ Kiểm toán nhà nước, Bộ Tài chính, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh truyền đạt 5 chuyên đề, gồm: Thể chế, phân cấp và trách nhiệm quản lý ngân sách cấp xã, phường; Lập dự toán và phân bổ ngân sách cấp xã, phường; Điều hành ngân sách và quản lý tài sản công; Xử lý ngân sách cuối năm và quyết toán ngân sách; Quản lý nguồn cải cách tiền lương, quỹ lương và biên chế. Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng phát biểu tại Khóa bồi dưỡng Phát biểu khai giảng Khóa học, Phó tổng Kiểm toán nhà nước Bùi Quốc Dũng cho biết, thời gian qua, trong quá trình kiểm toán tại các địa phương, đặc biệt trong bối cảnh triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, Kiểm toán nhà nước nhận thấy đội ngũ cán bộ ở cấp xã đang phải đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ mới, thẩm quyền mới, trách nhiệm mới. Có những công việc trước đây thuộc cấp trung gian, nay được phân cấp trực tiếp về xã, phường. Trong khi đó, các quy định về ngân sách, tài sản công, mua sắm, đấu thầu, quyết toán, công khai tài chính… vừa nhiều, vừa có tính chuyên môn cao, lại đang trong quá trình tiếp tục hoàn thiện để phù hợp với mô hình tổ chức mới. Vì vậy, việc cán bộ cơ sở còn có những bỡ ngỡ, lúng túng, có những vấn đề chưa thống nhất trong cách hiểu và cách thực hiện. Thông qua kết quả kiểm toán cho thấy, nhiều sai sót không xuất phát từ động cơ cố ý mà do chưa nắm chắc thẩm quyền; chưa cập nhật đầy đủ quy định mới; chưa phân biệt rõ trách nhiệm giữa các chủ thể; hoặc chưa nhận diện được rủi ro ngay từ khâu đầu của quy trình. Những vấn đề như vậy nếu được phát hiện ngay trong quá trình thực hiện thì việc khắc phục thường đơn giản hơn rất nhiều. Từ thực tiễn đó, Kiểm toán nhà nước không chỉ dừng ở việc kết luận đơn vị đã làm đúng hay chưa đúng, mà còn cùng đồng hành thông qua việc chia sẻ từ thực tiễn kiểm toán để giúp các cơ quan, đơn vị nhận diện được những điểm dễ sai, những khâu có rủi ro cao và những vấn đề cần kiểm soát trước khi ra quyết định. “Do vậy, chúng ta cần chuyển dần từ tư duy “phát hiện sai sót sau khi đã xảy ra” sang việc góp phần giúp đơn vị “phòng ngừa sai sót ngay từ đầu”. Qua Khóa bồi dưỡng này, tôi hy vọng các đồng chí chính là những người đang đứng ở tuyến đầu của bộ máy chính quyền địa phương hai cấp, mọi thay đổi về cơ cấu tổ chức, phân cấp và phân quyền cuối cùng đều đi qua những công việc rất cụ thể. Vì vậy, tôi mong rằng trong khóa bồi dưỡng này, các đồng chỉ không chỉ dừng ở mang theo giáo trình mà mang chính công việc của mình vào lớp học, tích cực trao đổi với các đồng chí giảng viên để làm rõ những bất cập đang gặp từ thực tiễn triển khai công việc. Đặc biệt, sau khóa học, mỗi đồng chí khi trở về đơn vị sẽ có thêm những công cụ để tự kiểm soát công việc của mình tốt hơn.” - Phó Tổng Kiểm toán nhà nước đề nghị. Tham dự Khóa học có 287 học viên đến từ các đơn vị cấp xã, phường của Thành phố Đà Nẵng Phát biểu tại lễ khai giảng, ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng cho biết, việc tổ chức và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp là một chủ trương lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiến trình xây dựng nền hành chính hiện đại, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, gần dân, sát dân và phục vụ Nhân dân tốt hơn. Đối với thành phố Đà Nẵng, năm 2026 được xác định là “Năm phát huy hiệu quả mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, các cơ chế, chính sách đặc thù, đẩy mạnh thu hút đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội”. “Trong mô hình mới, cấp xã được giao thêm nhiều nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm và ngày càng phải chủ động quyết định, tổ chức thực hiện, kiểm soát nguồn lực và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện. Yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã vì thế cũng cao hơn, toàn diện hơn. Do vậy, yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là “quản lý tài chính, tài sản công đúng quy định”, mà cao hơn là phải quản trị tài chính, tài sản công một cách chủ động, minh bạch, hiệu quả, tiết kiệm và hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Đội ngũ cán bộ, công chức phải có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực tiễn ngày càng cao. Khóa bồi dưỡng này với sự đồng hành của Kiểm toán nhà nước, trực tiếp là Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán là một cơ hội quý báu để các đồng chí cán bộ, công chức xã, phường trên địa bàn thành phố được trao đổi, tiếp cận kinh nghiệm thực tiễn từ hoạt động kiểm toán; qua đó nâng cao năng lực tham mưu, tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao.” Các đồng chí lãnh đạo, đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại buổi khai giảng Khóa bồi dưỡng Để lớp học đạt được kết quả tốt theo mục tiêu đề ra, đồng chí Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố đề nghị các đồng chí học viên tập trung tham gia Khóa bồi dưỡng đầy đủ, nghiêm túc. Sau Khóa bồi dưỡng, đề nghị các cơ quan, đơn vị, địa phương cần rà soát ngay những vấn đề đang tồn tại tại đơn vị mình; chủ động áp dụng các nội dung đã được trao đổi; kịp thời báo cáo những khó khăn, vướng mắc để thành phố nghiên cứu, hướng dẫn và xử lý theo thẩm quyền. Khóa bồi dưỡng diễn ra từ ngày 4/9/2026 - 7/9/2026.

Vai trò của Kiểm toán nhà nước trong việc thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia về thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững

Là quốc gia đang phát triển có đường bờ biển dài, nhiều vùng đồng bằng thấp và mức độ phụ thuộc tương đối lớn vào tài nguyên thiên nhiên, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu. Các hiện tượng như nước biển dâng, xâm nhập mặn, hạn hán kéo dài, mưa lũ bất thường và sạt lở đất ngày càng gia tăng cả về tần suất lẫn cường độ, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của người dân, hệ sinh thái tự nhiên và quá trình phát triển kinh tế - xã hội. GS.TS Đoàn Xuân Tiên, Phó Chủ tịch Hội đồng khoa học Kiểm toán nhà nước làm Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu Trong bối cảnh đó, biến đổi khí hậu không chỉ là thách thức về môi trường mà còn trở thành vấn đề phát triển có tính liên ngành, tác động sâu rộng đến tăng trưởng, an sinh xã hội và mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia. Trước yêu cầu đó, Việt Nam đã chủ động tham gia và từng bước thực hiện nhiều cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Song song với việc tham gia các cam kết quốc tế, Việt Nam đã tích cực nội địa hóa các định hướng toàn cầu thông qua việc ban hành nhiều chính sách, chiến lược và chương trình hành động cấp quốc gia về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Các văn bản này đã tạo nền tảng quan trọng cho việc triển khai các cam kết trong thực tiễn. Trên thực tế, Việt Nam đã đạt được một số kết quả tích cực trong thực hiện Chương trình Nghị sự 2030, nhất là ở các lĩnh vực như giảm nghèo, giáo dục, y tế và bình đẳng giới. Tuy nhiên, quá trình thực hiện các mục tiêu gắn với môi trường, khí hậu và quản lý tài nguyên vẫn còn nhiều khó khăn. Tình trạng ô nhiễm môi trường, suy giảm hệ sinh thái, khai thác tài nguyên thiếu bền vững, cùng với những hạn chế trong phối hợp liên ngành, bố trí nguồn lực và giám sát thực hiện, đang làm giảm hiệu quả của nhiều chính sách, chương trình và dự án. Trên thế giới, nhiều Cơ quan Kiểm toán tối cao (SAI) đã từng bước khẳng định vai trò ngày càng rõ nét trong việc kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện các cam kết về khí hậu và phát triển bền vững. Phạm vi hoạt động của các SAI không còn chỉ giới hạn ở kiểm toán chi tiêu công, mà đã được mở rộng sang đánh giá hiệu quả các chính sách về giảm phát thải, chuyển đổi năng lượng, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs). Trong xu thế chung đó, Kiểm toán nhà nước Việt Nam cũng đã từng bước triển khai một số cuộc kiểm toán chuyên đề có liên quan, đồng thời tích cực thúc đẩy hợp tác quốc tế, tham gia các hoạt động của INTOSAI, ASOSAI và các cơ chế hợp tác khu vực trong lĩnh vực kiểm toán môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy hoạt động kiểm toán trong lĩnh vực này ở Việt Nam vẫn còn không ít hạn chế. Đặc biệt, còn thiếu các tiêu chí và công cụ phù hợp để đo lường, đánh giá mức độ thực hiện cam kết; việc phối hợp, chia sẻ thông tin giữa Kiểm toán nhà nước với các cơ quan chuyên trách về môi trường, tài chính khí hậu và phát triển bền vững chưa thật sự chặt chẽ; nhận thức về vai trò của kiểm toán trong thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia trong lĩnh vực này cũng chưa đầy đủ và toàn diện. ThS. Nguyễn Thị Kiều Thu, Kiểm toán nhà nước chuyên ngành III, thay mặt Ban đề tài báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu Đề tài “Vai trò của Kiểm toán nhà nước trong việc thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia về thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững” do ThS. Nguyễn Thị Kiều Thu - Kiểm toán nhà nước chuyên ngành III làm chủ nhiệm, trên cơ sở đó được tiến hành nghiên cứu góp phần làm rõ vị trí, vai trò, nội dung và phương thức phát huy chức năng của Kiểm toán nhà nước trong việc thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững trong điều kiện Việt Nam. Về phương diện thực tiễn, đề tài không chỉ đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế, phương thức và nội dung kiểm toán trong lĩnh vực này, mà còn xây dựng Bảng lộ trình triển khai kiểm toán biến đổi khí hậu và phát triển bền vững và Bảng khung tiêu chí kiểm toán lĩnh vực biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Đây là những kết quả có giá trị tham khảo trực tiếp cho việc tổ chức hoạt động kiểm toán, lựa chọn trọng tâm kiểm toán, xác định nội dung đánh giá và xem xét trách nhiệm thực hiện cam kết của các cơ quan, đơn vị liên quan, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường trách nhiệm giải trình, minh bạch trong quản lý nhà nước về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững ở Việt Nam. Tập trung nghiên cứu giai đoạn 2021-2025, là giai đoạn gắn với việc Việt Nam đẩy mạnh thực hiện các cam kết quốc tế sau COP26, đồng thời triển khai các định hướng, kế hoạch quan trọng như Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021-2030 theo Quyết định số 1422/QĐ-TTg và Lộ trình thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững theo Quyết định số 841/QĐ-TTg, đề tài nghiên cứu tập trung phân tích thực tiễn các cuộc kiểm toán và các quyết định giao nhiệm vụ kiểm toán có liên quan. Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn của Đề tài Kết quả nghiên cứu cho thấy, Kiểm toán nhà nước không chỉ thực hiện chức năng kiểm toán đối với việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công, mà còn góp phần nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực hiện chính sách thông qua các kết luận, kiến nghị kiểm toán. Trong điều kiện quản trị rủi ro khí hậu đòi hỏi sự phối hợp liên ngành, liên cấp và dựa trên bằng chứng, kiểm toán môi trường và kiểm toán hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá mức độ gắn kết giữa mục tiêu chính sách, tổ chức thực hiện và kết quả đạt được trên thực tế. Qua phân tích thực trạng cho thấy Việt Nam đã đạt được một số kết quả tích cực trong việc nội địa hóa các cam kết quốc gia về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững thông qua hệ thống chiến lược, quy hoạch và chương trình hành động tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, việc triển khai các cam kết này vẫn đối mặt với nhiều hạn chế như phân tán nguồn lực, thiếu đồng bộ dữ liệu, khó khăn trong lượng hóa kết quả, cũng như khoảng cách giữa mục tiêu đề ra và hiệu quả thực thi tại nhiều bộ, ngành và địa phương. Trong bối cảnh đó, hoạt động của Kiểm toán nhà nước liên quan đến môi trường, biến đổi khí hậu và phát triển bền vững đã bước đầu được mở rộng về phạm vi và nội dung, song mức độ lồng ghép các tiêu chí khí hậu và phát triển bền vững vào kiểm toán vẫn chưa thực sự hệ thống; các nội dung như tài chính khí hậu, giảm phát thải, thích ứng dựa vào hệ sinh thái, hay kiểm toán việc thực hiện các mục tiêu SDGs mới chỉ được tiếp cận ở mức độ ban đầu. Kết quả khảo sát các bên liên quan và phân tích mô hình nghiên cứu khẳng định vai trò của Kiểm toán nhà nước có mối liên hệ tích cực và có ý nghĩa thống kê với việc nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và mức độ thực hiện kiến nghị kiểm toán của các đơn vị được kiểm toán. Trên cơ sở đó, có thể nhận thấy hoạt động kiểm toán có khả năng góp phần hỗ trợ việc thực hiện các cam kết quốc gia về thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững, thông qua việc cung cấp thông tin, bằng chứng và kiến nghị phục vụ hoàn thiện quản lý, điều hành và sử dụng nguồn lực công. Kết quả này cũng cho thấy khi hoạt động kiểm toán được thiết kế phù hợp, có tiêu chí đánh giá rõ ràng và gắn với mục tiêu chính sách dài hạn, Kiểm toán nhà nước có thể phát huy tốt hơn vai trò của mình trong việc xem xét tiến độ thực hiện, phát hiện những hạn chế, bất cập trong cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện, qua đó hỗ trợ các cơ quan có thẩm quyền trong việc điều chỉnh phân bổ và sử dụng nguồn lực công cho ứng phó với biến đổi khí hậu. Đề tài được Hội đồng nghiệm thu xếp loại xuất sắc Từ các phân tích lý luận và thực tiễn, đề tài cho rằng việc nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước trong thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững không chỉ là yêu cầu đặt ra từ sự phát triển của hoạt động kiểm toán, mà còn phù hợp với đòi hỏi nâng cao chất lượng quản lý nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Trong điều kiện Việt Nam đang thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, phát thải thấp và thích ứng với khí hậu, Kiểm toán nhà nước cần tiếp tục phát huy vai trò của mình trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định, thông qua kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công và đưa ra các kết luận, kiến nghị kiểm toán có giá trị. Qua đó, Kiểm toán nhà nước góp phần tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực hiện các chương trình, dự án, chính sách công có liên quan đến các cam kết quốc gia về môi trường, khí hậu và phát triển bền vững. Đánh giá về Đề tài, Hội đồng nghiệm thu khẳng định đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao, nội dung công phu, cập nhật bối cảnh quốc tế và trong nước, bước đầu làm rõ vai trò của Kiểm toán nhà nước trong thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia về thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Đề tài cũng đã làm rõ mối quan hệ giữa biến đổi khí hậu, phát triển bền vững, cam kết quốc gia và yêu cầu giám sát độc lập; phân biệt các phạm vi kiểm toán có liên quan và khẳng định việc triển khai thông qua các loại hình kiểm toán hiện hành, không hình thành một loại hình kiểm toán mới ngoài quy định. Đề tài cũng đã nhận diện tương đối phù hợp các nhóm hạn chế về cơ sở pháp lý và tiêu chí, phương pháp tiếp cận, dữ liệu và bằng chứng, nhân lực chuyên sâu, phối hợp và chia sẻ thông tin, qua đó tạo căn cứ cho các giải pháp được đề xuất. Về giải pháp và khả năng ứng dụng, đề tài đã xây dựng năm nhóm giải pháp tương đối toàn diện, lộ trình ba giai đoạn, khung tiêu chí, tiêu chí lựa chọn chủ đề, danh mục dữ liệu và chương trình đào tạo có giá trị định hướng. Tuy nhiên, các nội dung này hiện phù hợp ở mức khung đề xuất và cần được lựa chọn thí điểm, đánh giá, chuẩn hóa trước khi sử dụng như hướng dẫn nghiệp vụ chính thức. Để hoàn thiện đề tài, Ban chủ nhiệm cần nhấn mạnh trọng tâm, tăng chiều sâu phân tích tác động và ưu tiên các giải pháp để nâng cao tính cô đọng, khả thi và giá trị ứng dụng của kết quả nghiên cứu. Ngoài ra, cần làm rõ phạm vi và trọng tâm nghiên cứu, cơ sở lý luận và chiếu sâu phân tích thực trạng, nghiên cứu định lượng và tính thống nhất của số liệu; hệ thống giải pháp, lộ trình và thẩm quyền kiến nghị. Đề tài cần hoàn thiện khung tiêu chí kiểm toán, làm tõ tính mới và khả năng ứng dụng, tiếp tục chuẩn hóa khung tiêu chí kiểm toán, phân biệt rõ tiêu chí hoặc chuẩn so sánh với câu hỏi kiểm toán, chỉ số đo lường, nguồn bằng chứng và thủ tục kiểm toán. Khung tiêu chí hiện có nên được xác định là danh mục định hướng cần tiếp tục thí điểm và hoàn thiện, chưa phải hướng dẫn nghiệp vụ có thể áp dụng trực tiếp cho mọi cuộc kiểm toán. Phát biểu kết luận tại buổi nghiệm thu, GS.TS Đoàn Xuân Tiên, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu cho rằng Đề tài cần ưu tiên giải pháp theo mức độ khả thi và thứ tự thực hiện; làm rõ giải pháp nào thuộc thẩm quyền Kiểm toán nhà nước, giải pháp nào cần kiến nghị Quốc hội, Chính phủ; cần rút gọn các phần liệt kê thông tin. Đề tài đã kết hợp phân tích thực tiễn với mô hình định lượng, tuy nhiên cần nhấn mạnh rõ hơn giá trị mới so với các đề tài kiểm toán môi trường trước đây của Kiểm toán nhà nước, đóng góp cụ thể của đề tài đối với việc xây dựng lộ trình kiểm toán biến đổi khí hậu đến 2030. Đề tài được Hội đồng nghiệm thu xếp loại xuất sắc.