Thứ tư, 19/8/2026

Điện thoại (024) 6287 3463

Đường dây nóng (024) 6287 3463

Liên hệ quảng cáo (+84)915.632.345

Thứ tư, 19/8/2026
Share on Facebook
Copy to Clipboard

Kiểm toán trong kỷ nguyên mới - nâng cao năng lực kiểm toán với AI

Sáng 13/10, Kiểm toán nhà nước phối hợp với Hiệp hội Kế toán Công chứng Anh Quốc (ACCA) Việt Nam tổ chức Hội thảo “Kiểm toán trong kỷ nguyên mới – nâng cao năng lực kiểm toán với AI”. Tới dự Hội thảo, về phía Kiểm toán nhà nước có ông Bùi Quốc Dũng, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước, ông Hoàng Văn Lương, Vụ trưởng Vụ Tổng hợp, ông Nguyễn Bá Dũng, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, ông Phạm Huy Thông, Phó Cục trưởng phụ trách Cục Công nghệ thông tin cùng đại diện lãnh đạo và kiểm toán viên, chuyên viên các đơn vị trong Ngành. Về phía ACCA, Hội thảo có dự tham dự của bà Ayla Majid - Chủ tịch ACCA toàn cầu, ông Ren Varma - Giám đốc ACCA khu vực Đông Nam Á lục địa, ông Tô Quốc Hưng, Giám đốc Quốc gia ACCA Việt Nam và đại diện các hội viên ACCA tại Hà Nội.

thumbnail
Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Bùi Quốc Dũng phát biểu khai mạc Hội thảo

Chuyển đổi từ “kiểm toán sau” sang “kiểm toán thông minh, chủ động, thời gian thực”

Phát biểu khai mạc Hội thảo, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Bùi Quốc Dũng khẳng định chưa bao giờ trong lịch sử nhân loại, công nghệ lại thay đổi nhanh và sâu sắc như hiện nay. AI đang tái định hình mọi ngành nghề - từ sản xuất, tài chính, đến y tế, giáo dục - và kiểm toán, với sứ mệnh bảo đảm tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản trị công, cũng không nằm ngoài dòng chảy ấy. “Với chúng ta - những người làm nghề kiểm toán - AI không chỉ là một công cụ, mà còn là cơ hội để tái tạo chính cách chúng ta tư duy và hành động.” - Phó Tổng Kiểm toán nhà nước cho biết. “Vì vậy, việc hiểu đúng - ứng dụng đúng - và định hướng đúng AI trong lĩnh vực kiểm toán không chỉ là yêu cầu về năng lực nghề nghiệp, mà còn là trách nhiệm xã hội và đạo đức nghề nghiệp của mỗi kiểm toán viên.”

Sự xuất hiện của AI và phân tích dữ liệu lớn tạo ra bước ngoặt: thay vì “điểm ảnh rời rạc”, cơ quan kiểm toán có thể quét và phân tích toàn bộ tập dữ liệu (overall data), nhờ đó nâng mức đảm bảo, giảm thiên kiến chủ quan và tăng tính nhất quán trong đánh giá. Cùng lúc, các thuật toán học máy, học sâu và xử lý ngôn ngữ tự nhiên biến những kho văn bản, hồ sơ phi cấu trúc khổng lồ thành thông tin có thể truy cập, tìm kiếm, đối chiếu và giải thích được. Và khi đó, kiểm toán không dừng ở phát hiện sau, mà có thể dự báo xu hướng sai sót, lãng phí, gian lận để can thiệp sớm - một bước chuyển từ phản ứng sang chủ động.

Thực tế cho thấy khối lượng và độ phức tạp của dữ liệu công tại Việt Nam đang dần vượt xa những gì phương pháp kiểm toán truyền thống (chủ yếu dựa vào chọn mẫu) có thể bao quát. Đó là những bức tranh dữ liệu khổng lồ, liên tục cập nhật theo thời gian thực, mà nếu tiếp tục xử lý bằng cách tiếp cận thủ công truyền thống, chúng ta sẽ có nguy cơ bỏ sót rủi ro hệ thống và giảm độ tin cậy của kết luận kiểm toán. Nhìn thẳng vào thách thức và thời cơ, Kiểm toán nhà nước đã lựa chọn con đường chủ động: xây nền tảng dữ liệu, kết nối - chia sẻ với các bộ, ngành trọng yếu; chuẩn bị hạ tầng lưu trữ và xử lý; đồng thời triển khai những dự án AI trực tiếp giải bài toán nghiệp vụ của kiểm toán công.

thumbnail
Toàn cảnh Hội thảo

Kiểm toán nhà nước đã khởi dựng nền tảng dữ liệu lớn, lựa chọn kiến trúc công nghệ phù hợp và kết nối - chia sẻ với Bộ Tài chính, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước, tạo lập kho dữ liệu trên 100 triệu bản ghi phục vụ phân tích kiểm toán. Chúng tôi đã xây dựng hệ sinh thái công nghệ kiểm toán, trong đó 6 phần mềm ứng dụng AI và dữ liệu đang được triển khai trong thực tế: từ phân tích dữ liệu ngân sách, đánh giá rủi ro, kiểm tra giao dịch tài chính, đến giám sát đầu tư công và đánh giá chi tiêu xanh. Những kết quả bước đầu đó khẳng định: AI không thay thế kiểm toán viên, mà làm cho kiểm toán viên trở nên mạnh mẽ hơn, chính xác hơn, và sâu sắc hơn.

Ở góc độ quản trị công, Kiểm toán nhà nước nhận thấy AI không chỉ giúp phát hiện sai phạm nhanh hơn, mà còn giúp dự báo rủi ro, khuyến nghị chính sách và hỗ trợ quyết định quản lý tài chính công - đúng với tinh thần chuyển đổi từ “kiểm toán sau” sang “kiểm toán thông minh, chủ động, thời gian thực”.

ACCA và Kiểm toán nhà nước Việt Nam trong nhiều năm qua đã có những chương trình hợp tác rất hiệu quả – từ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đến các sáng kiến đổi mới về quản trị công, tài chính bền vững và chuyển đổi số. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, sức mạnh của nghề kiểm toán không đến từ từng quốc gia riêng lẻ, mà từ sự kết nối của tri thức, dữ liệu và chuẩn mực quốc tế. AI không chỉ đòi hỏi chúng ta thay đổi công cụ, mà còn đòi hỏi thay đổi tư duy kiểm toán. Từ “kiểm tra cái đã xảy ra” sang “phân tích điều đang xảy ra” và “dự báo điều sẽ xảy ra”. Từ “kiểm toán hồ sơ” sang “kiểm toán dữ liệu”, và từ “báo cáo kết quả” sang “đưa ra khuyến nghị giá trị cho chính sách công”. Điều đó đòi hỏi người kiểm toán viên của kỷ nguyên mới phải là người hội tụ ba yếu tố: Trung thực - hiểu biết sâu về đạo đức và pháp lý; thông minh - biết sử dụng công nghệ và AI như công cụ phân tích; trách nhiệm - vì mục tiêu cuối cùng là phục vụ công dân và phát triển bền vững.

AI định hình tương lai kiểm toán công

Bà Ayla Majid - Chủ tịch ACCA toàn cầu - cho rằng về bản chất, AI trong kế toán là công cụ giúp giảm khối lượng công việc thủ công, nâng cao khả năng phân tích dữ liệu và hỗ trợ kiểm toán theo thời gian thực trong các chương trình tài chính và hạ tầng quy mô lớn. Tuy nhiên, đi cùng với những lợi ích về hiệu quả và tiết kiệm chi phí là những thách thức mới - những thách thức mà chúng ta phải thừa nhận và giải quyết khi tiến xa hơn trong hành trình ứng dụng AI.

thumbnail
Bà Ayla Majid - Chủ tịch ACCA toàn cầu - cho rằng AI định hình tương lai kiểm toán công

Với vai trò là một hội nghề nghiệp toàn cầu, ACCA mong muốn hỗ trợ phát triển lĩnh vực kế toán và kiểm toán tại Việt Nam. Điều này bắt đầu từ việc thúc đẩy tinh thần trách nhiệm nghề nghiệp - nghĩa là đào tạo những kế toán viên chuyên nghiệp có kiến thức vững vàng, đạo đức nghề nghiệp cao và tầm nhìn lãnh đạo, góp phần xây dựng một nền kinh doanh bền vững. Đây cũng là trọng tâm của chương trình đào tạo ACCA mới với mục tiêu chuẩn bị cho các chuyên gia đối phó với những thách thức phức tạp của một thế giới đầy biến động - từ bất ổn kinh tế, biến đổi khí hậu đến xung đột địa chính trị.

Nghiên cứu toàn cầu của ACCA - bao gồm chuỗi báo cáo AI Monitor - cho thấy 85% chuyên gia tài chính tin rằng AI sẽ làm thay đổi vai trò của họ, nhưng chỉ chưa đến một phần ba hiện đang có cơ hội được đào tạo bài bản. Khoảng cách này cho thấy đầu tư cho công nghệ là chưa đủ - chúng ta cần đầu tư cho con người. Chuyên gia tài chính công không chỉ cần thành thạo kỹ thuật, mà còn phải có tư duy đạo đức và phản biện. Họ cần hiểu AI được huấn luyện thế nào, có thể mang thiên lệch ra sao và kết quả cần được diễn giải như thế nào. Các chương trình đào tạo về AI trong lĩnh vực kiểm toán do đó cần bao gồm kiến thức về AI và dữ liệu, năng lực phương pháp luận và lý luận đạo đức nghề nghiệp. Bên cạnh đó, hợp tác liên ngành cũng rất quan trọng. Việc triển khai thành công đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa kiểm toán viên, nhà khoa học dữ liệu và đội ngũ quản trị. Mô hình này nên được mở rộng sang hợp tác với giới học thuật, cơ quan quản lý và các nhà cung cấp công nghệ, nhằm chuyển giao tri thức và xây dựng năng lực nội bộ.

ACCA cho rằng kiểm toán AI sẽ là biên giới mới của ngành đảm bảo. Kiểm toán viên cần được trang bị để đặt ra những câu hỏi then chốt: Mục tiêu của mô hình AI là gì, và có phù hợp với mục tiêu của khu vực công không? Dữ liệu được sử dụng có đạt tiêu chuẩn về chất lượng và tính toàn vẹn không? Kết quả có minh bạch và có thể tái tạo không? Nếu xảy ra sai sót, ai chịu trách nhiệm và cơ chế giám sát ra sao? Những câu hỏi này mở rộng các nguyên tắc kiểm toán truyền thống - độc lập, hoài nghi nghề nghiệp và xác minh - vào kỷ nguyên số.
Chúng đặc biệt quan trọng nếu chúng ta muốn AI củng cố thay vì làm suy yếu niềm tin công chúng.

Kiểm toán thông minh: AI - từ công cụ hỗ trợ đến chiến lược chuyển đổi số

Cùng khẳng định AI không chỉ là xu hướng trong ngắn hạn, các diễn giả cho rằng AI đã làm thay đổi một cách cơ bản các ngành nghề.

Tại phiên thảo luận “Kiểm toán thông minh: AI - từ công cụ hỗ trợ đến chiến lược chuyển đổi số”, ông Phan Ngọc Anh Phó Tổng Giám đốc Dịch vụ kiểm toán, Deloitte Việt Nam cho rằng AI giúp nâng cao chất lượng kiểm toán, rút ngắn thời gian thủ tục hành chính và hỗ trợ phân tích dữ liệu lớn. Ví dụ, trong kiểm toán ngân hàng, AI có thể rà soát, tổng hợp và đánh giá 10-12 nghìn hợp đồng vay trong thời gian rất ngắn, giúp kiểm toán viên đưa ra đánh giá chính xác hơn. Các công cụ AI được Deloitte sử dụng với 2 mục đích cơ bản là giúp nâng cao hiệu quả và chất lượng kiểm toán cũng như kết nối giữa Deloitte và khách hàng.

thumbnail
Các đại biểu thảo luận tại Phiên thứ nhất

Trong khi đó, bà Nguyễn Ngọc Lan Anh, Giám đốc Công nghệ và Nghiệp vụ, Ngân hàng Standard Chartered Việt Nam cho biết, AI đã làm thay đổi mô hình kinh doanh. AI được ứng dụng trong quản lý rủi ro, dịch vụ ngoại hối, phát hiện gian lận, an toàn an ninh mạng và lập trình hệ thống. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất trong thời đại AI chính là bảo mật thông tin. AI giúp phát hiện sớm các lỗ hổng bảo mật, đồng thời tối ưu hóa các quy trình vận hành và quản lý rủi ro tỷ giá.

Trong lĩnh vực kiểm toán nhà nước, TS Phạm Huy Thông, Phó Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin khẳng định ứng dụng AI vào nghiệp vụ kiểm toán là xu hướng tất yếu và Kiểm toán nhà nước có những đặc thù khác biệt với kiểm toán độc lập. Để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó, từ cuối năm 2024, Kiểm toán nhà nước Việt Nam đã thực hiện 2 nhiệm vụ ứng dụng AI trong đó tháng 4/2025 sản phẩm đầu tiên đã được ứng dụng vào thực tiễn là Ứng dụng AI trong kiểm toán các chương trình số hóa. Kiểm toán nhà nước tiếp tục triển khai các ứng dụng AI phục vụ trực tiếp công tác đánh giá rủi ro nhằm định hướng nhiệm vụ kiểm toán trọng tâm, tổng hợp kinh nghiệm kiểm toán, nâng cao chất lượng kiểm soát kiểm toán, hỗ trợ tra cứu và đối chiếu văn bản pháp luật, tổng hợp đề tài nghiên cứu khoa học phục vụ công tác nghiên cứu, học tập… với mục tiêu là tối ưu hóa, chuẩn hóa các khâu trọng yếu, nâng cao hiệu quả và chất lượng kiểm toán.

Về dài hạn, Kiểm toán nhà nước hướng tới xây dựng hệ sinh thái AI toàn diện, hỗ trợ từ lập kế hoạch đến theo dõi thực hiện kiến nghị kiểm toán, phân tích dữ liệu lớn về đơn vị và đối tượng kiểm toán, đồng thời đối chiếu thông tin với các cơ quan như Thuế, Kho bạc, Hải quan. Đây là lĩnh vực ưu tiên, tập trung nguồn lực triển khai hiệu quả. Bên cạnh đó, Kiểm toán nhà nước sẽ ứng dụng công nghệ cao cho kiểm toán thực địa: viễn thám, GIS, GeoAI… để giám định môi trường, tài nguyên, khoáng sản, đánh giá đất hiếm và dự báo tài nguyên. Chiến lược tổng thể của Kiểm toán nhà nước thời gian tới là chuyển từ mô hình kiểm toán truyền thống, hậu kiểm, chọn mẫu sang kiểm toán số, kiểm toán 100% đối tượng theo thời gian thực, hướng tới tiền kiểm, giảm rủi ro, thất thoát và lãng phí ngân sách nhà nước.

Kiểm toán trong kỷ nguyên mới - năng lực, công nghệ và hợp tác

Theo ông Hoàng Văn Lương, Vụ trưởng Vụ Tổng hợp Kiểm toán nhà nước, trong bối cảnh tổ chức lại mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, trong đó với hơn 3000 đơn vị cấp xã thì quy mô kiểm toán vô cùng lớn và ứng dụng công nghệ trong hoạt động kiểm toán là yêu cầu cấp thiết với những lợi ích hiện hữu như: Các ứng dụng AI hỗ trợ việc tổng hợp kết quả kiểm toán, đưa ra các kiến nghị kiểm toán thống nhất đối với cùng 1 sai phạm; hỗ trợ chọn mẫu kiểm toán với quy mô lớn; tổng hợp dữ liệu lớn…

thumbnail
Kiểm toán trong kỷ nguyên mới - năng lực, công nghệ và hợp tác

Chia sẻ những giải pháp và kinh nghiệm quốc tế, Chủ tịch ACCA toàn cầu Ayla Majid nhấn mạnh rằng việc ứng dụng AI trong kiểm toán chỉ thực sự hiệu quả khi kết hợp song song giữa đổi mới công nghệ và phát triển năng lực con người. AI không thể thay thế kiểm toán viên mà là công cụ giúp họ mở rộng phạm vi kiểm toán, phân tích dữ liệu toàn diện và nâng cao tính minh bạch trong hoạt động tài chính công.

Bà Ayla Majid cho rằng, muốn triển khai thành công, các cơ quan kiểm toán cần tập trung vào 3 nhóm giải pháp: đào tạo năng lực AI và dữ liệu cho kiểm toán viên, đặc biệt chú trọng đạo đức nghề nghiệp và tư duy phản biện; xây dựng khung đảm bảo AI (AI Assurance Roadmap) với các nguyên tắc minh bạch, có thể giải thích và được đánh giá độc lập; đồng thời thúc đẩy hợp tác liên ngành giữa kiểm toán viên, chuyên gia dữ liệu, cơ quan quản lý và giới học thuật để đảm bảo AI được ứng dụng có trách nhiệm.

thumbnail
Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại Hội thảo

Bà khẳng định, Kiểm toán nhà nước Việt Nam có vị thế đặc biệt để dẫn dắt hành trình này trong khu vực, thông qua việc tích hợp AI có trách nhiệm vào quy trình kiểm toán, đồng thời xây dựng khuôn khổ đánh giá và quản trị AI phù hợp thực tiễn. Đây là nền tảng quan trọng giúp kiểm toán công vừa tận dụng được sức mạnh công nghệ, vừa bảo đảm tính minh bạch, liêm chính và niềm tin công chúng - những giá trị cốt lõi của nghề kiểm toán.

Lượt xem: 46

Hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước

Sáng 12/8/2026, Hội đồng khoa học Kiểm toán nhà nước đã tổ chức nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước” do ThS. Đào Trọng Khánh (Kiểm toán nhà nước khu vực VIII) làm đồng chủ nhiệm. Hội đồng nghiệm thu do TS. Bùi Quốc Dũng, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Kiểm toán nhà nước làm Chủ tịch. TS Bùi Quốc Dũng, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu, đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn của đề tài Hoạt động kiểm toán môi trường ngày càng được các Cơ quan Kiểm toán tối cao sử dụng như một công cụ hữu hiệu nhằm đánh giá hiệu quả quản lý, sử dụng tài nguyên, kiểm soát ô nhiễm và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững. Nhận thức được vai trò ngày càng quan trọng của kiểm toán môi trường, thời gian qua, Kiểm toán nhà nước đã từng bước mở rộng phạm vi và nội dung kiểm toán. Giai đoạn 2018-2023, Kiểm toán nhà nước đã thực hiện hơn 40 cuộc kiểm toán có nội dung liên quan đến môi trường. Riêng năm 2024, Kiểm toán nhà nước đã triển khai nhiều cuộc kiểm toán chuyên đề như: quản lý, bảo vệ nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt; quản lý môi trường tại các khu kinh tế, khu công nghiệp; quản lý, sử dụng kinh phí bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu tại các bộ, ngành và địa phương. Thông qua hoạt động kiểm toán, Kiểm toán nhà nước đã phát hiện nhiều tồn tại, bất cập trong công tác quản lý môi trường, kiến nghị hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công dành cho bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, đại diện Ban đề tài - ThS Đào Trọng Khánh cho biết, mặc dù Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã quy định Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán trong lĩnh vực môi trường, nhưng Luật Kiểm toán nhà nước hiện hành chưa có quy định cụ thể về đối tượng, nội dung và phạm vi kiểm toán môi trường. Một số hoạt động có tác động trực tiếp đến môi trường của doanh nghiệp ngoài khu vực công chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng để đưa vào kế hoạch kiểm toán. Bên cạnh đó, hệ thống dữ liệu môi trường phục vụ kiểm toán còn phân tán, việc chia sẻ thông tin giữa các cơ quan quản lý và Kiểm toán nhà nước chưa thực sự đồng bộ. Ngoài ra, các quy định về kiểm toán môi trường trong khu vực doanh nghiệp, tiêu chuẩn chuyên môn và hướng dẫn kỹ thuật phục vụ hoạt động kiểm toán môi trường vẫn chưa được hoàn thiện. Trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện các cam kết quốc tế về phát triển bền vững, ứng phó biến đổi khí hậu và mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, yêu cầu đối với hoạt động kiểm toán môi trường ngày càng cao, đòi hỏi phải mở rộng phạm vi đánh giá đối với các vấn đề môi trường liên ngành, liên vùng và các mục tiêu phát triển bền vững. Nhóm nghiên cứu cho rằng, bên cạnh việc tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động kiểm toán môi trường, việc nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước trong giám sát, đánh giá hiệu quả chính sách môi trường, quản lý tài nguyên, sử dụng nguồn lực công cho bảo vệ môi trường và thực hiện các cam kết quốc tế là yêu cầu cấp thiết. Điều này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng quản trị môi trường quốc gia mà còn khẳng định vị thế của Kiểm toán nhà nước trong việc hỗ trợ Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện mục tiêu phát triển bền vững. Đề tài “Hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước” được thực hiện nhằm đề xuất định hướng, giải pháp hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường, đồng thời nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước trong giám sát việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công và nguồn lực công gắn với bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. ThS Đào Trọng Khánh đại diện Ban đề tài trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, đề tài đã hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề lý luận chung về môi trường, kiểm toán môi trường, cơ sở pháp lý kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước. Theo đó, kiểm toán môi trường được xác định là một lĩnh vực kiểm toán chuyên biệt, được thực hiện thông qua kiểm toán tài chính, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động. Đề tài đã phân tích, đánh giá thực trạng cơ sở pháp lý và thực tiễn triển khai kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước. Kết quả nghiên cứu cho thấy cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường ở Việt Nam đã từng bước được hình thành, nhất là khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 ghi nhận vai trò của Kiểm toán nhà nước trong lĩnh vực môi trường; đồng thời Kiểm toán nhà nước đã ban hành, cập nhật chuẩn mực, quy trình, hướng dẫn nghiệp vụ và triển khai nhiều cuộc kiểm toán có nội dung liên quan đến môi trường. Bên cạnh kết quả đạt được, đề tài cũng chỉ ra một số hạn chế, bất cập chủ yếu như: Luật Kiểm toán nhà nước chưa quy định cụ thể về đối tượng, phạm vi, nội dung, phương thức và tiêu chí kiểm toán môi trường; cơ chế tiếp cận, chia sẻ dữ liệu môi trường còn thiếu đồng bộ; thẩm quyền kiểm tra, đối chiếu đối với các chủ thể ngoài khu vực công có tác động đến môi trường còn chưa rõ; nguồn nhân lực chuyên sâu, hướng dẫn kỹ thuật và ứng dụng công nghệ còn hạn chế. Trên cơ sở đó, đề tài đã khẳng định vai trò của Kiểm toán nhà nước là công cụ giám sát độc lập, góp phần tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình, đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực công cho bảo vệ môi trường và hỗ trợ hoàn thiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường, tăng trưởng xanh, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Nhóm nghiên cứu cũng đã đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước, tập trung vào hoàn thiện Luật Kiểm toán nhà nước và pháp luật có liên quan; làm rõ phạm vi, đối tượng, thẩm quyền, quyền tiếp cận dữ liệu và trách nhiệm phối hợp; cập nhật hướng dẫn kiểm toán môi trường theo các chủ đề mới như khí nhà kính, thị trường các-bon, EPR, kinh tế tuần hoàn, tài chính xanh; đồng thời phát triển nguồn nhân lực, tăng cường sử dụng chuyên gia, ứng dụng công nghệ số và nâng cao hiệu lực thực hiện kiến nghị kiểm toán. Có thể khẳng định, việc hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường là yêu cầu cần thiết trong bối cảnh Việt Nam thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, tăng trưởng xanh và cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Việc hoàn thiện này không nhằm mở rộng Kiểm toán nhà nước thành cơ quan quản lý hay thanh tra môi trường, mà nhằm tạo hành lang pháp lý rõ ràng để Kiểm toán nhà nước thực hiện tốt chức năng kiểm toán độc lập trong lĩnh vực môi trường. Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật về kiểm toán môi trường ở Việt Nam, đồng thời đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng, hiệu lực và hiệu quả hoạt động kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước trong thời gian tới. Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn mà đề tài mang lại Nhận xét về kết quả nghiên cứu của đề tài, Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn mà đề tài mang lại. Đề tài đã nhận diện trúng các “nút thắt” pháp lý hiện nay cũng như thẳng thắn chỉ ra các khoảng trống pháp lý mang tính cốt lõi. Đặc biệt, Đề tài đã đưa ra được bộ 8 tiêu chí (trên giác độ tiếp cận là công cụ quản lý, kiểm soát môi trường) để phân tích, so sánh, phân biệt kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước với thanh tra môi trường, đánh giá tác động môi trường, quan trắc môi trường, kiểm toán nội bộ ISO14001. Đề tài nghiên cứu phản ánh thực tiễn pháp lý về kiểm toán môi trường hiện nay cũng như thực tiễn hoạt động kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước, giữa thực tiễn tác động công tác quản lý, bảo vệ môi trường từ hoạt động kiểm toán môi trường, đối sánh với vai trò kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước cần phải khẳng định; nêu được các nhân tố tác động đến kiểm toán môi trường ở Việt Nam; xây dựng ma trận so sánh một số tiêu chí để rút ra giá trị tham khảo kinh nghiệm quốc tế cho Kiểm toán nhà nước Việt Nam… Việc bổ sung bảng phân biệt kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước với thanh tra môi trường, đánh giá tác động môi trường, quan trắc môi trường và kiểm toán nội bộ theo ISO 14001 đã góp phần khắc phục tình trạng đồng nhất giữa các công cụ quản lý môi trường được phản biện kín chỉ ra. Đề tài đã đón đầu xu hướng công nghệ khi đưa các quy trình ứng dụng GIS, dữ liệu viễn thám, dữ liệu lớn (Big Data) và Trí tuệ nhân tạo (AI) vào việc thu thập bằng chứng kiểm toán xanh. Những đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường, đồng thời nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước có giá trị thực tiễn, với những nguyên tắc, giải pháp và lộ trình tương đối rõ ràng; có giá trị tham khảo thiết thực đối với định hướng phát triển kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước trong thời gian tới. Toàn cảnh buổi nghiệm thu Nhằm hoàn thiện đề tài, Hội đồng đề nghị Ban đề tài rà soát, biên tập lại một số nội dung kết cấu các mục; rà soát lại các kinh nghiệm quốc tế để gắn với nội dung nghiên cứu của đề tài. Ban đề tài nên tập trung vào các bất cập hiện tại của hoạt động kiểm toán môi trường và định hướng phát triển của Kiểm toán môi trường để đưa ra các giải pháp. Đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn cũng như công tác tổ chức nghiên cứu đề tài, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu - Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Bùi Quốc Dũng đề nghị Ban Đề tài khi tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý và xây dựng Chiến lược kiểm toán môi trường giai đoạn 5-10 năm tới, cần có cách tiếp cận toàn diện, phân định rõ giữa giải quyết bất cập hiện tại và định hướng tương lai. Theo đó, bên cạnh việc nhận diện, tháo gỡ những vướng mắc từ thực tiễn môi trường để kiến nghị hoàn thiện pháp luật, cần dự báo sớm những xu hướng mới của môi trường trên thế giới, nhất là các vấn đề về Net Zero, phát triển bền vững, các công cụ kinh tế môi trường. Chủ tịch Hội đồng cũng lưu ý yêu cầu mở rộng phạm vi, đối tượng và phương thức tiếp cận dữ liệu phục vụ môi trường, hướng tới cơ chế khai thác dữ liệu thường xuyên, liên tục, kết nối trực tiếp, thay vì chủ yếu tiếp cận theo từng cuộc kiểm toán.  Đề tài được Hội đồng nghiệm thu xếp loại Xuất sắc./.

Tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong thực hiện nhiệm vụ hằng ngày

Chiều 21/7, Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán (Trường) đã tổ chức Hội nghị tuyên truyền, phổ biến Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 (Luật số 110/2025/QH15 của Quốc hộ) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (Luật số 132/2025/QH15 của Quốc hội). Tham dự Hội nghị có Giám đốc Trường Đặng Thế Bình; các Phó Giám đốc: Hà Minh Tuấn, Nguyễn Huy Hoàng; cùng toàn thể viên chức, người lao động thuộc Trường. Giám đốc Trường Đặng Thế Bình chủ trì Hội nghị Phát biểu khai mạc Hội nghị, Ông Đặng Thế Bình, Giám đốc Trường nhấn mạnh, đối với Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán, việc quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật không chỉ là yêu cầu bắt buộc mà còn là trách nhiệm của mỗi đảng viên, viên chức và người lao động. “Mỗi cá nhân cần nhận thức đầy đủ rằng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và phòng, chống tham nhũng không chỉ là nhiệm vụ của người đứng đầu hay của một đơn vị chuyên trách mà phải trở thành ý thức tự giác trong thực hiện nhiệm vụ hằng ngày”. Tại Hội nghị, TS. Nguyễn Hữu Hiểu, Trưởng khoa Cơ sở đã phổ biến các quy định của Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025. Trong đó, làm rõ khái niệm tiết kiệm, chống lãng phí theo quy định hiện hành; các hành vi gây lãng phí; nguyên tắc tiết kiệm, chống lãng phí và trách nhiệm của công chức, viên chức và người lao động. Từ đó, xây dựng chương trình và lan toả văn hoá tiết kiệm, chống lãng phí gắn chặt với hoạt động của Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán. TS. Nguyễn Hữu Hiểu, Trưởng khoa Cơ sở phổ biến Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 Đối với Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng, Trưởng khoa Chuyên ngành Hoàng Thế Linh đã làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý và bối cảnh thực tiễn dấn đến việc ban hành Luật; các nội dung được sửa đổi, bổ sung trong Luật Tại Hội nghị, các đảng viên, viên chức, người lao động đã trao đổi, thảo luận về xây dựng chương trình, kế hoạch tiết kiệm, chống lãng phí, trong đó có việc lồng ghép vào nội quy, quy chế làm việc của Trường; tổ chức các hoạt động phong trào và lồng ghép nội dung giáo dục tiết kiệm, chống lãng phí trong hoạt động thường niên; trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu và từng cá nhân. Trưởng khoa Chuyên ngành Hoàng Thế Linh chia sẻ một số quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng Đánh giá cao các nội dung báo cáo viên đã truyền đạt, đặc biệt là những điểm mới của các Luật, phân tích, làm rõ nhiều vấn đề gắn với thực tiễn công tác quản lý nhà nước, quản lý tài chính công, tài sản công và công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Giám đốc Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán Đặng Thế Bình đề nghị, ngay sau Hội nghị, toàn thể viên chức, người lao động tiếp tục thực hiện tốt các quy định của pháp luật và tập trung vào một số nhiệm vụ trọng tâm: Thứ nhất, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong toàn Trường, bảo đảm mỗi viên chức, người lao động đều nắm được những quy định cơ bản, những yêu cầu cần thực hiện trong công việc hằng ngày. Thứ hai, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính; nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu và trách nhiệm của từng cá nhân trong quản lý, sử dụng nguồn kinh phí, tài sản, trang thiết bị được giao. Thứ ba, thực hiện công khai, minh bạch trong các hoạt động của Trường; chú trọng công tác kiểm tra, giám sát nội bộ nhằm phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật, góp phần xây dựng tập thể đoàn kết, trách nhiệm và liêm chính. Thứ tư, mỗi viên chức, người lao động cần phát huy tinh thần gương mẫu, tự giác thực hành tiết kiệm từ những việc nhỏ nhất; sử dụng hiệu quả điện, nước, văn phòng phẩm, thiết bị làm việc; bảo vệ tài sản chung; đồng thời tích cực tham gia xây dựng môi trường làm việc kỷ cương, lành mạnh, minh bạch. Giám đốc Đặng Thế Bình tin tưởng rằng, “với những kiến thức đã được tiếp thu, cùng tinh thần trách nhiệm và quyết tâm của toàn thể viên chức, người lao động thuộc Trường, các quy định của pháp luật sẽ được triển khai thực hiện nghiêm túc, thống nhất và hiệu quả, góp phần xây dựng Trường ngày càng phát triển, hoạt động chuyên nghiệp, minh bạch và đáp ứng yêu cầu đổi mới trong giai đoạn hiện nay.”

Nhận diện hành vi gây lãng phí liên quan đến đầu tư công thông qua kết quả kiểm toán các dự án đầu tư xây dựng cơ bản của Kiểm toán nhà nước

Thực hiện Quyết định số 1392/QĐ-KTNN ngày 28/8/2025 của Tổng Kiểm toán nhà nước về việc phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng của Kiểm toán nhà nước năm 2026; sáng 21/7, Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán phối hợp với Kiểm toán nhà nước chuyên ngành IV và Kiểm toán nhà nước chuyên ngành V đã tổ chức tọa đàm trao đổi kinh nghiệm với chủ đề “Nhận diện hành vi gây lãng phí liên quan đến đầu tư công thông qua kết quả kiểm toán các dự án đầu tư xây dựng cơ bản của Kiểm toán nhà nước”. Tọa đàm được tổ chức theo hình thức trực tiếp tại Hà Nội kết hợp kết nối trực tuyến tới các Kiểm toán nhà nước khu vực. Ông Ngô Minh Sơn, Phó Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước chuyên ngành V phát biểu khai mạc Tọa đàm Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng chiến lược, triển khai nhiều dự án trọng điểm quốc gia và thực hiện các mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, việc quản lý, sử dụng hiệu quả từng đồng vốn đầu tư công không chỉ là yêu cầu về kinh tế mà còn là trách nhiệm chính trị trước Đảng, Nhà nước và Nhân dân.  Phát biểu khai mạc tọa đàm, ông Ngô Minh Sơn, Phó Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước chuyên ngành V, cho biết qua thực tiễn kiểm toán trong những năm qua cho thấy, tình trạng lãng phí trong đầu tư công vẫn còn tiềm ẩn ở nhiều khâu, từ công tác chuẩn bị đầu tư, lập và phê duyệt dự án, bố trí nguồn vốn, giải phóng mặt bằng, lựa chọn nhà thầu, tổ chức thi công, nghiệm thu, thanh toán đến quản lý, vận hành và khai thác công trình. Những hạn chế, bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả đầu tư, kéo dài thời gian thực hiện dự án, phát sinh chi phí mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng nguồn lực công và niềm tin của Nhân dân đối với các chính sách phát triển của Nhà nước.  Trong bối cảnh đó, việc nhận diện đầy đủ, chính xác các hành vi, biểu hiện và nguyên nhân dẫn đến lãng phí thông qua kết quả kiểm toán có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là cơ sở để nâng cao chất lượng, hiệu lực và hiệu quả hoạt động kiểm toán mà còn góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong quản lý đầu tư công, qua đó thực hiện tốt chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Ông Vũ Duy Bắc, Phó Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước chuyên ngành IV chủ trì thảo luận tại Hội trường Chia sẻ về nhận diện hành vi lãng phí thông qua kết quả kiểm toán các dự án đầu tư công lĩnh vực đường bộ cao tốc, đại diện Kiểm toán nhà nước chuyên ngành IV cho biết, các sai sót dẫn đến lãng phí được nhận diện cụ thể trong từng giai đoạn khác nhau của quá trình thực hiện dự án đầu tư như: công tác lập, thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư dự án; lập, thẩm định, phê duyệt dự án; công tác khảo sát, lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán; lựa chọn nhà thầu, thương thảo, ký kết và thực hiện hợp đồng; nghiệm thu, thanh toán; công tác quản lý chất lượng công trình; quản lý tiến độ thực hiện dự án (cả tiến độ các gói thầu; tiến độ giải phóng mặt bằng); công tác quản lý, sử dụng nguồn vốn, chấp hành chế độ tài chính, kế toán (lập, phân bổ kế hoạch vốn; quản lý, sử dụng vốn; thanh toán, quyết toán, ...); công tác giải phóng mặt bằng; công tác nghiệm thu, bàn giao, đưa công trình vào khai thác, sử dụng; Trong thực hiện chính sách đặc thù và các nội dung khác có liên quan đến dự án. Đi sâu vào vấn đề kiểm toán công tác khảo sát, thiết kế, lập dự toán, Kiểm toán nhà nước chuyên ngành V chia sẻ về những sai sót chưa phù hợp quy hoạch, quy chuẩn, tiêu chuẩn, đơn giá, định mức của nhà nước dẫn đến thiết kế công trình chưa tối ưu, tăng tổng mức đầu tư. Chi phí cho các công tác khảo sát, thiết kế và lập dự toán với các dự án đầu tư công thường chiếm tỷ trọng chi phí không lớn trong tổng mức đầu tư. Tuy nhiên, việc thực hiện công tác khảo sát, thiết kế, lập dự toán của các đơn vị tư vấn có thể chưa phù hợp quy hoạch, quy chuẩn, tiêu chuẩn, đơn giá, định mức của Nhà nước. Quá trình thẩm tra, thẩm định chưa kịp thời phát hiện những vấn đề chưa phù hợp nói trên có thể dẫn đến công trình không được tối ưu về công năng sử dụng, công nghệ, yêu cầu kỹ thuật, thiết kế làm tăng chi phí thực tế của toàn bộ dự án hoặc sử dụng không hiệu quả, không hết công suất thiết kế, gây lãng phí nguồn lực đầu tư công. Thông qua kiểm toán công tác khảo sát, thiết kế, lập dự toán có thể xác định được sự phù hợp quy hoạch, quy chuẩn, tiêu chuẩn, đơn giá, định mức của Nhà nước để phần nào đánh giá sự tối ưu khi thiết kế công trình cũng như sự phù hợp của tổng mức đầu tư. Các đại biểu tham dự Tọa đàm Đối với hành vi lãng phí do chậm tiến độ dự án dẫn đến thời gian thi công kéo dài, phải điều chỉnh tăng tổng mức đầu tư, chậm đưa công trình vào khai thác, sử dụng, Kiểm toán nhà nước khu vực VI cho biết, nhiều dự án chậm tiến độ, kéo dài thời gian thi công, phải điều chỉnh quy mô, điều chỉnh thời gian thực hiện, tăng tổng mức đầu tư, phát sinh chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn, chi phí bù trượt giá vật liệu, nhân công và nhiều chi phí khác. Không ít công trình hoàn thành nhưng chậm được nghiệm thu, chậm quyết toán, chậm đưa vào khai thác, sử dụng hoặc đưa vào sử dụng nhưng chưa phát huy đầy đủ hiệu quả đầu tư. Tình trạng trên không chỉ làm giảm hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công mà còn có thể tạo ra lãng phí nguồn lực nhà nước, lãng phí đất đai, lãng phí cơ hội phát triển, làm tăng gánh nặng ngân sách và ảnh hưởng đến niềm tin của người dân, doanh nghiệp đối với hiệu quả quản lý, điều hành của cơ quan nhà nước. Vì vậy, việc nhận diện đúng, đầy đủ và kịp thời các hành vi, dấu hiệu gây lãng phí từ thực trạng chậm tiến độ dự án là yêu cầu cần thiết trong hoạt động kiểm toán. Qua thực tiễn kiểm toán các dự án đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn, Kiểm toán nhà nước khu vực VI nhận thấy nguyên nhân chủ yếu của tình trạng chậm tiến độ thường tập trung ở các khâu: chuẩn bị đầu tư chưa kỹ; khảo sát, thiết kế, dự toán chưa sát thực tế; giải phóng mặt bằng kéo dài; bố trí vốn chưa đáp ứng tiến độ; năng lực quản lý dự án, năng lực nhà thầu còn hạn chế; điều hành dự án thiếu quyết liệt; công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm chưa nghiêm. Để nhận diện đúng dấu hiệu lãng phí, kiểm toán cần đánh giá dự án theo chuỗi logic đầu vào - quá trình thực hiện - đầu ra - kết quả - tác động. Không nên chỉ xem xét riêng việc tăng tổng mức đầu tư hoặc chậm tiến độ ở thời điểm kiểm toán, mà cần phân tích nguyên nhân gốc rễ, trách nhiệm của từng chủ thể và ảnh hưởng của việc chậm tiến độ đến ngân sách, đến hiệu quả sử dụng vốn và đến mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Trong khi đó, thông qua hoạt động kiểm toán, Kiểm toán nhà nước khu vực XII nhận thấy, hành vi gây lãng phí ở giai đoạn quyết định đầu tư tập trung vào 02 nhóm hành vi điển hình: phê duyệt dự án chưa xác định rõ nhu cầu sử dụng và quyết định địa điểm đầu tư chưa phù hợp. Theo đó, phê duyệt dự án chưa xác định rõ nhu cầu sử dụng xuất phát từ việc khảo sát một cánh hình thức, tư duy nhiệm kỳ, hoặc áp đặt chủ quan dẫn đến quy mô công trình vượt quá xa nhu cầu thực tế, hoặc công trình xây xong không thể đưa vào khai thác. Lãng phí khi quyết định địa điểm đầu tư chưa phù hợp biểu hiện qua việc phê duyệt dự án không tuân thủ quy hoạch chung, chọn địa điểm bất lợi dẫn đến vướng mắc, khó khăn về pháp lý trong quá trình đầu tư dự án. Bên cạnh đó, Kiểm toán nhà nước khu vực XII cũng cho biết thêm hiện tượng lãng phí cũng xảy ra đối với các dự án đầu tư ngoài ngân sách. Đây là việc lãng phí rất lớn nguồn lực xã hội và nguồn lực đất đai của nhà nước mà nguyên nhân do địa phương xác định mục tiêu đầu tư chưa chuẩn xác (việc xác định mục tiêu dự án chưa thật sự phù hợp với mức độ đáp ứng của hạ tầng giao thông, hạ tầng kỹ thuật cũng như lực lượng lao động địa phương dẫn đến), chưa có cơ chế chính sách để phát triển đồng bộ các hạ tầng và các yếu tố liên quan khác để các dự án do các doanh nghiệp đầu tư phát huy hiệu quả, góp phần đóng góp nguồn thu cho địa phương. Đại biểu tham luận tại Hội trường Trong lĩnh vực giáo dục đại học, đại diện Kiểm toán nhà nước chuyên ngành III cho biết, đối với lĩnh vực giáo dục, các dự án đầu tư công chủ yếu bao gồm xây dựng trường học, trụ sở làm việc, đầu tư phòng thí nghiệm, máy móc, trang thiết bị chuyên ngành và các công trình phục vụ đào tạo, nghiên cứu. Một số hành vi gây lãng phí trong đầu tư công lĩnh vực giáo dục đại học được Kiểm toán nhà nước chuyên ngành III nhận diện như: lãng phí do công tác quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch; lãng phí do quy hoạch và đầu tư thiếu đồng bộ; lãng phí do bố trí vốn, giải ngân và thực hiện dự án chậm; lãng phí trong lập dự án, thiết kế và dự toán; Lãng phí do kéo dài thời gian thi công và đưa công trình vào sử dụng; Lãng phí trong khai thác, sử dụng tài sản sau đầu tư. Một số cơ sở đào tạo có quy mô tuyển sinh thực tế thấp hơn nhiều so với dự báo khi lập dự án, dẫn đến số lượng phòng học, phòng chức năng và phòng thí nghiệm được khai thác dưới công suất thiết kế. Nhiều máy móc, thiết bị phục vụ giảng dạy, nghiên cứu có tần suất sử dụng thấp, thậm chí không được đưa vào sử dụng. Một số dự án chưa tính toán đầy đủ nhu cầu kinh phí cho giai đoạn vận hành, bảo trì, bảo dưỡng và mua sắm vật tư, hóa chất phục vụ hoạt động chuyên môn. Do thiếu kinh phí vận hành, một số phòng thí nghiệm hoạt động không hiệu quả hoặc phải tạm dừng, làm giảm đáng kể hiệu quả đầu tư. Bên cạnh đó, một số máy móc, thiết bị được đầu tư đã lạc hậu hoặc ngừng sản xuất, không còn linh kiện thay thế, không tương thích với công nghệ mới nên không thể sửa chữa, nâng cấp hoặc tiếp tục khai thác. Điều này không chỉ làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản công mà còn làm phát sinh nhu cầu đầu tư thay thế trước thời hạn. Cũng tại tọa đàm, các đại biểu đã tập trung phân tích, nhận diện nhiều nguy cơ lãng phí vốn đầu tư công, những yếu tố ảnh hưởng đến tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả của các dự án đầu tư công, từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư đến giai đoạn nghiệm thu, vận hành, khai thác công trình cũng như đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực để nhân diện hành vi gây lãng phí trong kiểm toán dự án đầu tư công.

Khai giảng các lớp bồi dưỡng kiến thức cho Kiểm toán viên nhà nước

Thực hiện Kế hoạch đào tạo bồi dưỡng năm 2027, Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán đã khai giảng các lớp bồi dưỡng kiến thức cho công chức, Kiểm toán viên đến từ các đơn vị trong toàn ngành. TS Vũ Thanh Hải, Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước chuyên ngành IV giảng dạy chuyên đề đầu tiên của Lớp Bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo quản lý cấp tổ trưởng tổ kiểm toán Theo đó, Lớp bồi dưỡng kỹ năng kiểm toán ngân sách nhà nước cấp độ 1 cho gần 40 học viên là các chuyên viên, kiểm toán viên đến từ các đơn vị trực thuộc Kiểm toán nhà nước. Chương trình bồi dưỡng kỹ năng kiểm toán ngân sách nhà nước thuộc Hệ thống Chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiểm toán viên của KTNN nhằm trang bị cho người học kiến thức và kỹ năng kiểm toán trong lĩnh vực ngân sách nhà nước. Chương trình đào tạo được chia thành 3 cấp độ (Cấp độ 1, Cấp độ 2 và Cấp độ 3), với 12 chuyên đề. Cấu thành trong mỗi cấp độ là các chuyên đề liên kết chặt chẽ với nhau về nội dung và mức độ yêu cầu đối với người học. Tổng thời lượng đào tạo là 120 tiết. Đối với Chương trình đào tạo Cấp độ 1, đối tượng học là công chức được phân công kiểm toán trong lĩnh vực ngân sách nhà nước có từ 1-3 năm kinh nghiệm và các đối tượng khác cần bồi dưỡng kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ kiểm toán lĩnh vực ngân sách nhà nước cấp độ cơ bản. Chương trình gồm 4 chuyên đề, thời lượng đào tạo là 40 tiết, với các nội dung trọng tâm: Kiến thức tổng quan về quy trình lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước; kế toán và quyết toán tình hình sử dụng kinh phí tại các đơn vị sử dụng ngân sách; kỹ năng kiểm toán tại các đơn vị dự toán ngân sách và kỹ năng kiểm toán tại các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước. ThS Huỳnh Hữu Thọ, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế chia sẻ kinh nghiệm kiểm toán ngân sách nhà nước Lớp bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo quản lý cấp tổ trưởng tổ kiểm toán hướng tới người học là các Kiểm toán viên nhà nước đáp ứng tiêu chuẩn Tổ trưởng tổ kiểm toán theo quy định của Luật Kiểm toán nhà nước và các đối tượng khác cần bồi dưỡng, bổ trợ kỹ năng lãnh đạo, quản lý trong lĩnh vực kiểm toán theo quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước. Khóa học nhằm trang bị cho người học một số kỹ năng lãnh đạo, quản lý như: kỹ năng tổ chức công việc, kỹ năng hướng dẫn, chỉ đạo nghề nghiệp cho Kiểm toán viên nhà nước; kỹ năng định hướng và kiểm soát sự tuân thủ đạo đức nghề nghiệp của Kiểm toán viên nhà nước; kỹ năng kiểm soát và đánh giá hiệu quả công việc; kinh nghiệm vận dụng kỹ năng mềm khi thực hiện nhiệm vụ. Khóa học bao gồm 28 tiết với 2 chuyên đề học tập: Một số kỹ năng lãnh đạo, quản lý của Tổ trưởng tổ kiểm toán và Vận dụng các kỹ năng mềm của Tổ trưởng tổ kiểm toán.

Kiểm toán nhà nước ký Quy chế phối hợp với Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị và thành phố Huế

Sáng 05/7, tại Quảng Trị, Kiểm toán nhà nước phối hợp với Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị long trọng tổ chức Hội nghị sơ kết, ký Quy chế phối hợp công tác giữa Kiểm toán nhà nước với Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy, Thường trực Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các tỉnh: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị và Thành phố Huế; trao kỷ niệm chương vì sự nghiệp Kiểm toán nhà nước. Tổng Kiểm toán nhà nước Nguyễn Hữu Nghĩa phát biểu tại Hội nghị Tham dự Hội nghị có các đồng chí: Nguyễn Khắc Thận - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Nghệ An; Nguyễn Duy Lâm - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Tĩnh; Nguyễn Khắc Toàn - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Huế; Lê Hồng Vinh - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị. Về phía Tổng Kiểm toán nhà nước, tham dự Hội nghị có: Đồng chí Nguyễn Hữu Nghĩa - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Bí thư Đảng ủy, Tổng Kiểm toán nhà nước; các đồng chí Phó Tổng Kiểm toán nhà nước; Lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Kiểm toán nhà nước. Tham dự Hội nghị còn có các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy, Thường trực HĐND, UBND, đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh: Quảng Trị, Hà Tĩnh, Nghệ An và Thành phố Huế; đại diện Lãnh đạo sở, ban, ngành các địa phương. Phát biểu chào mừng Hội nghị, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị Lê Hồng Vinh đánh giá cao việc triển khai thực hiện Quy chế phối hợp công tác giữa Kiểm toán nhà nước và tỉnh Quảng Trị. Theo ông Lê Hồng Vinh, qua hơn 3 năm triển khai thực hiện, Quy chế đã phát huy hiệu quả thiết thực, tạo cơ chế phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa Kiểm toán nhà nước với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của mỗi bên. Những kết quả đạt được trong thời gian qua là nền tảng quan trọng để tỉnh Quảng Trị tiếp tục triển khai hiệu quả Quy chế phối hợp trong giai đoạn mới. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị Lê Hồng Vinh phát biểu chào mừng Hội nghị “Trong bối cảnh tỉnh được hình thành sau sắp xếp đơn vị hành chính, phạm vi quản lý rộng hơn và yêu cầu phát triển ngày càng cao, sự phối hợp chặt chẽ với Kiểm toán nhà nước sẽ góp phần tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách, đầu tư công và tài sản công, đồng thời hỗ trợ tỉnh hoàn thiện công tác quản lý, điều hành, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới" - ông Lê Hồng Vinh khẳng định. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị bày tỏ tin tưởng, với việc ký kết Quy chế phối hợp hôm nay, mối quan hệ giữa Kiểm toán nhà nước và các địa phương sẽ ngày càng gắn bó, thực chất và hiệu quả hơn, góp phần xây dựng nền tài chính công công khai, minh bạch, sử dụng hiệu quả các nguồn lực phục vụ phát triển nhanh và bền vững. Công tác phối hợp được triển khai toàn diện, đạt nhiều kết quả thiết thực Báo cáo sơ kết trình bày tại Hội nghị cho thấy, thực hiện Quy chế phối hợp công tác, thời gian qua, mối quan hệ phối hợp giữa Kiểm toán nhà nước với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các tỉnh: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị và Thành phố Huế đã đạt nhiều kết quả thiết thực trên các mặt công tác, góp phần thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan. Các nội dung phối hợp đã được triển khai toàn diện, từ xây dựng kế hoạch kiểm toán, tổ chức thực hiện kiểm toán đến theo dõi việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán, phục vụ hiệu quả công tác quản lý tài chính - ngân sách của địa phương. Một trong những kết quả nổi bật là công tác phối hợp xây dựng kế hoạch kiểm toán hằng năm. Theo đó, Thường trực Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các địa phương luôn quan tâm phối hợp và chỉ đạo các cơ quan liên quan cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ công tác khảo sát, lập kế hoạch kiểm toán; phối hợp với Kiểm toán nhà nước tổ chức trao đổi, thống nhất đầu mối kiểm toán ngay từ đầu năm. Qua đó, góp phần hạn chế sự trùng lặp, chồng chéo giữa hoạt động kiểm toán với thanh tra, kiểm tra, giám sát của địa phương. Các đại biểu tham dự Hội nghị Trong quá trình kiểm toán, các địa phương luôn phối hợp kịp thời và tạo điều kiện thuận lợi để các đoàn kiểm toán của Kiểm toán nhà nước thực hiện nhiệm vụ. Lãnh đạo các địa phương thường xuyên quan tâm, chỉ đạo các sở, ngành, đơn vị phối hợp với các đoàn kiểm toán; kịp thời cung cấp hồ sơ, tài liệu, thực hiện đầy đủ trách nhiệm giải trình, đảm bảo hoạt động kiểm toán được thực hiện theo đúng kế hoạch. Việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực. Các tỉnh, thành phố đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị nghiêm túc thực hiện các kết luận, kiến nghị kiểm toán, đồng thời phối hợp với Kiểm toán nhà nước tháo gỡ các khó khăn trong quá trình triển khai. Giai đoạn 2021-2025, tỷ lệ thực hiện kiến nghị kiểm toán của 4 địa phương đạt bình quân 89%; trong đó, Hà Tĩnh và Quảng Trị cùng đạt 93%, Thành phố Huế đạt 87% và Nghệ An đạt 83%. Báo cáo cũng cho thấy, kết quả kiểm toán ngày càng được khai thác hiệu quả phục vụ hoạt động của Hội đồng nhân dân các địa phương. Hội đồng nhân dân các địa phương tổ chức công khai kết quả kiểm toán, các kết luận, kiến nghị của Kiểm toán nhà nước tới đại biểu Hội đồng nhân dân. Qua đó, nâng cao hiệu quả trong hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân về lĩnh vực tài chính, ngân sách; công tác chỉ đạo, điều hành ngân sách của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố; khắc phục bất cập, hạn chế trong quản lý, điều hành ngân sách trên địa bàn. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố cũng đã phản ánh kịp thời với Lãnh đạo Kiểm toán nhà nước và Kiểm toán nhà nước khu vực II các thông tin về hoạt động của đoàn kiểm toán, nhằm khắc phục kịp thời những hạn chế, thiếu sót, góp phần nâng cao chất lượng kiểm toán. Thông qua hoạt động kiểm toán, Kiểm toán nhà nước đã đánh giá toàn diện việc lập, phân bổ dự toán và điều hành ngân sách; phát hiện những bất cập trong cơ chế quản lý, đồng thời kiến nghị nhiều giải pháp hoàn thiện chính sách phù hợp với quy định của pháp luật và điều kiện thực tiễn của từng địa phương. Những ý kiến đánh giá, kết luận và kiến nghị của Kiểm toán nhà nước góp phần chấn chỉnh và nâng cao hiệu quả công tác quản lý, điều hành ngân sách của địa phương, là cơ sở quan trọng để Hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố xem xét trong quá trình thẩm tra, quyết định dự toán, phân bổ dự toán, quyết toán năm sau. Bên cạnh đó, Kiểm toán nhà nước và các địa phương còn duy trì phối hợp trong công tác tuyên truyền pháp luật, bồi dưỡng kiến thức về tài chính, ngân sách cho đại biểu Hội đồng nhân dân; phối hợp xây dựng, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến lĩnh vực kiểm toán và quản lý ngân sách… Đáng chú ý, mặc dù chưa có Quy chế phối hợp riêng với Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy, song trên thực tế, hai bên đã duy trì sự phối hợp hiệu quả thông qua việc trao đổi thông tin, cung cấp kết quả kiểm toán và phối hợp chỉ đạo thực hiện các kết luận, kiến nghị kiểm toán. Đổi mới công tác phối hợp theo hướng chủ động, thường xuyên, thực chất hơn Tại Hội nghị, các đại biểu thống nhất đánh giá các kết quả đạt được, những hạn chế bất cập trong thực hiện Quy chế phối hợp; đồng thời đề xuất nhiều giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Kiểm toán nhà nước với các địa phương, đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh Phan Thiên Định phát biểu tại Hội nghị Đồng chí Phan Thiên Định - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh - nêu rõ, thực tiễn gần 3 năm thực hiện Quy chế phối hợp cho thấy hiệu quả rõ nét. Mối quan hệ phối hợp giữa Kiểm toán nhà nước với Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ngày càng chặt chẽ, thực chất hơn. Qua các cuộc kiểm toán, nhiều bất cập trong công tác quản lý tài chính, ngân sách, đầu tư công được kịp thời chấn chỉnh; nhiều quy trình quản lý được rà soát, hoàn thiện; nhiều kiến nghị kiểm toán trở thành cơ sở quan trọng giúp địa phương nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và chất lượng điều hành. “Chúng tôi xác định hoạt động kiểm toán không chỉ nhằm phát hiện, xử lý tồn tại mà còn là cơ hội để địa phương tự soi, tự sửa, nâng cao chất lượng quản lý và phòng ngừa sai phạm từ sớm” -  Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhấn mạnh; đồng thời khẳng định, việc ký kết Quy chế phối hợp hôm nay không chỉ là sự tiếp nối của Quy chế đã triển khai trong thời gian qua mà còn thể hiện quyết tâm của các bên trong việc xây dựng cơ chế phối hợp ngày càng hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Đồng quan điểm, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Huế Hà Văn Tuấn đánh giá, mối quan hệ công tác giữa Kiểm toán nhà nước khu vực II với Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Thành phố Huế và các cơ quan, đơn vị địa phương ngày càng chặt chẽ, thực chất. Kết quả kiểm toán đã kiến nghị về tài chính và hoàn thiện cơ chế, chính sách, cung cấp thêm cơ sở quan trọng cho công tác lãnh đạo, giám sát, điều hành; góp phần tăng cường kỷ luật, kỷ cương, tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý, sử dụng ngân sách, tài chính công, tài sản công và đầu tư công của Thành phố. Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Huế Hà Văn Tuấn phát biểu tại Hội nghị Theo Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Huế, việc ban hành quy chế mới với sự tham gia của Ban Thường vụ Thành ủy là cần thiết, đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất, gắn kết chặt chẽ giữa kiểm toán, giám sát, quản lý, điều hành và theo dõi việc thực hiện các kết luận, kiến nghị của kiểm toán. Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An Võ Trọng Hải cho biết, những năm qua, kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An có những bước chuyển biến tích cực, quy mô nền kinh tế ngày càng được mở rộng. Kết quả đó có sự đồng hành, hỗ trợ tích cực của các cơ quan trung ương, trong đó có Kiểm toán nhà nước. Thông qua hoạt động kiểm toán, Kiểm toán nhà nước đã chỉ ra những bất cập, hạn chế, đồng thời có những kiến nghị giúp tỉnh hoàn thiện cơ chế, chính sách, nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn lực nhà nước. Tỉnh Nghệ An xác định việc thực hiện đầy đủ, kịp thời các kết luận, kiến nghị kiểm toán vừa là trách nhiệm theo quy định, vừa là giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, hoàn thiện cơ chế quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An Võ Trọng Hải phát biểu tại Hội nghị Đại diện lãnh đạo các địa phương cũng nhấn mạnh, đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều yêu cầu và kỳ vọng mới trong quản trị quốc gia, quản lý tài chính công và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển. Cùng với đó là việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp; yêu cầu hoàn thiện thể chế phát triển, yêu cầu về kỷ luật tài chính, kiểm soát quyền lực, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình ngày càng được đặt ra cao hơn. Trong bối cảnh đó, vai trò của Kiểm toán nhà nước ngày càng quan trọng, không chỉ thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát theo quy định của pháp luật mà còn giúp các địa phương nhận diện những hạn chế, rủi ro trong quản lý, từ đó chủ động hoàn thiện cơ chế, nâng cao chất lượng quản trị và sử dụng hiệu quả các nguồn lực công. Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với công tác phối hợp giữa Kiểm toán nhà nước với địa phương trong thời gian tới sẽ cao hơn, đòi hỏi phải đổi mới theo hướng chủ động hơn, thường xuyên hơn và thực chất hơn. Đại diện lãnh đạo các địa phương khẳng định sẽ tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành thực hiện nghiêm túc Quy chế phối hợp lần này; đồng thời mong muốn tiếp tục nhận được sự quan tâm, đồng hành của Kiểm toán nhà nước trong việc chia sẻ kinh nghiệm, định hướng giải pháp về quản lý tài chính công, chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, góp phần hỗ trợ các địa phương thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Mở rộng cơ chế phối hợp, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý tài chính, tài sản công Tại Hội nghị, Tổng Kiểm toán nhà nước Nguyễn Hữu Nghĩa nhấn mạnh, thực tiễn triển khai Quy chế phối hợp giữa Kiểm toán nhà nước với 4 địa phương cho thấy, đây là chủ trương hết sức đúng đắn, thiết thực và hiệu quả. Công tác phối hợp đã góp phần giúp Kiểm toán nhà nước và các địa phương hoàn thành tốt nhiệm vụ, nâng cao chất lượng kiểm toán, hiệu lực, hiệu quả quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công và tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình trong quản lý, điều hành ngân sách địa phương. Đồng thời, kết quả kiểm toán cũng góp phần nâng cao hiệu quả giám sát của HĐND và trách nhiệm của các cơ quan quản lý trong quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công tại địa phương. Đại diện lãnh đạo Kiểm toán nhà nước ký Quy chế phối hợp công tác giữa Kiểm toán nhà nước với Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy, Thường trực Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các tỉnh: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị và Thành phố Huế Theo Tổng Kiểm toán nhà nước, trong bối cảnh cả nước đang quyết liệt triển khai thực hiện các mục tiêu phát triển nhanh và bền vững theo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, phấn đấu duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hai con số liên tục trong những năm tới, yêu cầu đặt ra đối với công tác quản lý tài chính công, tài sản công của địa phương ngày càng cao, đảm bảo vừa phải huy động, vừa phải quản lý và sử dụng hiệu quả, đúng pháp luật các nguồn lực công để phục vụ, đáp ứng các mục tiêu phát triển quốc gia cũng như địa phương. Mặt khác, mô hình chính quyền địa phương hai cấp mới đi vào hoạt động hơn 1 năm cần tiếp tục hoàn thiện; năng lực thực thi chính sách pháp luật, quản lý sử dụng vốn, tài sản công, ngân sách nhà nước ở cấp chính quyền cơ sở vẫn còn mặt hạn chế. Trước tình hình đó, đồng tình với đánh giá, đề xuất của đại diện các địa phương, Tổng Kiểm toán nhà nước khẳng định cần có sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả hơn nữa giữa Kiểm toán nhà nước với các địa phương trong việc nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng tài chính, tài sản công, tháo gỡ các điểm nghẽn, nút thắt về cơ chế chính sách, kịp thời phát hiện và xử lý nguy cơ thất thoát, lãng phí, tiêu cực và những hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý, sử dụng tài sản, tài chính công và ngân sách nhà nước. Đặc biệt, Tổng Kiểm toán nhà nước cho biết, khắc phục những bất cập, hạn chế trong công tác phối hợp thời gian qua, Quy chế phối hợp công tác lần này giữa Kiểm toán nhà nước với 4 địa phương đã có nhiều điểm mới. Tổng Kiểm toán nhà nước Nguyễn Hữu Nghĩa, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Hà Thị Mỹ Dung trao tặng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp Kiểm toán nhà nước cho lãnh đạo các tỉnh, thành phố và lãnh đạo  sở, ngành các địa phương Theo đó, phạm vi nội dung phối hợp giữa Kiểm toán nhà nước và các địa phương đã được mở rộng lên 10 nội dung. Đặc biệt, Quy chế phối hợp lần này có sự tham gia của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy các địa phương, nhằm đảm bảo sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị các địa phương, cùng với Kiểm toán nhà nước quyết tâm quản lý và sử dụng hiệu quả tài chính, tài sản công, ngân sách nhà nước, xây dựng một nền quản trị địa phương vững mạnh và hiệu lực, hiệu quả. Đồng thời, Quy chế cũng xác định rõ ràng hơn trách nhiệm của bốn bên: Kiểm toán nhà nước, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố. Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Doãn Anh Thơ trao tặng biểu trưng Nhà tình nghĩa cho đại diện lãnh đạo các tỉnh, thành phố: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Thành phố Huế Việc ký kết Quy chế phối hợp với sự tham gia của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện sự quyết tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương trong việc tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý sử dụng một cách có hiệu quả tài chính, tài sản công, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương - Tổng Kiểm toán nhà nước Nguyễn Hữu Nghĩa nhấn mạnh. Tổng Kiểm toán nhà nước cũng khẳng định, Kiểm toán nhà nước cam kết luôn hỗ trợ, đồng hành và tạo điều kiện thuận lợi cùng với các tỉnh, thành phố, vì sự phát triển thịnh vượng của các địa phương. Tôi tin tưởng rằng với sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, sự nỗ lực của Kiểm toán nhà nước, Quy chế phối hợp mới sẽ được triển khai một cách thực chất, hiệu quả, đáp ứng được các mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới của các địa phương cũng như của đất nước. Nhân dịp này, Lãnh đạo Kiểm toán nhà nước đã trao Kỷ niệm chương vì sự nghiệp Kiểm toán nhà nước tặng 20 đồng chí là lãnh đạo tỉnh, thành phố và lãnh đạo các sở, ngành của 4 địa phương đã có nhiều công lao đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và phát triển Kiểm toán nhà nước trong thời gian qua. Đồng thời, Kiểm toán nhà nước đã trao biểu trưng Nhà tình nghĩa cho 40 gia đình có công với cách mạng và gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại các tỉnh: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị và thành phố Huế. (Theo Cổng Thông tin điện tử Kiểm toán nhà nước)

Nhận diện hành vi gây lãng phí liên quan đến đầu tư công thông qua kết quả kiểm toán các dự án đầu tư xây dựng cơ bản của Kiểm toán nhà nước

Thực hiện Quyết định số 1392/QĐ-KTNN ngày 28/8/2025 của Tổng Kiểm toán nhà nước về việc phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng của Kiểm toán nhà nước năm 2026; sáng 21/7, Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán phối hợp với Kiểm toán nhà nước chuyên ngành IV và Kiểm toán nhà nước chuyên ngành V đã tổ chức tọa đàm trao đổi kinh nghiệm với chủ đề “Nhận diện hành vi gây lãng phí liên quan đến đầu tư công thông qua kết quả kiểm toán các dự án đầu tư xây dựng cơ bản của Kiểm toán nhà nước”. Tọa đàm được tổ chức theo hình thức trực tiếp tại Hà Nội kết hợp kết nối trực tuyến tới các Kiểm toán nhà nước khu vực. Ông Ngô Minh Sơn, Phó Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước chuyên ngành V phát biểu khai mạc Tọa đàm Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng chiến lược, triển khai nhiều dự án trọng điểm quốc gia và thực hiện các mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, việc quản lý, sử dụng hiệu quả từng đồng vốn đầu tư công không chỉ là yêu cầu về kinh tế mà còn là trách nhiệm chính trị trước Đảng, Nhà nước và Nhân dân.  Phát biểu khai mạc tọa đàm, ông Ngô Minh Sơn, Phó Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước chuyên ngành V, cho biết qua thực tiễn kiểm toán trong những năm qua cho thấy, tình trạng lãng phí trong đầu tư công vẫn còn tiềm ẩn ở nhiều khâu, từ công tác chuẩn bị đầu tư, lập và phê duyệt dự án, bố trí nguồn vốn, giải phóng mặt bằng, lựa chọn nhà thầu, tổ chức thi công, nghiệm thu, thanh toán đến quản lý, vận hành và khai thác công trình. Những hạn chế, bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả đầu tư, kéo dài thời gian thực hiện dự án, phát sinh chi phí mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng nguồn lực công và niềm tin của Nhân dân đối với các chính sách phát triển của Nhà nước.  Trong bối cảnh đó, việc nhận diện đầy đủ, chính xác các hành vi, biểu hiện và nguyên nhân dẫn đến lãng phí thông qua kết quả kiểm toán có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là cơ sở để nâng cao chất lượng, hiệu lực và hiệu quả hoạt động kiểm toán mà còn góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong quản lý đầu tư công, qua đó thực hiện tốt chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Ông Vũ Duy Bắc, Phó Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước chuyên ngành IV chủ trì thảo luận tại Hội trường Chia sẻ về nhận diện hành vi lãng phí thông qua kết quả kiểm toán các dự án đầu tư công lĩnh vực đường bộ cao tốc, đại diện Kiểm toán nhà nước chuyên ngành IV cho biết, các sai sót dẫn đến lãng phí được nhận diện cụ thể trong từng giai đoạn khác nhau của quá trình thực hiện dự án đầu tư như: công tác lập, thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư dự án; lập, thẩm định, phê duyệt dự án; công tác khảo sát, lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán; lựa chọn nhà thầu, thương thảo, ký kết và thực hiện hợp đồng; nghiệm thu, thanh toán; công tác quản lý chất lượng công trình; quản lý tiến độ thực hiện dự án (cả tiến độ các gói thầu; tiến độ giải phóng mặt bằng); công tác quản lý, sử dụng nguồn vốn, chấp hành chế độ tài chính, kế toán (lập, phân bổ kế hoạch vốn; quản lý, sử dụng vốn; thanh toán, quyết toán, ...); công tác giải phóng mặt bằng; công tác nghiệm thu, bàn giao, đưa công trình vào khai thác, sử dụng; Trong thực hiện chính sách đặc thù và các nội dung khác có liên quan đến dự án. Đi sâu vào vấn đề kiểm toán công tác khảo sát, thiết kế, lập dự toán, Kiểm toán nhà nước chuyên ngành V chia sẻ về những sai sót chưa phù hợp quy hoạch, quy chuẩn, tiêu chuẩn, đơn giá, định mức của nhà nước dẫn đến thiết kế công trình chưa tối ưu, tăng tổng mức đầu tư. Chi phí cho các công tác khảo sát, thiết kế và lập dự toán với các dự án đầu tư công thường chiếm tỷ trọng chi phí không lớn trong tổng mức đầu tư. Tuy nhiên, việc thực hiện công tác khảo sát, thiết kế, lập dự toán của các đơn vị tư vấn có thể chưa phù hợp quy hoạch, quy chuẩn, tiêu chuẩn, đơn giá, định mức của Nhà nước. Quá trình thẩm tra, thẩm định chưa kịp thời phát hiện những vấn đề chưa phù hợp nói trên có thể dẫn đến công trình không được tối ưu về công năng sử dụng, công nghệ, yêu cầu kỹ thuật, thiết kế làm tăng chi phí thực tế của toàn bộ dự án hoặc sử dụng không hiệu quả, không hết công suất thiết kế, gây lãng phí nguồn lực đầu tư công. Thông qua kiểm toán công tác khảo sát, thiết kế, lập dự toán có thể xác định được sự phù hợp quy hoạch, quy chuẩn, tiêu chuẩn, đơn giá, định mức của Nhà nước để phần nào đánh giá sự tối ưu khi thiết kế công trình cũng như sự phù hợp của tổng mức đầu tư. Các đại biểu tham dự Tọa đàm Đối với hành vi lãng phí do chậm tiến độ dự án dẫn đến thời gian thi công kéo dài, phải điều chỉnh tăng tổng mức đầu tư, chậm đưa công trình vào khai thác, sử dụng, Kiểm toán nhà nước khu vực VI cho biết, nhiều dự án chậm tiến độ, kéo dài thời gian thi công, phải điều chỉnh quy mô, điều chỉnh thời gian thực hiện, tăng tổng mức đầu tư, phát sinh chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn, chi phí bù trượt giá vật liệu, nhân công và nhiều chi phí khác. Không ít công trình hoàn thành nhưng chậm được nghiệm thu, chậm quyết toán, chậm đưa vào khai thác, sử dụng hoặc đưa vào sử dụng nhưng chưa phát huy đầy đủ hiệu quả đầu tư. Tình trạng trên không chỉ làm giảm hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công mà còn có thể tạo ra lãng phí nguồn lực nhà nước, lãng phí đất đai, lãng phí cơ hội phát triển, làm tăng gánh nặng ngân sách và ảnh hưởng đến niềm tin của người dân, doanh nghiệp đối với hiệu quả quản lý, điều hành của cơ quan nhà nước. Vì vậy, việc nhận diện đúng, đầy đủ và kịp thời các hành vi, dấu hiệu gây lãng phí từ thực trạng chậm tiến độ dự án là yêu cầu cần thiết trong hoạt động kiểm toán. Qua thực tiễn kiểm toán các dự án đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn, Kiểm toán nhà nước khu vực VI nhận thấy nguyên nhân chủ yếu của tình trạng chậm tiến độ thường tập trung ở các khâu: chuẩn bị đầu tư chưa kỹ; khảo sát, thiết kế, dự toán chưa sát thực tế; giải phóng mặt bằng kéo dài; bố trí vốn chưa đáp ứng tiến độ; năng lực quản lý dự án, năng lực nhà thầu còn hạn chế; điều hành dự án thiếu quyết liệt; công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm chưa nghiêm. Để nhận diện đúng dấu hiệu lãng phí, kiểm toán cần đánh giá dự án theo chuỗi logic đầu vào - quá trình thực hiện - đầu ra - kết quả - tác động. Không nên chỉ xem xét riêng việc tăng tổng mức đầu tư hoặc chậm tiến độ ở thời điểm kiểm toán, mà cần phân tích nguyên nhân gốc rễ, trách nhiệm của từng chủ thể và ảnh hưởng của việc chậm tiến độ đến ngân sách, đến hiệu quả sử dụng vốn và đến mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Trong khi đó, thông qua hoạt động kiểm toán, Kiểm toán nhà nước khu vực XII nhận thấy, hành vi gây lãng phí ở giai đoạn quyết định đầu tư tập trung vào 02 nhóm hành vi điển hình: phê duyệt dự án chưa xác định rõ nhu cầu sử dụng và quyết định địa điểm đầu tư chưa phù hợp. Theo đó, phê duyệt dự án chưa xác định rõ nhu cầu sử dụng xuất phát từ việc khảo sát một cánh hình thức, tư duy nhiệm kỳ, hoặc áp đặt chủ quan dẫn đến quy mô công trình vượt quá xa nhu cầu thực tế, hoặc công trình xây xong không thể đưa vào khai thác. Lãng phí khi quyết định địa điểm đầu tư chưa phù hợp biểu hiện qua việc phê duyệt dự án không tuân thủ quy hoạch chung, chọn địa điểm bất lợi dẫn đến vướng mắc, khó khăn về pháp lý trong quá trình đầu tư dự án. Bên cạnh đó, Kiểm toán nhà nước khu vực XII cũng cho biết thêm hiện tượng lãng phí cũng xảy ra đối với các dự án đầu tư ngoài ngân sách. Đây là việc lãng phí rất lớn nguồn lực xã hội và nguồn lực đất đai của nhà nước mà nguyên nhân do địa phương xác định mục tiêu đầu tư chưa chuẩn xác (việc xác định mục tiêu dự án chưa thật sự phù hợp với mức độ đáp ứng của hạ tầng giao thông, hạ tầng kỹ thuật cũng như lực lượng lao động địa phương dẫn đến), chưa có cơ chế chính sách để phát triển đồng bộ các hạ tầng và các yếu tố liên quan khác để các dự án do các doanh nghiệp đầu tư phát huy hiệu quả, góp phần đóng góp nguồn thu cho địa phương. Đại biểu tham luận tại Hội trường Trong lĩnh vực giáo dục đại học, đại diện Kiểm toán nhà nước chuyên ngành III cho biết, đối với lĩnh vực giáo dục, các dự án đầu tư công chủ yếu bao gồm xây dựng trường học, trụ sở làm việc, đầu tư phòng thí nghiệm, máy móc, trang thiết bị chuyên ngành và các công trình phục vụ đào tạo, nghiên cứu. Một số hành vi gây lãng phí trong đầu tư công lĩnh vực giáo dục đại học được Kiểm toán nhà nước chuyên ngành III nhận diện như: lãng phí do công tác quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch; lãng phí do quy hoạch và đầu tư thiếu đồng bộ; lãng phí do bố trí vốn, giải ngân và thực hiện dự án chậm; lãng phí trong lập dự án, thiết kế và dự toán; Lãng phí do kéo dài thời gian thi công và đưa công trình vào sử dụng; Lãng phí trong khai thác, sử dụng tài sản sau đầu tư. Một số cơ sở đào tạo có quy mô tuyển sinh thực tế thấp hơn nhiều so với dự báo khi lập dự án, dẫn đến số lượng phòng học, phòng chức năng và phòng thí nghiệm được khai thác dưới công suất thiết kế. Nhiều máy móc, thiết bị phục vụ giảng dạy, nghiên cứu có tần suất sử dụng thấp, thậm chí không được đưa vào sử dụng. Một số dự án chưa tính toán đầy đủ nhu cầu kinh phí cho giai đoạn vận hành, bảo trì, bảo dưỡng và mua sắm vật tư, hóa chất phục vụ hoạt động chuyên môn. Do thiếu kinh phí vận hành, một số phòng thí nghiệm hoạt động không hiệu quả hoặc phải tạm dừng, làm giảm đáng kể hiệu quả đầu tư. Bên cạnh đó, một số máy móc, thiết bị được đầu tư đã lạc hậu hoặc ngừng sản xuất, không còn linh kiện thay thế, không tương thích với công nghệ mới nên không thể sửa chữa, nâng cấp hoặc tiếp tục khai thác. Điều này không chỉ làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản công mà còn làm phát sinh nhu cầu đầu tư thay thế trước thời hạn. Cũng tại tọa đàm, các đại biểu đã tập trung phân tích, nhận diện nhiều nguy cơ lãng phí vốn đầu tư công, những yếu tố ảnh hưởng đến tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả của các dự án đầu tư công, từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư đến giai đoạn nghiệm thu, vận hành, khai thác công trình cũng như đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực để nhân diện hành vi gây lãng phí trong kiểm toán dự án đầu tư công.

Tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong thực hiện nhiệm vụ hằng ngày

Chiều 21/7, Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán (Trường) đã tổ chức Hội nghị tuyên truyền, phổ biến Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 (Luật số 110/2025/QH15 của Quốc hộ) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (Luật số 132/2025/QH15 của Quốc hội). Tham dự Hội nghị có Giám đốc Trường Đặng Thế Bình; các Phó Giám đốc: Hà Minh Tuấn, Nguyễn Huy Hoàng; cùng toàn thể viên chức, người lao động thuộc Trường. Giám đốc Trường Đặng Thế Bình chủ trì Hội nghị Phát biểu khai mạc Hội nghị, Ông Đặng Thế Bình, Giám đốc Trường nhấn mạnh, đối với Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán, việc quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật không chỉ là yêu cầu bắt buộc mà còn là trách nhiệm của mỗi đảng viên, viên chức và người lao động. “Mỗi cá nhân cần nhận thức đầy đủ rằng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và phòng, chống tham nhũng không chỉ là nhiệm vụ của người đứng đầu hay của một đơn vị chuyên trách mà phải trở thành ý thức tự giác trong thực hiện nhiệm vụ hằng ngày”. Tại Hội nghị, TS. Nguyễn Hữu Hiểu, Trưởng khoa Cơ sở đã phổ biến các quy định của Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025. Trong đó, làm rõ khái niệm tiết kiệm, chống lãng phí theo quy định hiện hành; các hành vi gây lãng phí; nguyên tắc tiết kiệm, chống lãng phí và trách nhiệm của công chức, viên chức và người lao động. Từ đó, xây dựng chương trình và lan toả văn hoá tiết kiệm, chống lãng phí gắn chặt với hoạt động của Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán. TS. Nguyễn Hữu Hiểu, Trưởng khoa Cơ sở phổ biến Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 Đối với Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng, Trưởng khoa Chuyên ngành Hoàng Thế Linh đã làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý và bối cảnh thực tiễn dấn đến việc ban hành Luật; các nội dung được sửa đổi, bổ sung trong Luật Tại Hội nghị, các đảng viên, viên chức, người lao động đã trao đổi, thảo luận về xây dựng chương trình, kế hoạch tiết kiệm, chống lãng phí, trong đó có việc lồng ghép vào nội quy, quy chế làm việc của Trường; tổ chức các hoạt động phong trào và lồng ghép nội dung giáo dục tiết kiệm, chống lãng phí trong hoạt động thường niên; trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu và từng cá nhân. Trưởng khoa Chuyên ngành Hoàng Thế Linh chia sẻ một số quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng Đánh giá cao các nội dung báo cáo viên đã truyền đạt, đặc biệt là những điểm mới của các Luật, phân tích, làm rõ nhiều vấn đề gắn với thực tiễn công tác quản lý nhà nước, quản lý tài chính công, tài sản công và công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Giám đốc Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán Đặng Thế Bình đề nghị, ngay sau Hội nghị, toàn thể viên chức, người lao động tiếp tục thực hiện tốt các quy định của pháp luật và tập trung vào một số nhiệm vụ trọng tâm: Thứ nhất, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong toàn Trường, bảo đảm mỗi viên chức, người lao động đều nắm được những quy định cơ bản, những yêu cầu cần thực hiện trong công việc hằng ngày. Thứ hai, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính; nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu và trách nhiệm của từng cá nhân trong quản lý, sử dụng nguồn kinh phí, tài sản, trang thiết bị được giao. Thứ ba, thực hiện công khai, minh bạch trong các hoạt động của Trường; chú trọng công tác kiểm tra, giám sát nội bộ nhằm phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật, góp phần xây dựng tập thể đoàn kết, trách nhiệm và liêm chính. Thứ tư, mỗi viên chức, người lao động cần phát huy tinh thần gương mẫu, tự giác thực hành tiết kiệm từ những việc nhỏ nhất; sử dụng hiệu quả điện, nước, văn phòng phẩm, thiết bị làm việc; bảo vệ tài sản chung; đồng thời tích cực tham gia xây dựng môi trường làm việc kỷ cương, lành mạnh, minh bạch. Giám đốc Đặng Thế Bình tin tưởng rằng, “với những kiến thức đã được tiếp thu, cùng tinh thần trách nhiệm và quyết tâm của toàn thể viên chức, người lao động thuộc Trường, các quy định của pháp luật sẽ được triển khai thực hiện nghiêm túc, thống nhất và hiệu quả, góp phần xây dựng Trường ngày càng phát triển, hoạt động chuyên nghiệp, minh bạch và đáp ứng yêu cầu đổi mới trong giai đoạn hiện nay.”

Hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước

Sáng 12/8/2026, Hội đồng khoa học Kiểm toán nhà nước đã tổ chức nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước” do ThS. Đào Trọng Khánh (Kiểm toán nhà nước khu vực VIII) làm đồng chủ nhiệm. Hội đồng nghiệm thu do TS. Bùi Quốc Dũng, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Kiểm toán nhà nước làm Chủ tịch. TS Bùi Quốc Dũng, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu, đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn của đề tài Hoạt động kiểm toán môi trường ngày càng được các Cơ quan Kiểm toán tối cao sử dụng như một công cụ hữu hiệu nhằm đánh giá hiệu quả quản lý, sử dụng tài nguyên, kiểm soát ô nhiễm và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững. Nhận thức được vai trò ngày càng quan trọng của kiểm toán môi trường, thời gian qua, Kiểm toán nhà nước đã từng bước mở rộng phạm vi và nội dung kiểm toán. Giai đoạn 2018-2023, Kiểm toán nhà nước đã thực hiện hơn 40 cuộc kiểm toán có nội dung liên quan đến môi trường. Riêng năm 2024, Kiểm toán nhà nước đã triển khai nhiều cuộc kiểm toán chuyên đề như: quản lý, bảo vệ nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt; quản lý môi trường tại các khu kinh tế, khu công nghiệp; quản lý, sử dụng kinh phí bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu tại các bộ, ngành và địa phương. Thông qua hoạt động kiểm toán, Kiểm toán nhà nước đã phát hiện nhiều tồn tại, bất cập trong công tác quản lý môi trường, kiến nghị hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công dành cho bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, đại diện Ban đề tài - ThS Đào Trọng Khánh cho biết, mặc dù Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã quy định Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán trong lĩnh vực môi trường, nhưng Luật Kiểm toán nhà nước hiện hành chưa có quy định cụ thể về đối tượng, nội dung và phạm vi kiểm toán môi trường. Một số hoạt động có tác động trực tiếp đến môi trường của doanh nghiệp ngoài khu vực công chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng để đưa vào kế hoạch kiểm toán. Bên cạnh đó, hệ thống dữ liệu môi trường phục vụ kiểm toán còn phân tán, việc chia sẻ thông tin giữa các cơ quan quản lý và Kiểm toán nhà nước chưa thực sự đồng bộ. Ngoài ra, các quy định về kiểm toán môi trường trong khu vực doanh nghiệp, tiêu chuẩn chuyên môn và hướng dẫn kỹ thuật phục vụ hoạt động kiểm toán môi trường vẫn chưa được hoàn thiện. Trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện các cam kết quốc tế về phát triển bền vững, ứng phó biến đổi khí hậu và mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, yêu cầu đối với hoạt động kiểm toán môi trường ngày càng cao, đòi hỏi phải mở rộng phạm vi đánh giá đối với các vấn đề môi trường liên ngành, liên vùng và các mục tiêu phát triển bền vững. Nhóm nghiên cứu cho rằng, bên cạnh việc tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động kiểm toán môi trường, việc nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước trong giám sát, đánh giá hiệu quả chính sách môi trường, quản lý tài nguyên, sử dụng nguồn lực công cho bảo vệ môi trường và thực hiện các cam kết quốc tế là yêu cầu cấp thiết. Điều này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng quản trị môi trường quốc gia mà còn khẳng định vị thế của Kiểm toán nhà nước trong việc hỗ trợ Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện mục tiêu phát triển bền vững. Đề tài “Hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước” được thực hiện nhằm đề xuất định hướng, giải pháp hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường, đồng thời nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước trong giám sát việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công và nguồn lực công gắn với bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. ThS Đào Trọng Khánh đại diện Ban đề tài trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, đề tài đã hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề lý luận chung về môi trường, kiểm toán môi trường, cơ sở pháp lý kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước. Theo đó, kiểm toán môi trường được xác định là một lĩnh vực kiểm toán chuyên biệt, được thực hiện thông qua kiểm toán tài chính, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động. Đề tài đã phân tích, đánh giá thực trạng cơ sở pháp lý và thực tiễn triển khai kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước. Kết quả nghiên cứu cho thấy cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường ở Việt Nam đã từng bước được hình thành, nhất là khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 ghi nhận vai trò của Kiểm toán nhà nước trong lĩnh vực môi trường; đồng thời Kiểm toán nhà nước đã ban hành, cập nhật chuẩn mực, quy trình, hướng dẫn nghiệp vụ và triển khai nhiều cuộc kiểm toán có nội dung liên quan đến môi trường. Bên cạnh kết quả đạt được, đề tài cũng chỉ ra một số hạn chế, bất cập chủ yếu như: Luật Kiểm toán nhà nước chưa quy định cụ thể về đối tượng, phạm vi, nội dung, phương thức và tiêu chí kiểm toán môi trường; cơ chế tiếp cận, chia sẻ dữ liệu môi trường còn thiếu đồng bộ; thẩm quyền kiểm tra, đối chiếu đối với các chủ thể ngoài khu vực công có tác động đến môi trường còn chưa rõ; nguồn nhân lực chuyên sâu, hướng dẫn kỹ thuật và ứng dụng công nghệ còn hạn chế. Trên cơ sở đó, đề tài đã khẳng định vai trò của Kiểm toán nhà nước là công cụ giám sát độc lập, góp phần tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình, đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực công cho bảo vệ môi trường và hỗ trợ hoàn thiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường, tăng trưởng xanh, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Nhóm nghiên cứu cũng đã đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước, tập trung vào hoàn thiện Luật Kiểm toán nhà nước và pháp luật có liên quan; làm rõ phạm vi, đối tượng, thẩm quyền, quyền tiếp cận dữ liệu và trách nhiệm phối hợp; cập nhật hướng dẫn kiểm toán môi trường theo các chủ đề mới như khí nhà kính, thị trường các-bon, EPR, kinh tế tuần hoàn, tài chính xanh; đồng thời phát triển nguồn nhân lực, tăng cường sử dụng chuyên gia, ứng dụng công nghệ số và nâng cao hiệu lực thực hiện kiến nghị kiểm toán. Có thể khẳng định, việc hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường là yêu cầu cần thiết trong bối cảnh Việt Nam thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, tăng trưởng xanh và cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Việc hoàn thiện này không nhằm mở rộng Kiểm toán nhà nước thành cơ quan quản lý hay thanh tra môi trường, mà nhằm tạo hành lang pháp lý rõ ràng để Kiểm toán nhà nước thực hiện tốt chức năng kiểm toán độc lập trong lĩnh vực môi trường. Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật về kiểm toán môi trường ở Việt Nam, đồng thời đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng, hiệu lực và hiệu quả hoạt động kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước trong thời gian tới. Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn mà đề tài mang lại Nhận xét về kết quả nghiên cứu của đề tài, Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn mà đề tài mang lại. Đề tài đã nhận diện trúng các “nút thắt” pháp lý hiện nay cũng như thẳng thắn chỉ ra các khoảng trống pháp lý mang tính cốt lõi. Đặc biệt, Đề tài đã đưa ra được bộ 8 tiêu chí (trên giác độ tiếp cận là công cụ quản lý, kiểm soát môi trường) để phân tích, so sánh, phân biệt kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước với thanh tra môi trường, đánh giá tác động môi trường, quan trắc môi trường, kiểm toán nội bộ ISO14001. Đề tài nghiên cứu phản ánh thực tiễn pháp lý về kiểm toán môi trường hiện nay cũng như thực tiễn hoạt động kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước, giữa thực tiễn tác động công tác quản lý, bảo vệ môi trường từ hoạt động kiểm toán môi trường, đối sánh với vai trò kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước cần phải khẳng định; nêu được các nhân tố tác động đến kiểm toán môi trường ở Việt Nam; xây dựng ma trận so sánh một số tiêu chí để rút ra giá trị tham khảo kinh nghiệm quốc tế cho Kiểm toán nhà nước Việt Nam… Việc bổ sung bảng phân biệt kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước với thanh tra môi trường, đánh giá tác động môi trường, quan trắc môi trường và kiểm toán nội bộ theo ISO 14001 đã góp phần khắc phục tình trạng đồng nhất giữa các công cụ quản lý môi trường được phản biện kín chỉ ra. Đề tài đã đón đầu xu hướng công nghệ khi đưa các quy trình ứng dụng GIS, dữ liệu viễn thám, dữ liệu lớn (Big Data) và Trí tuệ nhân tạo (AI) vào việc thu thập bằng chứng kiểm toán xanh. Những đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường, đồng thời nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước có giá trị thực tiễn, với những nguyên tắc, giải pháp và lộ trình tương đối rõ ràng; có giá trị tham khảo thiết thực đối với định hướng phát triển kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước trong thời gian tới. Toàn cảnh buổi nghiệm thu Nhằm hoàn thiện đề tài, Hội đồng đề nghị Ban đề tài rà soát, biên tập lại một số nội dung kết cấu các mục; rà soát lại các kinh nghiệm quốc tế để gắn với nội dung nghiên cứu của đề tài. Ban đề tài nên tập trung vào các bất cập hiện tại của hoạt động kiểm toán môi trường và định hướng phát triển của Kiểm toán môi trường để đưa ra các giải pháp. Đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn cũng như công tác tổ chức nghiên cứu đề tài, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu - Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Bùi Quốc Dũng đề nghị Ban Đề tài khi tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý và xây dựng Chiến lược kiểm toán môi trường giai đoạn 5-10 năm tới, cần có cách tiếp cận toàn diện, phân định rõ giữa giải quyết bất cập hiện tại và định hướng tương lai. Theo đó, bên cạnh việc nhận diện, tháo gỡ những vướng mắc từ thực tiễn môi trường để kiến nghị hoàn thiện pháp luật, cần dự báo sớm những xu hướng mới của môi trường trên thế giới, nhất là các vấn đề về Net Zero, phát triển bền vững, các công cụ kinh tế môi trường. Chủ tịch Hội đồng cũng lưu ý yêu cầu mở rộng phạm vi, đối tượng và phương thức tiếp cận dữ liệu phục vụ môi trường, hướng tới cơ chế khai thác dữ liệu thường xuyên, liên tục, kết nối trực tiếp, thay vì chủ yếu tiếp cận theo từng cuộc kiểm toán.  Đề tài được Hội đồng nghiệm thu xếp loại Xuất sắc./.