Thứ hai, 16/2/2026

Điện thoại (024) 6287 3463

Đường dây nóng (024) 6287 3463

Liên hệ quảng cáo (+84)915.632.345

Thứ hai, 16/2/2026
Share on Facebook
Copy to Clipboard

Đảm bảo kiểm soát lạm phát trong mục tiêu

Từ đầu năm đến nay, giá cả hàng hóa được kiểm soát hiệu quả, giúp chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 8 tháng chỉ tăng ở mức 4,05% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, trước diễn biến bão lũ đã và đang tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh và cung ứng hàng hóa, gây thiếu hụt nguồn cung và tăng giá hàng hóa cục bộ, ông Phạm Văn Bình, Phó Cục trưởng Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính), cho biết cơ quan quản lý giá đã và đang triển khai nhiều giải pháp để tiếp tục ổn định thị trường giá cả, đảm bảo kiểm soát lạm phát cả năm trong mục tiêu Chính phủ đặt ra.

 

Chỉ số giá tiêu dùng 8 tháng có bước tăng khá khiêm tốn, theo ông, diễn biến giá cả thị trường từ đầu năm đến nay có điểm gì đáng chú ý?

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ - Trưởng ban Chỉ đạo điều hành giá, trong 8 tháng đầu năm 2024, công tác quản lý, điều hành giá đã được triển khai đồng bộ, các bộ, ngành, địa phương tổ chức triển khai quyết liệt nhiều giải pháp và đã đạt được các kết quả tích cực, góp phần kiểm soát lạm phát. Nhờ đó, chỉ số CPI bình quân của 8 tháng tăng 4,05% so với cùng kỳ. Mức tăng này nằm trong kịch bản của Ban Chỉ đạo và đáp ứng được mục tiêu kiểm soát lạm phát của Chính phủ là CPI bình quân nằm trong khoảng 4% đến 4,5%.

Dù mặt bằng giá cả hàng hóa đã được kiểm soát chặt chẽ và hiệu quả trong 8 tháng đầu năm, song cơn bão số 3 (Yagi) đổ bộ vào miền Bắc trong những ngày đầu tháng 9 đã và đang gây hậu quả nặng nề. Mặt bằng giá cả chịu tác động như thế nào từ cơn bão Yagi và hoàn lưu bão, thưa ông?

Chịu tác động của cơn bão và hoàn lưu bão, một số địa phương đã và đang chịu thiệt hại khá lớn về con người, tài sản. Bên cạnh đó, hoạt động sản xuất nông nghiệp, thủy sản, giao thông cũng chịu tác động tiêu cực đáng kể. Mưa lũ, sạt lở đã làm đứt gãy giao thông khiến vận chuyển hàng hóa một số nơi gặp khó khăn, hoạt động cung ứng tại một số thời điểm bị gián đoạn dẫn đến khan hiếm cục bộ. Vì vậy, một số mặt hàng thiết yếu như rau, củ quả, thực phẩm, nước uống tăng giá trong một số thời điểm nhất định.

     Xin ông cho biết Bộ Tài chính đã có những giải pháp gì để kiểm soát giá cả thị trường trước tác động của bão và hoàn lưu bão?

Trước tình hình tăng giá cục bộ tại một số địa phương và trong một số thời điểm, Chính phủ, Bộ Tài chính đã có những chỉ đạo sát sao. Thường trực Ban Chỉ đạo điều hành giá cũng đã đề ra nhiều giải pháp để thực hiện. Bộ trưởng Bộ Tài chính đã có Công điện số 03/CĐ-BTC về việc đẩy mạnh, tăng cường các biện pháp quản lý, điều hành giá sau bão Yagi (bão số 3). Trong đó, nhấn mạnh nhiều nhóm giải pháp cụ thể.

Bộ Tài chính đề nghị các cơ quan, đơn vị tiếp tục đẩy mạnh triển khai thực hiện Công điện số 61/CĐ-TTg ngày 22/6/2024 của Thủ tướng Chính phủ gửi các Bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố về việc tăng cường các biện pháp quản lý, điều hành giá để đảm bảo mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế; thực hiện nghiêm túc, quyết liệt chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ - Trưởng ban Chỉ đạo điều hành giá.

Đáng chú ý, Bộ Tài chính đề nghị các cơ quan liên quan, trong phạm vi, lĩnh vực quản lý, đẩy mạnh tổ chức triển khai theo dõi sát diễn biến thị trường, kịp thời thực hiện giải pháp đảm bảo cân đối cung cầu trong nước, ổn định giá cả, không để xảy ra tình trạng thiếu hàng, găm hàng, đầu cơ, tăng giá bất hợp lý.

Sử dụng linh hoạt, hiệu quả các công cụ, biện pháp điều tiết giá theo quy định của pháp luật về giá để kiểm soát, bình ổn thị trường. Tăng cường triển khai hiệu quả và giám sát thực hiện các biện pháp kê khai giá, niêm yết giá; công khai thông tin về giá; tổ chức thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giá, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về giá. Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, đảm bảo kịp thời, minh bạch thông tin về giá, nhất là diễn biến giá các vật tư quan trọng, các mặt hàng thiết yếu liên quan đến sản xuất và đời sống người dân để hạn chế gia tăng lạm phát kỳ vọng, ổn định tâm lý người tiêu dùng sau bão lũ.

Bộ trưởng Bộ Tài chính đề nghị các bộ theo chức năng, nhiệm vụ chủ động trong công tác tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ - Trưởng ban Chỉ đạo điều hành giá đề xuất các giải pháp đảm bảo thông suốt hoạt động cung ứng, lưu thông, phân phối hàng hóa, dịch vụ, nhất là đối với các mặt hàng thiết yếu, bị đứt gãy, hạn chế nguồn cung sau bão lũ; tổ chức, theo dõi sát diễn biến cung cầu, giá cả thị trường các mặt hàng thiết yếu thuộc lĩnh vực quản lý để có biện pháp điều hành phù hợp, chuẩn bị và tính toán kĩ các phương án điều hành giá các mặt hàng Nhà nước định giá, các dịch vụ công theo lộ trình thị trường để tránh tác động cộng hưởng lên CPI trong thời điểm thị trường giá cả bị tác động do bão lũ. Đồng thời, gửi Bộ Tài chính thông tin để kịp thời tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ - Trưởng ban Chỉ đạo điều hành giá theo quy định.

Việc kiểm soát giá cả hàng hóa tại các địa phương được thực hiện như thế nào, thưa ông?

Đối với khối các địa phương, Bộ Tài chính đã đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố nắm bắt sát diễn biến giá cả thị trường, cung cầu hàng hóa trên địa bàn nhất là các mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu của người dân, giám sát thị trường hàng hóa tại các chợ đầu mối, trung tâm mua sắm, siêu thị không để xảy ra tình trạng tạo khan hiếm, đầu cơ nâng giá, xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng tình trạng khẩn cấp, sự cố, thảm họa, thiên tai, dịch bệnh để tăng giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý nhằm trục lợi. Cùng với đó, đảm bảo và tạo điều kiện cho lưu thông hàng hóa, nhất là đến các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng chịu thiệt hại của bão lũ; tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả công tác tổng hợp, phân tích, dự báo giá thị trường và báo cáo giá thị trường trên địa bàn theo đúng quy định.

Bộ trưởng Bộ Tài chính đề nghị Tổng cục Dự trữ nhà nước chỉ đạo các Cục Dự trữ nhà nước khu vực bố trí lực lượng 24/24 giờ; tổ chức xuất cấp gạo, các phương tiện, vật tư cứu nạn cứu hộ... kịp thời từ các kho dự trữ quốc gia cho các tỉnh, thành phố theo yêu cầu của cấp có thẩm quyền, đúng quy định pháp luật.

Sở Tài chính chủ động phối hợp với các sở, ban, ngành để kịp thời tham mưu cho Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tăng cường công tác quản lý, điều hành, bình ổn giá, căn cứ điều kiện, tình hình thực tế tại địa phương để xem xét quyết định việc thực hiện chương trình bình ổn thị trường trên địa bàn khi có biến động bất thường xảy ra theo thẩm quyền và quy định pháp luật.

Với tác động tiêu cực từ bão và hoàn lưu bão, cơ quan quản lý giá dự báo gì về khả năng kiểm soát CPI trong mục tiêu Quốc hội đặt ra?

Trong công tác điều hành, Ban Chỉ đạo điều hành giá cũng đã tính đến nhiều kịch bản lạm phát. Trong mỗi kịch bản, chúng tôi đặt ra nhiều tình huống có thể xảy ra, có cả tình huống tốt cả tình huống xấu. Với sự chủ động, với sự nỗ lực, quyết tâm vào cuộc của toàn bộ hệ thống chính trị, chúng ta tin chắc rằng mục tiêu về kiểm soát lạm phát 2024 sẽ vẫn được đảm bảo như Quốc hội đề ra.

Xin cảm ơn ông!

Hải Anh (thực hiện)

Lượt xem: 0

Muốn tăng trưởng hai con số, không thể tiếp tục đi trên con đường cũ

Mục tiêu tăng trưởng GDP 10% trong năm 2026 đang trở thành tâm điểm của các cuộc thảo luận chính sách, khi Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng tốc nhưng không được đánh đổi ổn định vĩ mô. Trong bối cảnh các động lực tăng trưởng truyền thống dần thu hẹp, bài toán đặt ra không chỉ là “làm thế nào để đạt con số hai chữ số”, mà quan trọng hơn là tăng trưởng bằng cách nào để bền vững và an toàn. Phóng viên chúng tôi đã có cuộc trao đổi với TS. Lê Xuân Nghĩa, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tiền tệ Quốc gia, xung quanh chủ đề này. Thưa TS. Lê Xuân Nghĩa, năm 2025 dự kiến khép lại với mức tăng trưởng 8%. Bước sang năm 2026, Chính phủ đặt mục tiêu đầy thách thức là 10%. Dưới góc nhìn chuyên gia, ông đánh giá thế nào mục tiêu này? Phải thẳng thắn rằng, mục tiêu 10% là cực kỳ thách thức, nếu không muốn nói là “ngưỡng cửa” rất cao đối với một nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam. Chúng ta có một nghịch lý: năm 2025 đạt 8% là một nền tảng tăng trưởng cao, nhưng chính con số này lại khiến dư địa cho năm sau trở nên hạn hẹp. Động lực chính của năm 2025 dựa nhiều vào xuất khẩu với mức tăng khoảng 16%. Tuy nhiên, khả năng duy trì đà tăng này trong năm 2026 là không lớn khi nhu cầu thế giới đang có dấu hiệu bão hòa và các rào cản thương mại gia tăng. Chúng ta đã khai thác gần như cạn kiệt năng lực xuất khẩu truyền thống. Trong khi đó, các động lực tăng trưởng mới vẫn chưa đóng góp thực sự rõ nét vào GDP. Vì vậy, để tăng trưởng hai con số, chúng ta không thể tiếp tục đi trên con đường cũ. Vậy ông đề xuất chúng ta nên bắt đầu thay đổi từ đâu? Tôi đề xuất 3 nhóm vấn đề trọng tâm. Đầu tiên và quan trọng nhất là đổi mới mô hình phát triển theo hướng bao trùm và bền vững hơn. Đã đến lúc không thể chỉ nhìn vào “lượng” mà phải hài hòa giữa kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường. Tôi đặc biệt nhấn mạnh mô hình 3I (Investment - Innovation - Integration) mà Ngân hàng Thế giới khuyến nghị. Đó là: Đầu tư, Tiếp nhận và hấp thụ công nghệ và Đổi mới sáng tạo. Sai lầm của nhiều nền kinh tế là triển khai tuần tự. Việt Nam nên thực hiện đồng thời cả 3 trụ cột này. Chúng ta cần vốn, nhưng phải là vốn đi kèm công nghệ và từ công nghệ đó phải thúc đẩy được sự tự chủ đổi mới sáng tạo trong nước. Có một chỉ số mà các chuyên gia thường nhắc đến là năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP). Ông đánh giá thế nào về khả năng nâng tỉ trọng TFP lên trên 50% như mục tiêu nhiệm kỳ tới? Đây là một mục tiêu rất tham vọng. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, ở các nền kinh tế tăng trưởng thần kỳ, vốn đóng góp 40% - 50%, lao động 6% - 10%, còn TFP chiếm tới 35% - 50%. Nhiệm kỳ qua, vốn của chúng ta vẫn chiếm tới 50%, trong khi TFP đạt khoảng 42.% - 44%. Nâng TFP lên trên 50% trong bối cảnh kinh tế toàn cầu chậm lại là bài toán khó bậc nhất. Chúng ta đặt mục tiêu tăng trưởng nhiệm kỳ mới gấp 1,8 lần nhiệm kỳ trước, nghĩa là năng suất lao động và hàm lượng khoa học công nghệ phải tăng trưởng đột phá. Muốn vậy, phải đo lường và lượng hóa được kinh tế số, kinh tế AI và kinh tế dữ liệu. Hiện nay, chúng ta vẫn còn tranh luận nhiều về cách tính, nhưng nếu không định hình rõ ràng, chúng ta sẽ không biết mình đang đứng ở đâu để mà bứt phá. Ông thường nhắc đến việc củng cố niềm tin cho doanh nghiệp nội địa. Phải chăng đây là “gót chân Achilles” của chúng ta hiện nay? Đúng vậy. Khu vực hộ kinh doanh và doanh nghiệp tư nhân đóng góp tỷ trọng lớn nhất cho tăng trưởng nhưng đang gặp khó khăn chồng chất. Họ đang bị bủa vây bởi các thủ tục hành chính và sự lo ngại về chính sách. Tôi kiến nghị cần có hướng dẫn rõ ràng về việc áp dụng thuế kê khai, đặc biệt là tuyệt đối không hồi tố chính sách. Khi niềm tin bị ảnh hưởng, người dân sẽ dè dặt trong kinh doanh và tiêu dùng. Sức mua yếu hiện nay chính là tấm gương phản chiếu sức lực hạn chế của nền kinh tế. Nếu không kích cầu tiêu dùng nội địa hiệu quả, doanh nghiệp nội sẽ tiếp tục “hụt hơi”. Bên cạnh đó, môi trường đầu tư cần được cải thiện thực chất. Chúng ta nói nhiều về cắt giảm thủ tục nhưng doanh nghiệp vẫn than phiền. Phải triển khai hiệu quả các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị và các luật mới, biến những văn bản trên giấy thành đòn bẩy thực tế ngay từ quý I/2026. Nguồn vốn cho mục tiêu tăng trưởng 10% sẽ lấy từ đâu, thưa ông, khi dư địa tín dụng ngân hàng đã quá tải? Đây là vấn đề cốt tử. Hiện nay, cơ cấu vốn của chúng ta phụ thuộc quá lớn vào ngân hàng. Để tăng trưởng bền vững, cần tăng mạnh vai trò của thị trường chứng khoán, giảm dần sự lệ thuộc vào tín dụng. Đặc biệt, tôi muốn nhấn mạnh đến vai trò của đầu tư nước ngoài (FDI) trong các lĩnh vực trọng điểm như năng lượng. Nhu cầu vốn cho năng lượng mỗi năm lên tới hàng chục tỷ USD. Nếu chỉ trông chờ vào nguồn lực trong nước thì chắc chắn thất bại. Chúng ta cần cơ chế thông thoáng để thu hút FDI vào năng lượng, nếu không, nguy cơ thiếu hụt điện trong thập kỷ tới sẽ trở thành vật cản lớn nhất cho mọi mục tiêu tăng trưởng. Ngoài ra, cần xem xét lại một số chính sách, ví dụ như việc đưa lãi suất tiền gửi USD về 0% để chống đô la hóa. Việc này đang khiến chúng ta bỏ lỡ một nguồn vốn ngoại tệ quan trọng trong khi doanh nghiệp đang khát vốn. Chúng ta cũng nên cho phép doanh nghiệp Việt vay vốn nước ngoài với cơ chế phù hợp hơn để tận dụng nguồn lực toàn cầu. Nhiều người nhắc đến nút thắt trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp đang ảnh hưởng đến đầu tư công. Ông có quan điểm thế nào? Hiện nay, chúng ta đang gặp ách tắc nhất định khi khoảng 65% dự án đầu tư công nằm ở cấp huyện. Việc thực hiện mô hình mới nhưng chưa có sự chuyển giao thẩm quyền và hướng dẫn quyết liệt đã khiến nhiều dự án không thể giải ngân. Những vướng mắc này cần được chỉ đạo xử lý ngay, không thể để đầu tư công - “vốn mồi” của nền kinh tế bị đình trệ. Cuối cùng, trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, ông có lời khuyên gì về việc gắn kết tăng trưởng với quản trị rủi ro? Chúng ta cần thay đổi tư duy từ “phục hồi sau thiên tai” sang phòng ngừa và quản trị rủi ro chủ động. Hãy coi quản trị rủi ro thiên tai là một phần không thể tách rời của quy hoạch và đầu tư phát triển. Xây dựng niềm tin là chìa khóa. Tỉ lệ tiết kiệm của người dân Việt Nam rất cao (36% - 37% GDP), nhưng họ không dám tiêu dùng, không dám đầu tư vì lo ngại rủi ro và thiếu niềm tin vào tương lai. Khơi thông được nguồn lực khổng lồ đang nằm trong túi người dân chính là giải pháp tăng trưởng rẻ nhất và hiệu quả nhất. Để đạt được 10% GDP vào năm 2026, chúng ta cần một cuộc cách mạng về tư duy quản trị và sự quyết liệt trong hành động, chứ không chỉ là những kế hoạch nằm trên bàn giấy. Xin trân trọng cảm ơn ông! Anh Duy (thực hiện) (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán - số tháng 1/2026)                                                                                                                                                                                                                                                   

Cần triển khai hiệu quả các chính sách hỗ trợ tăng trưởng

Ông Sacha Dray, Chuyên gia Kinh tế của Ngân hàng Thế giới (WB), cho rằng tăng trưởng kinh tế Việt Nam đã đạt kết quả tích cực trong nửa đầu năm nay song vẫn còn nhiều thách thức trong những tháng cuối năm, chủ yếu do sự bất định từ môi trường kinh tế bên ngoài. Do đó, cần các giải pháp hiệu quả để cải thiện hoạt động của doanh nghiệp và tiếp tục thúc đẩy giải ngân đầu tư công. Theo ông, kinh tế Việt Nam từ đầu năm đến nay có điểm gì nổi bật? Trong nửa đầu năm 2025, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam khả quan, đạt mức 7,5%, cao hơn so với khu vực, vượt xa các nền kinh tế lớn của ASEAN như Thái Lan, Philippines, Indonesia, Malaysia. Tăng trưởng GDP của Việt Nam tăng cao nhờ xuất khẩu tăng mạnh do các doanh nghiệp đang đẩy mạnh đơn hàng xuất đi trong bối cảnh bất định về chính sách thương mại toàn cầu. Tăng trưởng trên có được là nhờ xuất khẩu tăng lên đến 14,2% trong nửa đầu năm 2025 (so cùng kỳ), bao gồm xuất khẩu hàng hóa sang Hoa Kỳ tăng mạnh, lên đến 28,3%, trước dự kiến thuế quan gia tăng trong thời gian tới. Nhập khẩu cũng tăng 16,0% trong nửa đầu năm 2025 (so cùng kỳ) để đáp ứng nhu cầu sản xuất để đảm bảo tiến độ xuất khẩu. Tăng trưởng đầu tư theo giá so sánh đạt 8,0% (so cùng kỳ), so với 6,7% trong nửa đầu năm 2024 (so cùng kỳ), nhờ đầu tư nước ngoài vẫn đứng vững và đầu tư công được đẩy mạnh. Tiêu dùng cuối cùng trong nửa đầu năm 2025 tăng 8,0%, so với 5,8% (cùng kỳ năm ngoái), nhờ du lịch khởi sắc. Nhìn trên góc độ cung, các lĩnh vực chế biến, chế tạo vẫn đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng kinh tế (ở mức 30,7% cho tăng trưởng GDP trong nửa đầu năm 2025), tiếp theo là các dịch vụ liên quan đến thương mại (8,3%). Khu vực dịch vụ đóng góp gần một nửa tổng tăng trưởng kinh tế trong sáu tháng đầu năm 2025. Kết quả này cũng vượt trội so với thành tích mà Việt Nam đạt được trong 10 năm qua, nếu không tính giai đoạn phục hồi sau COVID-19. Nói cách khác, nền kinh tế đã có một màn thể hiện rất ấn tượng, phần lớn nhờ vào sự gia tăng xuất khẩu. Sự tăng trưởng xuất khẩu này đã thúc đẩy sản xuất hàng công nghiệp, đồng thời kéo theo sự phát triển của các dịch vụ thương mại như vận tải và logistics. Ông đánh giá như thế nào về công tác điều hành chính sách tài khóa và tiền tệ từ đầu năm đến nay? Từ đầu năm 2025 tới nay, chính sách tài khóa được thực hiện theo hướng mở rộng linh hoạt thông qua đầu tư công. Theo đó, đầu tư công mở rộng cả ở cấp trung ương và địa phương cho các dự án hạ tầng lớn về giao thông, năng lượng, đồng thời, tác động lớn với nhu cầu về nguyên vật liệu. Tuy nhiên, cần thêm thời gian để hiện thực hóa tác động này với tăng trưởng kinh tế và sẽ càng thể hiện rõ hơn trong trung hạn. Cùng với chính sách tài khóa mở rộng, chính sách tiền tệ được nới lỏng khi Ngân hàng Nhà nước dùng nhiều biện pháp can thiệp để kiềm chế áp lực tỷ giá và đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng. Chính sách tiền tệ nới lỏng trên đã hỗ trợ nền kinh tế phục hồi, với lãi suất chính sách thực về gần bằng không. Đến ngày 31/8/2025, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký vào Việt Nam đạt 26,14 tỷ USD, tăng mạnh 27,3% so với cùng kỳ năm 2024. Đây có phải là kết quả khả quan không, thưa ông? Dù bối cảnh toàn cầu bất ổn, FDI vào Việt Nam vẫn bền bỉ, vốn giải ngân từ các doanh nghiệp nước ngoài đã tăng đáng kể. Các cam kết cho tương lai cũng duy trì tích cực. Kết quả này có được một phần nhờ cam kết mạnh mẽ của Chính phủ trong việc cải thiện môi trường kinh doanh. Việc đặt mục tiêu cắt giảm và đơn giản hóa ít nhất 30% điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính và chi phí tuân thủ trong năm 2025 là điều rất đáng hoan nghênh và sẽ góp phần củng cố niềm tin của nhà đầu tư. Một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế là đầu tư công, ông đánh giá như thế nào về tốc độ giải ngân đầu tư công với tăng trưởng kinh tế? Tính đến tháng 8/2025, mức giải ngân đạt khoảng 40% so với kế hoạch đề ra. Tốc độ giải ngân vốn đầu tư công đã cải thiện cả ở cấp trung ương và địa phương. Bên cạnh đó, điểm tích cực khác là cam kết chính trị mạnh mẽ trong việc tiếp tục thúc đẩy đầu tư công, thông qua việc thành lập các cơ quan, ủy ban mới để phối hợp nâng cao hiệu quả giải ngân. Tuy nhiên, nhiều khó khăn trong khâu triển khai đã tồn tại lâu dài và đến nay vẫn chưa được khắc phục triệt để. Một số biện pháp đã được triển khai sẽ cần thời gian để phát huy hiệu quả. Ví dụ, việc sáp nhập các tỉnh, thành hoặc điều chỉnh Luật Đầu tư công chắc chắn sẽ có tác động tích cực, nhưng trong ngắn hạn có thể gây ra gián đoạn, ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân. Một số biện pháp có thể hỗ trợ gồm: Trao thêm quyền linh hoạt trong việc điều chỉnh dự án trong suốt vòng đời đầu tư; tiếp tục tinh giản thủ tục, tăng cường giám sát, cũng như nâng cao hiệu quả ứng dụng thông tin trong theo dõi, quản lý dự án. Chính phủ Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng khá tham vọng trong năm nay, khoảng 8,3% – 8,5%. Vậy ông có khuyến nghị gì để Việt Nam đạt được mục tiêu này? Dù tăng trưởng kinh tế đạt kết quả tích cực trong những tháng vừa qua song trong những tháng còn lại của năm, những bất định từ môi trường toàn cầu, đặc biệt là các biện pháp thuế quan mới và sự thiếu ổn định trong chính sách thương mại sẽ tiếp tục hiện hữu và có thể tác động đến tăng trưởng. Một phần động lực tăng trưởng trong nửa đầu năm đến từ việc xuất khẩu tăng trước thời hạn, nhằm đón đầu các mức thuế cao hơn, nhưng xu hướng này sẽ chấm dứt trong nửa cuối năm. Vì vậy, chúng tôi dự báo tăng trưởng sẽ chậm lại trong nửa cuối năm, với mức tăng trưởng chung đạt 6,6% trong năm 2025 và 6,1% trong năm 2026. Đây vẫn là kết quả rất tích cực, đặc biệt trong bối cảnh môi trường bên ngoài bất lợi. Chính phủ Việt Nam có thể triển khai một số chính sách để duy trì đà tăng trưởng hiện tại và giảm thiểu rủi ro, cả từ bên ngoài lẫn trong nước.  Thứ nhất, trong lĩnh vực thương mại, tiếp tục thúc đẩy các nỗ lực nhằm giảm bớt bất định xoay quanh chính sách thương mại, chẳng hạn như vấn đề trung chuyển hay tận dụng các thị trường khác để đa dạng hóa vị thế của Việt Nam. Thứ hai, tiếp tục cắt giảm các rào cản phi thuế quan, đồng thời đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu, không chỉ tập trung vào hàng hóa công nghiệp mà còn mở rộng sang dịch vụ, dịch vụ số và các sản phẩm công nghệ cao có giá trị gia tăng lớn. Thứ ba, tăng cường vai trò của doanh nghiệp trong nước để kích thích tiêu dùng tư nhân, qua đó duy trì đà tăng trưởng trong ngắn hạn. Ngoài ra, Chính phủ Việt Nam đang triển khai các kế hoạch đẩy mạnh đầu tư công. Đây là hướng đi rất tích cực để hỗ trợ tăng trưởng, nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao của Chính phủ và tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế trung hạn. Trân trọng cảm ơn ông!  Xuân Anh (thực hiện)  (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, tháng 9/2025)

Bỏ hạn mức tín dụng, cần tăng cường các công cụ kiểm soát rủi ro hiệu quả

Tại Công điện số 159/CĐ-TTg ngày 07/9/2025 về định hướng chỉ đạo, điều hành chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính yêu cầu Ngân hàng Nhà nước xây dựng có lộ trình và thí điểm việc gỡ bỏ biện pháp giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng để thực hiện từ năm 2026. Theo PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân, giảng viên Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, hạn mức tín dụng đã được Ngân hàng Nhà nước áp dụng trong 14 năm nên cũng cần dỡ bỏ biện pháp hành chính này để phù hợp theo cơ chế thị trường song cần các giải pháp kiểm soát rủi ro hiệu quả. Ông đánh giá như thế nào về việc áp dụng hạn mức tín dụng từ năm 2011 đến nay? Bản chất của hạn mức tín dụng là một công cụ hành chính, giúp kiểm soát lạm phát tốt hơn. Công cụ này đóng vai trò như một van điều tiết dòng vốn chảy vào nền kinh tế, khi chảy quá mạnh thì có thể khóa ngay được. Công cụ hạn mức tín dụng được áp dụng từ năm 2011 sau giai đoạn tăng trưởng tín dụng nóng vào các năm trước đó. Việc áp dụng này nhằm hạn chế tình trạng tín dụng tăng trưởng quá mức, tránh rủi ro cho hệ thống ngân hàng khi các chuẩn mực về an toàn vốn chưa được phổ biến rộng rãi, đồng thời dần chuyển sang các biện pháp điều hành dựa trên các chỉ tiêu an toàn theo chuẩn mực quốc tế. Từ đó, đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng, góp phần kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ổn định vĩ mô. Tuy nhiên, công cụ này có hai mặt. Về mặt tích cực, hạn mức tín dụng tạo ra một cơ chế ngắt mạch nhanh và hiệu quả. Về mặt hạn chế, công cụ này mang tính hành chính và sự linh hoạt không cao. Ví dụ, hạn mức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước giao cho các ngân hàng là 15%, dù nhu cầu nền kinh tế thấp nhưng các ngân hàng vẫn đẩy tín dụng lên 15%, như vậy, dòng vốn sẽ chảy vào các kênh đầu cơ. Ngược lại, khi nhu cầu nền kinh tế cao hơn mức 15% nhưng tăng trưởng tín dụng lại bị siết chỉ ở mức này thì rõ ràng dẫn đến tình trạng nền kinh tế bị thiếu vốn. Do đó, tùy vào mục tiêu nới lỏng hay thắt chặt tiền tệ, nếu không dùng hạn mức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước vẫn có thể dùng các công cụ thị trường khác để điều hành như lãi suất chính sách, nghiệp vụ thị trường mở thông qua việc Ngân hàng Nhà nước thực hiện mua, bán giấy tờ có giá với các thành viên, tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Ví dụ, muốn nới lỏng và hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp thì khi không có hạn mức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước vẫn có thể bơm tiền ra bằng nghiệp vụ thị trường mở. Đến nay, khi hệ thống ngân hàng đã phát triển tích cực, chủ trương bỏ hạn mức tín dụng gắn với việc Ngân hàng Nhà nước chủ động điều hành lãi suất theo tín hiệu thị trường là hoàn toàn xác đáng và hợp lý, thúc đẩy hệ thống tài chính Việt Nam theo thông lệ quốc tế. Theo ông, việc bỏ hạn mức tín dụng từ năm 2026 có hợp lý không? Việc bỏ hạn mức tín dụng nên chọn thời điểm phù hợp, có lộ trình để tránh rủi ro. Bài học từ giai đoạn 2007-2010 vẫn còn nguyên giá trị, lạm phát tăng vọt khi tín dụng chảy quá nhiều ra nền kinh tế với mức tăng trưởng lên đến 25%-28%/năm. Việc bỏ hạn mức tín dụng ở thời điểm này sẽ giúp các ngân hàng thương mại có thể cho vay chủ động hơn nhưng nếu không kiểm soát tốt sẽ dễ đẩy tăng trưởng tín dụng lên quá cao, ảnh hưởng đến lạm phát cũng như tạo ra những rủi ro cho ổn định vĩ mô. Xét ở khía cạnh khác, Ngân hàng Nhà nước vẫn có thể kiểm soát được dòng vốn chảy ra nền kinh tế bằng các công cụ thị trường như nêu trên. Chẳng hạn, khi lãi suất thực sự được vận hành theo cơ chế thị trường sẽ trở thành công cụ chủ đạo để điều tiết chi phí vốn, định hướng tín dụng vào các khu vực hiệu quả, giảm thiểu rủi ro phát sinh từ tín dụng dễ dãi. Việc xác định lộ trình phù hợp liên quan đến tính sẵn sàng của hệ thống và mức độ hiệu quả của các công cụ thị trường. Nếu hiệu quả rồi thì việc bỏ hạn mức tín dụng sẽ không ảnh hưởng quá nhiều. Nhưng, nếu bỏ hạn mức tín dụng trong khi các công cụ của chính sách tiền tệ theo thị trường chưa thực sự hiệu quả thì cần cân nhắc, đặc biệt trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến khá phức tạp và khó lường. Nhìn chung, khi bỏ hạn mức tín dụng thì các ngân hàng sẽ được chủ động hơn trong việc sử dụng nguồn vốn, bỏ được cơ chế xin - cho. Tùy vào năng lực mà mỗi ngân hàng có thể phát triển nguồn vốn theo khả năng và không bị ảnh hưởng bởi công cụ hành chính. Ngân hàng Nhà nước sẽ giám sát bằng hệ số quản trị rủi ro của các ngân hàng. Những ngân hàng nào có hệ số tốt thì được cho vay trên tỷ lệ vốn nhiều hơn và ngược lại. Bên cạnh việc bỏ hạn mức tín dụng, cần các giải pháp gì để kiểm soát rủi ro trong hệ thống và nền kinh tế, thưa ông? Việc bỏ hạn mức tín dụng là cần thiết song cũng phải rút kinh nghiệm từ bài học lịch sử giai đoạn trước dẫn đến lạm phát ở mức cao. Kinh nghiệm thế giới cho thấy, cơ quan điều hành sẽ cần xây dựng các mô hình, hệ thống cảnh báo sớm, dự báo chính xác về lạm phát, về tăng trưởng kinh tế và các yếu tố vĩ mô khác. Chẳng hạn ở Mỹ có hệ thống cơ sở dữ liệu kinh tế và tài chính (FRED), tập hợp hàng trăm nghìn chuỗi dữ liệu kinh tế, tài chính, và xã hội từ nhiều nguồn như Cục Thống kê Lao động, Cục Phân tích Kinh tế, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Thế giới… nhằm hỗ trợ nghiên cứu và hoạch định chính sách. Trên cơ sở phân tích dữ liệu, cơ quan điều hành có thể đưa ra dự báo lạm phát trong tương lai để thắt chặt tiền tệ từ sớm, không đợi lạm phát xảy ra mới thắt chặt, lúc đó sẽ quá muộn do chính sách tiền tệ luôn có độ trễ. Khi có hệ thống dự báo chính xác thì việc điều hành chính sách tiền tệ sẽ đạt hiệu quả cao hơn. Ngoài ra, để kiểm soát tốt rủi ro khi bỏ hạn mức tín dụng, hệ thống ngân hàng cần được bổ sung các biện pháp quản lý tiên tiến, kết hợp với việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (big data), nâng chuẩn quản trị rủi ro, hoàn thiện các quy định an toàn và tiếp tục duy trì sự giám sát chủ động từ Ngân hàng Nhà nước. Một điều quan trọng là vai trò truyền thông chính sách, tránh đưa ra thông điệp cho rằng đây là tín hiệu nới lỏng tiền tệ, vô hình trung đẩy kỳ vọng lạm phát. Trân trọng cảm ơn ông! Lê Hường (thực hiện) (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, tháng 9/2025)

Việt Nam hướng tới nước thu nhập cao: Vai trò then chốt của thể chế và khu vực tư nhân

Trong bối cảnh kinh tế - thương mại toàn cầu nhiều biến động, Việt Nam đang đặt mục tiêu đầy tham vọng trở thành nước thu nhập cao vào năm 2045. Theo Chuyên gia kinh tế, PGS.TS. Phạm Thế Anh - Trưởng Khoa kinh tế học (Đại học kinh tế Quốc dân), để hiện thực hóa mục tiêu này, Việt Nam cần một chiến lược cải cách toàn diện, tập trung vào hoàn thiện thể chế, cải thiện hiệu quả điều hành chính sách vĩ mô, thúc đẩy vai trò của khu vực tư nhân và đặc biệt là nâng cao chất lượng thực thi chính sách - điểm hạn chế suốt nhiều năm qua. PGS.TS. Phạm Thế Anh Trưởng Khoa kinh tế học (Đại học kinh tế Quốc dân) Ông đánh giá thế nào về thực trạng nền kinh tế hiện nay và những thách thức chính mà nước ta phải đối mặt trên con đường trở thành nước thu nhập cao vào năm 2045? Việt Nam đã đạt được những thành tựu kinh tế ấn tượng trong hơn ba thập kỷ qua, với tăng trưởng GDP bình quân khoảng 6,73%/năm và thu nhập bình quân đầu người từ 80 USD/người năm 1990 vươn lên mạnh mẽ đạt 4.700 USD/người năm 2024 theo thông tin từ Ngân hàng Thế giới (WB). Hơn nữa, trong hơn ba thập kỷ qua, Việt Nam đã và đang lựa chọn mô hình tăng trưởng dựa vào đầu tư và hướng ra xuất khẩu. Nếu như vào đầu những năm 1990, tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ trong GDP của Việt Nam chỉ khoảng dưới 30%, thì con số này đã tăng lên trên 50% vào những năm 2000 và trên 80% trong những năm gần đây, để từ đó trở thành một trong những nền kinh tế có độ mở thương mại lớn nhất thế giới. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ trong cả giai đoạn 1991-2024 là khoảng 17%/năm. Việt Nam còn tham gia đàm phán, ký kết và thực hiện một loạt các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới với các đối tác kinh tế quan trọng, được kỳ vọng sẽ làm thay đổi toàn diện kinh tế Việt Nam trong thập kỷ tới. Cùng với đó, các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, cải thiện môi trường kinh doanh... tiếp tục được thực hiện để thu hút đầu tư nước ngoài nhằm giải quyết vấn đề việc làm và phục vụ mục tiêu xuất khẩu của đất nước. Những năm gần đây, kinh tế vĩ mô của Việt Nam đã được cải thiện nhưng vẫn tồn tại những rủi ro và thách thức nhất định. Nhìn vào những con số và thực tế nền kinh tế thì thấy, tốc độ tăng trưởng GDP đang có xu hướng giảm dần qua các thời kỳ, từ 7,41% trong giai đoạn 1990-1999, xuống còn 7,27% trong giai đoạn 2000-2009, 6,3% trong giai đoạn 2010-2019 và 5,14% kể từ năm 2020 đến nay. Nguyên nhân do mô hình tăng trưởng dựa vào vốn và xuất khẩu đang chạm ngưỡng do năng suất biên của vốn giảm dần. Ngoài ra, việc thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực chế biến, chế tạo hướng ra xuất khẩu cũng đang gặp thách thức lớn khi căng thẳng thương mại gia tăng trên toàn cầu. Các nước có xu hướng áp đặt thuế quan và các rào cản thương mại khiến những quốc gia có độ mở thương mại và đầu tư lớn như Việt Nam trở nên dễ bị tổn thương hơn. Ông có thể phân tích sâu hơn về những bất cập trong chính sách tài khóa và tiền tệ, cũng như hướng cải thiện? Khác với nhiều nền kinh tế trên thế giới, chính sách tiền tệ của Việt Nam đang phải “gánh” đa mục tiêu, cùng với kiểm soát lạm phát và ổn định giá trị tiền đồng, đôi khi chính sách này còn phải hỗ trợ tăng trưởng thông qua các kênh thúc đẩy/định hướng tín dụng và hỗ trợ lãi suất, thậm chí là “hỗ trợ” cho chính sách tài khóa trong việc phát hành trái phiếu chính phủ. Điều này dẫn đến thông điệp chính sách thiếu nhất quán, gây tâm lý bất an cho nhà đầu tư và người dân. Để cải thiện, theo tôi, cần tăng cường tính độc lập của Ngân hàng Nhà nước, được toàn quyền theo đuổi mục tiêu lạm phát (khoảng 3% - 4%) và ổn định tỷ giá mà không chịu chi phối từ các yêu cầu ngắn hạn của Chính phủ, như ưu tiên tăng trưởng tín dụng. Ngoài ra, việc can thiệp tiền tệ hiện nay còn mang nặng tính hành chính, đôi khi không tuân theo quy luật thị trường. Công cụ chính sách tiền tệ có tác động thực sự tới thị trường lại là “hạn mức tăng trưởng tín dụng” - mang nặng tính “xin - cho” giữa Ngân hàng Nhà nước với các tổ chức tín dụng. Chất lượng tín dụng và đích đến của dòng vốn còn chưa hiệu quả, tiến độ triển khai các chuẩn mực quốc tế về an toàn hệ thống ngân hàng còn chậm, nợ xấu có nguy cơ gia tăng và khó xử lý. Tất cả điều này tạo thêm thách thức cho việc nới lỏng chính sách tiền tệ để hỗ trợ tăng trưởng, nên cần những thay đổi và cải thiện hiệu quả hơn. Về chính sách tài khóa, sự bất hợp lý thể hiện ở cơ cấu chi, với chi thường xuyên chiếm tỷ trọng lớn, giải ngân đầu tư công chậm và tỷ lệ thu ngân sách/GDP đang ở mức khá cao. Điều này cho thấy, dư địa tài khóa dành cho hàng loạt các dự án đầu tư quy mô lớn là rất hạn chế, đòi hỏi phải có nguồn thu mới bền vững và tái cơ cấu chi tiêu hiệu quả hơn. Theo đó, Việt Nam cần thực hiện đồng thời nhiều giải pháp quan trọng, cần thu hẹp đáng kể chi thường xuyên của bộ máy nhà nước. Việc nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy, tinh giản biên chế và kiểm soát chặt chẽ các khoản chi kém hiệu quả sẽ tiết kiệm được một lượng vốn lớn, có thể tái phân bổ cho đầu tư phát triển hạ tầng. Việt Nam cần tích cực tìm kiếm các nguồn thu bền vững mới để thay thế một phần cho các nguồn thu truyền thống. Chẳng hạn, Việt Nam nên cân nhắc đánh thuế căn nhà thứ hai trở đi bởi nhiều lợi ích mà sắc thuế này có thể đem lại. Với xu hướng chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa vào xuất khẩu sang dẫn dắt bởi đầu tư công, ông nhận thấy đâu là những vấn đề còn gây thách thức? Việt Nam đang đặt mục tiêu tăng trưởng GDP cao, ít nhất là 8% cho năm 2025 và hai con số trong những năm tiếp theo, nhằm đưa nền kinh tế từ một nước thu nhập trung bình hiện nay trở thành một nước thu nhập cao vào năm 2045. Vì thế, Việt Nam đang có xu hướng chuyển sang mô hình tăng trưởng dẫn dắt bởi đầu tư công trong bối cảnh căng thẳng thương mại toàn cầu gia tăng. Tuy nhiên, điều này cần các chính sách đồng bộ để nâng cao hiệu quả chi tiêu công, thực hiện sự dịch chuyển hợp lý giữa các khoản chi và khai thác các nguồn thu mới bền vững thay thế cho các nguồn thu kém bền vững hoặc đang làm giảm động lực sản xuất và tiêu dùng. Nếu không làm được, việc tăng mạnh chi tiêu công rất dễ khiến nền kinh tế Việt Nam đối mặt với nguy cơ thâm hụt ngân sách cao, bất ổn vĩ mô và thậm chí rơi vào khủng hoảng. Thêm vào đó, với dư địa chính sách tiền tệ hạn chế và tỷ lệ tín dụng/GDP đã ở mức cao, việc cố gắng mở rộng tiền tệ để kích thích đầu tư có thể gây ra lạm phát và bong bóng giá tài sản, tạo áp lực lên tỷ giá hối đoái, khiến dòng vốn không đi vào sản xuất và làm suy yếu ổn định kinh tế vĩ mô. Do vậy, Việt Nam phải chọn lọc được các dự án đầu tư công một cách hiệu quả, chủ yếu là các dự án cơ sở hạ tầng trọng điểm, đồng thời cải thiện hệ thống giáo dục và đào tạo để nâng cao kỹ năng cho người lao động, đáp ứng nhu cầu của các ngành kinh tế đang phát triển và thu hút đầu tư nước ngoài chất lượng cao. Ngoài ra, Việt Nam cần khắc phục tình trạng giải ngân đầu tư công chậm, sử dụng chính sách thuế để khuyến khích phát triển công nghiệp phụ trợ để tăng tỷ lệ nội địa hóa, giảm phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu. Việt Nam cũng cần phải khuyến khích được khu vực tư nhân tham gia các dự án công - tư (PPP) để tận dụng hiệu quả quản lý và công nghệ của họ. Trong các định hướng về phát triển kinh tế bền vững, ông đánh giá thế nào về vai trò của khu vực tư nhân? Khu vực tư nhân Việt Nam đang đóng góp một tỷ trọng lớn trong GDP, thu ngân sách nhà nước, cũng như sử dụng lao động, nhưng tiềm năng còn lớn hơn nhiều. Tuy nhiên, khu vực này còn gặp không ít khó khăn, chẳng hạn như khó tiếp cận vốn, thiếu liên kết với doanh nghiệp FDI, môi trường kinh doanh còn nhiều bất cập… Vừa qua, Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã ban hành các nghị quyết về phát triển kinh tế tư nhân, với việc xác định đây là lực lượng quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia, góp phần xóa đói, giảm nghèo, ổn định đời sống xã hội. Vì thế, các cơ quan liên quan cần chuyển các nghị quyết thành hành động cụ thể, bằng các văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn cụ thể để các doanh nghiệp tư nhân được hưởng thụ, đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế. Cũng về doanh nghiệp, hiện nước ta đang duy trì một số lượng lớn doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong nhiều lĩnh vực, kể cả những ngành mà sự tham gia của Nhà nước là không cần thiết. Thực trạng này đặt ra nhiều thách thức khi nhiều doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả, gây lãng phí nguồn lực quốc gia. Đã đến lúc Việt Nam cần mạnh dạn thoái vốn khỏi các doanh nghiệp nhà nước không hiệu quả, không cần thiết, để dành nguồn lực đầu tư vào các dự án trọng điểm quốc gia mang tính động lực, có khả năng tạo ra giá trị kinh tế và xã hội cao hơn. Bên cạnh đó, nguồn thu từ việc thoái vốn cũng có thể được sử dụng để tham gia cùng các doanh nghiệp tư nhân vào các dự án trọng điểm thông qua hợp tác công - tư (PPP). Làm thế nào để thu hẹp khoảng cách giữa chủ trương và thực thi chính sách nhằm đảm bảo các giải pháp kinh tế vĩ mô được triển khai hiệu quả, thưa ông? Khoảng cách giữa chủ trương và thực thi là nhược điểm lâu nay của Việt Nam. Chủ trương thì đúng, nhưng khi triển khai cụ thể thì thiếu sự chặt chẽ, thiếu đồng bộ. Nhiều chính sách đưa ra rất hợp lý nhưng khi thực hiện lại gặp nhiều vướng mắc, dẫn đến hiệu lực không cao. Do vậy, điều cần thiết bây giờ là tập trung tháo gỡ những nút thắt trong quá trình thực thi để chính sách thực sự đi vào cuộc sống, thay vì chỉ dừng lại trên giấy tờ hay trong các văn bản chỉ đạo. Việc thực thi cần được theo dõi sát sao hơn, đó là cần có một bộ phận chuyên trách để giám sát, phản ứng nhanh, tiếp nhận thông tin phản ánh từ doanh nghiệp và người dân. Các phản ánh này phải được tổng hợp định kỳ, để nắm bắt kịp thời những vướng mắc, rủi ro trong quá trình triển khai. Trên cơ sở đó, Nhà nước cần đưa ra phản ứng chính sách nhanh chóng, kịp thời, đồng thời giao nhiệm vụ cụ thể cho từng cơ quan, từng bộ phận có trách nhiệm giải quyết. Cùng với đó là cần đẩy mạnh cải cách thể chế, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng cường tính minh bạch, dễ dự đoán của chính sách để doanh nghiệp an tâm đầu tư dài hạn. Trân trọng cảm ơn những chia sẻ của ông! Hương Dịu (thực hiện) (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, tháng 6/2025)

Sửa toàn diện Luật Quy hoạch để đáp ứng nhu cầu phát triển mới

GS.TS Hoàng Văn Cường, đại biểu Quốc hội khoá 15, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng sau hơn 7 năm thực thi, Luật Quy hoạch năm 2017 (có hiệu lực từ đầu năm 2019) đã mang lại nhiều kết quả tích cực song cũng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất cập trong triển khai. Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu để sửa đổi toàn diện Luật tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa 15 vào tháng 10/2025 là cần thiết để đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới. GS.TS Hoàng Văn Cường, đại biểu Quốc hội khoá XV, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Ông đánh giá như thế nào về việc thực hiện Luật Quy hoạch năm 2017? Phải khẳng định rằng Luật Quy hoạch ra đời là bước ngoặt quan trọng trong công tác quy hoạch của Việt Nam với điểm mấu chốt là xóa bỏ tình trạng TAÏP CHÍ NGHIEÂN CÖÙU KHOA HOÏC KIEÅM TOAÙN Số 213 | tháng 7/2025 | 59 quy hoạch trở thành “lãnh địa riêng”, thiếu sự liên thông, thậm chí là rào cản của quá trình phát triển của từng ngành, lĩnh vực. Luật Quy hoạch năm 2017 đặt yêu cầu về viêc lập quy hoạch tích hợp, bắt buộc các ngành, lĩnh vực phải phối hợp, liên kết với nhau để lập quy hoạch. Nhờ đó, số lượng quy hoạch từ cấp thấp đến cấp cao giảm đến 97%. Ở mỗi cấp điều hành chỉ có một quy hoạch duy nhất. Đây là bước tiến quan trọng, tạo ra bức tranh tổng thể, đồng bộ về quy hoạch. Luật Quy hoạch năm 2017 hướng tới mục tiêu xây dựng hệ thống quy hoạch quốc gia thống nhất, đồng bộ, đa ngành và liên kết vùng. Đây là một trong những đạo luật then chốt để thể chế hóa các chiến lược phát triển và điều phối không gian quốc gia một cách hiệu quả. Trước khi Luật Quy hoạch ra đời, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định về lập, thẩm định, phê duyệt và tổ chức thực hiện quy hoạch gồm có 53 luật, 07 pháp lệnh, 62 nghị định (không kể các văn bản luật, pháp lệnh và nghị định được điều chỉnh, bổ sung), ngoài ra còn có một số luật, pháp lệnh và nghị định có quy định về chấp hành, thực hiện theo quy hoạch. Luật Quy hoạch năm 2017 đã tạo dựng hệ thống quy hoạch quốc gia thống nhất, góp phần thay đổi cơ bản tư duy, phương pháp và nội dung hoạt động quy hoạch theo hướng phù hợp hơn với kinh tế thị trường và thông lệ quốc tế, gắn kết chặt chẽ hơn chu trình chiến lược - quy hoạch - kế hoạch - đầu tư, tăng cường sự liên kết phát triển, đặc biệt là liên kết vùng, thúc đẩy các mục tiêu phát triển đất nước. Theo ông, đâu là những điểm hạn chế, bất cập trong quá trình triển khai Luật Quy hoạch? Qua nhiều năm triển khai Luật Quy hoạch, công tác quy hoạch ngày càng đóng vai trò quan trọng, giúp Nhà nước hoạch định, kiến tạo các động lực phát triển mới; không gian phát triển quốc gia từng bước được tổ chức hiệu quả, thống nhất trên quy mô toàn quốc. Việc triển khai công tác quy hoạch theo cách tiếp cận tổng hợp, đa ngành đã có sự thay đổi rõ rệt về tư duy, nhận thức và hành động của các ngành, các địa phương theo hướng chủ động phối hợp trong quá trình lập quy hoạch và tăng cường liên kết phát triển. Tuy nhiên, do lần đầu tiên triển khai Luật Quy hoạch với các nội dung mới nên vẫn còn nhiều điểm chưa đạt được đồng thuận, thiếu sự đồng bộ trong thực thi. Trong quá trình triển khai Luật Quy hoạch, nhiều địa phương, bộ, ngành đã gặp không ít vướng mắc do các quy định còn chưa rõ ràng, thiếu tính liên kết giữa các loại quy hoạch, hoặc chưa có cơ chế xử lý hiệu quả khi phát sinh xung đột giữa các quy hoạch cùng cấp hoặc khác cấp. Bên cạnh đó, một số nội dung chưa được quy định cụ thể, một số nội dung không còn phù hợp với giai đoạn phát triển mới nên cần sửa đổi để tạo sự thống nhất và hiệu quả trong triển khai. Để Luật Quy hoạch (sửa đổi) phát huy tốt hiệu quả trong công tác quy hoạch đất nước, cần sửa đổi những điểm nào, thưa ông? Yếu tố quan trọng trước hết là làm rõ nội dung về quy hoạch tích hợp với yêu cầu về tính đồng bộ. Theo đó, có thể thực hiện quy hoạch tích hợp theo quy trình là quy hoạch cấp trên mang tính định hướng với các chỉ tiêu cụ thể, sau đó cấp dưới cụ thể hóa định hướng đó và đề xuất điều chỉnh những điểm chưa hợp lý (nếu có). Sau đó, cấp trên tổng hợp, tiếp thu và ấn định để cấp dưới triển khai. Cách làm này sẽ giải quyết tình trạng mâu thuẫn giữa các quy hoạch và có thể phê duyệt đồng thời hoặc lần lượt các quy hoạch. Bên cạnh đó, Luật Quy hoạch (sửa đổi) cần thể hiện rõ tính phân tầng trong quy hoạch giữa quy hoạch quốc gia và quy hoạch chuyên ngành theo hướng khẳng định “hệ thống quy hoạch quốc gia là định hướng chung, quy hoạch ngành được thực hiện theo định hướng quy hoạch quốc gia”. Tư vấn quy hoạch cũng là vấn đề cần quy định rõ tại Luật sửa đổi. Theo đó, để quy hoạch phát huy tiềm năng của vùng, lĩnh vực theo tầm nhìn dài hạn hàng chục, hàng trăm năm thì quy hoạch cần được thực hiện bởi nhân sự và đơn vị tư vấn có chuyên môn sâu và tầm nhìn chiến lược. Việc huy động được các đơn vị tư vấn chuyên nghiệp thực hiện quy hoạch còn giúp tránh được tình trạng quy hoạch trở thành ý chí của những nhà lãnh đạo đương thời, dẫn đến tư duy nhiệm kỳ trong quy hoạch. Để làm được điều đó thì cơ quan tư vấn quy hoạch phải là đơn vị chuyên môn độc lập, lập quy hoạch dựa trên cơ sở khoa học, tính toán phân bổ nguồn lực theo định hướng phát triển hiệu quả và bền vững. Một điểm đáng lưu ý khác là quy hoạch ở cấp dưới phải được cấp trên phê duyệt để tạo sự thống nhất, đồng bộ và có tính liên kết giữa các quy hoạch. Chẳng hạn, quy hoạch tỉnh thì cần được Thủ tướng phê duyệt hoặc Thủ tướng ủy quyền cho một cơ quan có góc nhìn tổng thể để phê duyệt. Tuy nhiên, kế hoạch triển khai quy hoạch phải được phân cấp cho địa phương phê duyệt và thực hiện. Ở khía cạnh khác, cần đưa định hướng ưu tiên đầu tư trong quy hoạch thay cho danh mục dự án ưu tiên. Bởi lẽ, danh mục dự án ưu tiên là liệt kê dự án với quy mô, tính chất, điều kiện cụ thể nên không đảm bảo tầm nhìn tổng quát. Thay vào đó, việc đưa ra định hướng ưu tiên tại Luật sẽ có tính định hướng cho việc triển khai thành nhiều dự án cụ thể. Xin cảm ơn ông! Hà My (thực hiện) (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, tháng 7/2025)

Muốn tăng trưởng hai con số, không thể tiếp tục đi trên con đường cũ

Mục tiêu tăng trưởng GDP 10% trong năm 2026 đang trở thành tâm điểm của các cuộc thảo luận chính sách, khi Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng tốc nhưng không được đánh đổi ổn định vĩ mô. Trong bối cảnh các động lực tăng trưởng truyền thống dần thu hẹp, bài toán đặt ra không chỉ là “làm thế nào để đạt con số hai chữ số”, mà quan trọng hơn là tăng trưởng bằng cách nào để bền vững và an toàn. Phóng viên chúng tôi đã có cuộc trao đổi với TS. Lê Xuân Nghĩa, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tiền tệ Quốc gia, xung quanh chủ đề này. Thưa TS. Lê Xuân Nghĩa, năm 2025 dự kiến khép lại với mức tăng trưởng 8%. Bước sang năm 2026, Chính phủ đặt mục tiêu đầy thách thức là 10%. Dưới góc nhìn chuyên gia, ông đánh giá thế nào mục tiêu này? Phải thẳng thắn rằng, mục tiêu 10% là cực kỳ thách thức, nếu không muốn nói là “ngưỡng cửa” rất cao đối với một nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam. Chúng ta có một nghịch lý: năm 2025 đạt 8% là một nền tảng tăng trưởng cao, nhưng chính con số này lại khiến dư địa cho năm sau trở nên hạn hẹp. Động lực chính của năm 2025 dựa nhiều vào xuất khẩu với mức tăng khoảng 16%. Tuy nhiên, khả năng duy trì đà tăng này trong năm 2026 là không lớn khi nhu cầu thế giới đang có dấu hiệu bão hòa và các rào cản thương mại gia tăng. Chúng ta đã khai thác gần như cạn kiệt năng lực xuất khẩu truyền thống. Trong khi đó, các động lực tăng trưởng mới vẫn chưa đóng góp thực sự rõ nét vào GDP. Vì vậy, để tăng trưởng hai con số, chúng ta không thể tiếp tục đi trên con đường cũ. Vậy ông đề xuất chúng ta nên bắt đầu thay đổi từ đâu? Tôi đề xuất 3 nhóm vấn đề trọng tâm. Đầu tiên và quan trọng nhất là đổi mới mô hình phát triển theo hướng bao trùm và bền vững hơn. Đã đến lúc không thể chỉ nhìn vào “lượng” mà phải hài hòa giữa kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường. Tôi đặc biệt nhấn mạnh mô hình 3I (Investment - Innovation - Integration) mà Ngân hàng Thế giới khuyến nghị. Đó là: Đầu tư, Tiếp nhận và hấp thụ công nghệ và Đổi mới sáng tạo. Sai lầm của nhiều nền kinh tế là triển khai tuần tự. Việt Nam nên thực hiện đồng thời cả 3 trụ cột này. Chúng ta cần vốn, nhưng phải là vốn đi kèm công nghệ và từ công nghệ đó phải thúc đẩy được sự tự chủ đổi mới sáng tạo trong nước. Có một chỉ số mà các chuyên gia thường nhắc đến là năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP). Ông đánh giá thế nào về khả năng nâng tỉ trọng TFP lên trên 50% như mục tiêu nhiệm kỳ tới? Đây là một mục tiêu rất tham vọng. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, ở các nền kinh tế tăng trưởng thần kỳ, vốn đóng góp 40% - 50%, lao động 6% - 10%, còn TFP chiếm tới 35% - 50%. Nhiệm kỳ qua, vốn của chúng ta vẫn chiếm tới 50%, trong khi TFP đạt khoảng 42.% - 44%. Nâng TFP lên trên 50% trong bối cảnh kinh tế toàn cầu chậm lại là bài toán khó bậc nhất. Chúng ta đặt mục tiêu tăng trưởng nhiệm kỳ mới gấp 1,8 lần nhiệm kỳ trước, nghĩa là năng suất lao động và hàm lượng khoa học công nghệ phải tăng trưởng đột phá. Muốn vậy, phải đo lường và lượng hóa được kinh tế số, kinh tế AI và kinh tế dữ liệu. Hiện nay, chúng ta vẫn còn tranh luận nhiều về cách tính, nhưng nếu không định hình rõ ràng, chúng ta sẽ không biết mình đang đứng ở đâu để mà bứt phá. Ông thường nhắc đến việc củng cố niềm tin cho doanh nghiệp nội địa. Phải chăng đây là “gót chân Achilles” của chúng ta hiện nay? Đúng vậy. Khu vực hộ kinh doanh và doanh nghiệp tư nhân đóng góp tỷ trọng lớn nhất cho tăng trưởng nhưng đang gặp khó khăn chồng chất. Họ đang bị bủa vây bởi các thủ tục hành chính và sự lo ngại về chính sách. Tôi kiến nghị cần có hướng dẫn rõ ràng về việc áp dụng thuế kê khai, đặc biệt là tuyệt đối không hồi tố chính sách. Khi niềm tin bị ảnh hưởng, người dân sẽ dè dặt trong kinh doanh và tiêu dùng. Sức mua yếu hiện nay chính là tấm gương phản chiếu sức lực hạn chế của nền kinh tế. Nếu không kích cầu tiêu dùng nội địa hiệu quả, doanh nghiệp nội sẽ tiếp tục “hụt hơi”. Bên cạnh đó, môi trường đầu tư cần được cải thiện thực chất. Chúng ta nói nhiều về cắt giảm thủ tục nhưng doanh nghiệp vẫn than phiền. Phải triển khai hiệu quả các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị và các luật mới, biến những văn bản trên giấy thành đòn bẩy thực tế ngay từ quý I/2026. Nguồn vốn cho mục tiêu tăng trưởng 10% sẽ lấy từ đâu, thưa ông, khi dư địa tín dụng ngân hàng đã quá tải? Đây là vấn đề cốt tử. Hiện nay, cơ cấu vốn của chúng ta phụ thuộc quá lớn vào ngân hàng. Để tăng trưởng bền vững, cần tăng mạnh vai trò của thị trường chứng khoán, giảm dần sự lệ thuộc vào tín dụng. Đặc biệt, tôi muốn nhấn mạnh đến vai trò của đầu tư nước ngoài (FDI) trong các lĩnh vực trọng điểm như năng lượng. Nhu cầu vốn cho năng lượng mỗi năm lên tới hàng chục tỷ USD. Nếu chỉ trông chờ vào nguồn lực trong nước thì chắc chắn thất bại. Chúng ta cần cơ chế thông thoáng để thu hút FDI vào năng lượng, nếu không, nguy cơ thiếu hụt điện trong thập kỷ tới sẽ trở thành vật cản lớn nhất cho mọi mục tiêu tăng trưởng. Ngoài ra, cần xem xét lại một số chính sách, ví dụ như việc đưa lãi suất tiền gửi USD về 0% để chống đô la hóa. Việc này đang khiến chúng ta bỏ lỡ một nguồn vốn ngoại tệ quan trọng trong khi doanh nghiệp đang khát vốn. Chúng ta cũng nên cho phép doanh nghiệp Việt vay vốn nước ngoài với cơ chế phù hợp hơn để tận dụng nguồn lực toàn cầu. Nhiều người nhắc đến nút thắt trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp đang ảnh hưởng đến đầu tư công. Ông có quan điểm thế nào? Hiện nay, chúng ta đang gặp ách tắc nhất định khi khoảng 65% dự án đầu tư công nằm ở cấp huyện. Việc thực hiện mô hình mới nhưng chưa có sự chuyển giao thẩm quyền và hướng dẫn quyết liệt đã khiến nhiều dự án không thể giải ngân. Những vướng mắc này cần được chỉ đạo xử lý ngay, không thể để đầu tư công - “vốn mồi” của nền kinh tế bị đình trệ. Cuối cùng, trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, ông có lời khuyên gì về việc gắn kết tăng trưởng với quản trị rủi ro? Chúng ta cần thay đổi tư duy từ “phục hồi sau thiên tai” sang phòng ngừa và quản trị rủi ro chủ động. Hãy coi quản trị rủi ro thiên tai là một phần không thể tách rời của quy hoạch và đầu tư phát triển. Xây dựng niềm tin là chìa khóa. Tỉ lệ tiết kiệm của người dân Việt Nam rất cao (36% - 37% GDP), nhưng họ không dám tiêu dùng, không dám đầu tư vì lo ngại rủi ro và thiếu niềm tin vào tương lai. Khơi thông được nguồn lực khổng lồ đang nằm trong túi người dân chính là giải pháp tăng trưởng rẻ nhất và hiệu quả nhất. Để đạt được 10% GDP vào năm 2026, chúng ta cần một cuộc cách mạng về tư duy quản trị và sự quyết liệt trong hành động, chứ không chỉ là những kế hoạch nằm trên bàn giấy. Xin trân trọng cảm ơn ông! Anh Duy (thực hiện) (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán - số tháng 1/2026)