Mục tiêu tăng trưởng GDP 10% trong năm 2026 đang trở thành tâm điểm của các cuộc thảo luận chính sách, khi Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng tốc nhưng không được đánh đổi ổn định vĩ mô. Trong bối cảnh các động lực tăng trưởng truyền thống dần thu hẹp, bài toán đặt ra không chỉ là “làm thế nào để đạt con số hai chữ số”, mà quan trọng hơn là tăng trưởng bằng cách nào để bền vững và an toàn. Phóng viên chúng tôi đã có cuộc trao đổi với TS. Lê Xuân Nghĩa, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tiền tệ Quốc gia, xung quanh chủ đề này.
Thưa TS. Lê Xuân Nghĩa, năm 2025 dự kiến khép lại với mức tăng trưởng 8%. Bước sang năm 2026, Chính phủ đặt mục tiêu đầy thách thức là 10%. Dưới góc nhìn chuyên gia, ông đánh giá thế nào mục tiêu này?
Phải thẳng thắn rằng, mục tiêu 10% là cực kỳ thách thức, nếu không muốn nói là “ngưỡng cửa” rất cao đối với một nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam. Chúng ta có một nghịch lý: năm 2025 đạt 8% là một nền tảng tăng trưởng cao, nhưng chính con số này lại khiến dư địa cho năm sau trở nên hạn hẹp.
Động lực chính của năm 2025 dựa nhiều vào xuất khẩu với mức tăng khoảng 16%. Tuy nhiên, khả năng duy trì đà tăng này trong năm 2026 là không lớn khi nhu cầu thế giới đang có dấu hiệu bão hòa và các rào cản thương mại gia tăng. Chúng ta đã khai thác gần như cạn kiệt năng lực xuất khẩu truyền thống. Trong khi đó, các động lực tăng trưởng mới vẫn chưa đóng góp thực sự rõ nét vào GDP. Vì vậy, để tăng trưởng hai con số, chúng ta không thể tiếp tục đi trên con đường cũ.
Vậy ông đề xuất chúng ta nên bắt đầu thay đổi từ đâu?
Tôi đề xuất 3 nhóm vấn đề trọng tâm. Đầu tiên và quan trọng nhất là đổi mới mô hình phát triển theo hướng bao trùm và bền vững hơn. Đã đến lúc không thể chỉ nhìn vào “lượng” mà phải hài hòa giữa kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường.
Tôi đặc biệt nhấn mạnh mô hình 3I (Investment - Innovation - Integration) mà Ngân hàng Thế giới khuyến nghị. Đó là: Đầu tư, Tiếp nhận và hấp thụ công nghệ và Đổi mới sáng tạo. Sai lầm của nhiều nền kinh tế là triển khai tuần tự. Việt Nam nên thực hiện đồng thời cả 3 trụ cột này. Chúng ta cần vốn, nhưng phải là vốn đi kèm công nghệ và từ công nghệ đó phải thúc đẩy được sự tự chủ đổi mới sáng tạo trong nước.
Có một chỉ số mà các chuyên gia thường nhắc đến là năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP). Ông đánh giá thế nào về khả năng nâng tỉ trọng TFP lên trên 50% như mục tiêu nhiệm kỳ tới?
Đây là một mục tiêu rất tham vọng. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, ở các nền kinh tế tăng trưởng thần kỳ, vốn đóng góp 40% - 50%, lao động 6% - 10%, còn TFP chiếm tới 35% - 50%. Nhiệm kỳ qua, vốn của chúng ta vẫn chiếm tới 50%, trong khi TFP đạt khoảng 42.% - 44%.
Nâng TFP lên trên 50% trong bối cảnh kinh tế toàn cầu chậm lại là bài toán khó bậc nhất. Chúng ta đặt mục tiêu tăng trưởng nhiệm kỳ mới gấp 1,8 lần nhiệm kỳ trước, nghĩa là năng suất lao động và hàm lượng khoa học công nghệ phải tăng trưởng đột phá. Muốn vậy, phải đo lường và lượng hóa được kinh tế số, kinh tế AI và kinh tế dữ liệu. Hiện nay, chúng ta vẫn còn tranh luận nhiều về cách tính, nhưng nếu không định hình rõ ràng, chúng ta sẽ không biết mình đang đứng ở đâu để mà bứt phá.
Ông thường nhắc đến việc củng cố niềm tin cho doanh nghiệp nội địa. Phải chăng đây là “gót chân Achilles” của chúng ta hiện nay?
Đúng vậy. Khu vực hộ kinh doanh và doanh nghiệp tư nhân đóng góp tỷ trọng lớn nhất cho tăng trưởng nhưng đang gặp khó khăn chồng chất. Họ đang bị bủa vây bởi các thủ tục hành chính và sự lo ngại về chính sách. Tôi kiến nghị cần có hướng dẫn rõ ràng về việc áp dụng thuế kê khai, đặc biệt là tuyệt đối không hồi tố chính sách. Khi niềm tin bị ảnh hưởng, người dân sẽ dè dặt trong kinh doanh và tiêu dùng. Sức mua yếu hiện nay chính là tấm gương phản chiếu sức lực hạn chế của nền kinh tế. Nếu không kích cầu tiêu dùng nội địa hiệu quả, doanh nghiệp nội sẽ tiếp tục “hụt hơi”.
Bên cạnh đó, môi trường đầu tư cần được cải thiện thực chất. Chúng ta nói nhiều về cắt giảm thủ tục nhưng doanh nghiệp vẫn than phiền. Phải triển khai hiệu quả các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị và các luật mới, biến những văn bản trên giấy thành đòn bẩy thực tế ngay từ quý I/2026.
Nguồn vốn cho mục tiêu tăng trưởng 10% sẽ lấy từ đâu, thưa ông, khi dư địa tín dụng ngân hàng đã quá tải?
Đây là vấn đề cốt tử. Hiện nay, cơ cấu vốn của chúng ta phụ thuộc quá lớn vào ngân hàng. Để tăng trưởng bền vững, cần tăng mạnh vai trò của thị trường chứng khoán, giảm dần sự lệ thuộc vào tín dụng.
Đặc biệt, tôi muốn nhấn mạnh đến vai trò của đầu tư nước ngoài (FDI) trong các lĩnh vực trọng điểm như năng lượng. Nhu cầu vốn cho năng lượng mỗi năm lên tới hàng chục tỷ USD. Nếu chỉ trông chờ vào nguồn lực trong nước thì chắc chắn thất bại. Chúng ta cần cơ chế thông thoáng để thu hút FDI vào năng lượng, nếu không, nguy cơ thiếu hụt điện trong thập kỷ tới sẽ trở thành vật cản lớn nhất cho mọi mục tiêu tăng trưởng.
Ngoài ra, cần xem xét lại một số chính sách, ví dụ như việc đưa lãi suất tiền gửi USD về 0% để chống đô la hóa. Việc này đang khiến chúng ta bỏ lỡ một nguồn vốn ngoại tệ quan trọng trong khi doanh nghiệp đang khát vốn. Chúng ta cũng nên cho phép doanh nghiệp Việt vay vốn nước ngoài với cơ chế phù hợp hơn để tận dụng nguồn lực toàn cầu.
Nhiều người nhắc đến nút thắt trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp đang ảnh hưởng đến đầu tư công. Ông có quan điểm thế nào?
Hiện nay, chúng ta đang gặp ách tắc nhất định khi khoảng 65% dự án đầu tư công nằm ở cấp huyện. Việc thực hiện mô hình mới nhưng chưa có sự chuyển giao thẩm quyền và hướng dẫn quyết liệt đã khiến nhiều dự án không thể giải ngân. Những vướng mắc này cần được chỉ đạo xử lý ngay, không thể để đầu tư công - “vốn mồi” của nền kinh tế bị đình trệ.
Cuối cùng, trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, ông có lời khuyên gì về việc gắn kết tăng trưởng với quản trị rủi ro?
Chúng ta cần thay đổi tư duy từ “phục hồi sau thiên tai” sang phòng ngừa và quản trị rủi ro chủ động. Hãy coi quản trị rủi ro thiên tai là một phần không thể tách rời của quy hoạch và đầu tư phát triển. Xây dựng niềm tin là chìa khóa. Tỉ lệ tiết kiệm của người dân Việt Nam rất cao (36% - 37% GDP), nhưng họ không dám tiêu dùng, không dám đầu tư vì lo ngại rủi ro và thiếu niềm tin vào tương lai. Khơi thông được nguồn lực khổng lồ đang nằm trong túi người dân chính là giải pháp tăng trưởng rẻ nhất và hiệu quả nhất. Để đạt được 10% GDP vào năm 2026, chúng ta cần một cuộc cách mạng về tư duy quản trị và sự quyết liệt trong hành động, chứ không chỉ là những kế hoạch nằm trên bàn giấy.
Xin trân trọng cảm ơn ông!
Anh Duy (thực hiện)
(Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán - số tháng 1/2026)