Chế độ kế toán (CĐKT) áp dụng tại Tổng Cty xăng dầu Việt Nam (TCty) được xây dựng trên nguyên tắc tuân thủ CĐKT doanh nghiệp của Bộ Tài chính, đồng thời kế thừa các CĐKT đặc thù của TCty ban hành trước đây. CĐKT của TCty được Bộ tài chính chấp thuận trước khi ban hành và áp dụng cho Văn phòng TCty, các Công ty (Cty) Xăng dầu trực thuộc, Cty Cổ phần Petrolimex, Cty Liên doanh, liên kết với TCty.

Hệ thống tài khoản kế toán:

Hệ thống tài khoản (TK) kế toán của TCty được xây dựng trên cơ sở  CĐKT doanh nghiệp. Các TK cấp 1 được TCty ban hành tuân thủ theo CĐKT hiện hành, các TK cấp 2, cấp 3 được quy định phù hợp với đặc điểm quản lý ngành hàng và cơ chế điều hành kinh doanh của toàn ngành.

Xăng dầu là mặt hàng được cung cấp cho đời sống dân cư thông qua các cửa hàng bán lẻ, cung cấp cho sản xuất công nghiệp và xuất khẩu nên  nhóm TK nợ phải thu được quy định chi tiết đồng thời theo đối tượng khách hàng và theo phương thức bán hàng của ngành xăng dầu như phải thu của khách hàng mua buôn, khách hàng tổng đại lý và đại lý, khách hàng tái xuất, phải thu của cửa hàng trực thuộc và khách hàng mua lẻ.

Nhóm TK hàng tồn kho như hàng mua đang đi đường, hàng hóa, hàng gửi bán, dự phòng giảm giá hàng tồn kho… được xây dựng nhằm quản lý các ngành hàng mà TCty đang kinh doanh, do vậy TK cấp 2 được xây dựng theo những mặt hàng chính như xăng dầu; dầu mỡ nhờn; hóa chất, dung môi; gas, bếp gas và phụ kiện…Riêng nhóm TK là hàng hóa được tổ chức chi tiết thêm TK cấp 3 để theo dõi giá hạch toán và chênh lêch giá gốc và giá hạch toán đồng thời kế toán theo dõi chi tiết theo mã nguồn hàng, kho hàng, mặt hàng áp dụng thống nhất toàn TCty.

Để phù hợp với loại hình kinh doanh gas, vỏ bình gas được giao cho khách hàng theo hình thức bán khí gas đổi vỏ và đặt cược tiền mượn vỏ bình nên TCty mở thêm các TK chi phí trả trước vỏ bình gas trong danh mục tài sản

Các khoản phải thu, phải trả nội bộ về hàng hóa, vốn kinh doanh, vốn đầu tư xây dựng cơ bản cũng được tổ chức theo phạm vi phát sinh như nội bộ TCty, nội bộ Cty và các đơn vị trực thuộc

Xăng dầu là mặt hàng kinh doanh chịu lệ phí giao thông, các Cty xăng dầu trước khi bán hàng ra thị trường có trách nhiệm  thu, nộp khoản lệ phí này cho Nhà nước nên TK phải trả ngân sách được quy định chi tiết thêm TK phí, lệ phí.

Nhóm TK về doanh thu, giá vốn, xác định kết quả kinh doanh được xây dựng không chi tiết theo mặt hàng, ngành hàng như nhóm TK về hàng hóa mà được xây dựng theo phạm vi cung cấp hàng hóa ra thị trường hoặc nội bộ ngành, đồng thời chi tiết theo mã loại hình kinh doanh và theo đối tượng khách hàng. Do đặc điểm mặt hàng xăng dầu là một loại nhiên liệu ở dạng lỏng, rất dễ xảy ra bay hơi, mất mát trong quá trình vận chuyển, bảo quản, bơm rót…nên TK về giá vốn được xây dựng chi tiết thêm để quản lý các khoản hao hụt, mất mát hàng hóa, thành phẩm theo loại hình kinh doanh.

Do đặc điểm tổ chức kinh doanh của TCty, Văn phòng TCty là đầu mối duy nhất chịu trách nhiệm tạo nguồn hàng hóa xăng dầu thông qua nhập khẩu, hoặc khai thác từ các nguồn khác và giao hàng cho các đơn vị bán ra theo phương thức bán nội bộ. Tại các Cty xăng dầu, Văn phòng Cty, Chi nhánh, Xí nghiệp, đơn vị trực thuộc và hệ thống cửa hàng bán lẻ thực hiện nhiệm vụ bán hàng cho các đối tượng tiêu dùng. Chi phí phát sinh tại các đơn vị chủ yếu là chi phí để thực hiện nhiệm vụ bán hàng, do vậy TCty qui định các Cty xăng dầu tập hợp chung chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp thành: “Chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp”, sử dụng TK 641 "Chi phí bán hàng" để hạch toán các nghiệp vụ phát sinh,  không sử dụng Tài khoản 642 "Chi phí quản lý doanh nghiệp"

Hiện nay, ngoài chức năng kinh doanh xăng dầu đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế, các Cty xăng dầu còn được giao nhiệm vụ chứa hàng xăng dầu dự trữ quốc gia nhằm đảm bảo cho nhu cầu an ninh quốc phòng nên tài sản ngoài bảng được mở chi tiết nhằm theo dõi hàng dự trữ quốc gia.

Hệ thống chứng từ kế toán:

Về cơ bản, hệ thống chứng từ của TCty xăng dầu Việt Nam tuân thủ theo CĐKT  hiện hành. Hệ thống chứng từ bao gồm loại chứng từ tuân thủ theo mẫu bắt buộc của Bộ Tài chính như hóa đơn tài chính, phiếu thu, phiếu chi, phiếu nhập kho, phiếu xuất kho…và loại chứng từ mang tính chất hướng dẫn như các loại bảng kê, bảng tính, bảng khoán, báo cáo… Ngoài danh mục chứng từ theo qui định của CĐKT, TCty qui định sử dụng phiếu kế toán trong các trường hợp hạch toán bổ sung,  các bút toán kết chuyển, hạch toán các khoản trích lập dự phòng, phân phối lợi nhuận….Phiếu kế toán là chứng từ kế toán được lập để nhằm diễn giải chi tiết cho một hoặc một số nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh, hoặc tổng hợp từ một số nghiệp vụ có cùng tính chất chưa được thể hiện trên các loại chứng từ kế toán khác.

Hầu hết các loại chứng từ áp dụng tại TCty đều được thiết kế mẫu trên phần mềm kế toán áp dụng thống nhất toàn ngành. Ngoài việc lưu trữ chứng từ trên máy vi tính, chứng từ còn được quy định in ấn, bảo quản và lưu trữ theo quy định.

Hệ thống sổ kế toán

Các đơn vị phải thực hiện các qui định về sổ kế toán trong Luật Kế toán, các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Kế toán,  CĐKT  doanh nghiệp hiện hành và các qui định của  CĐKT  áp dụng tại Tổng Cty xăng dầu Việt Nam. Tổng Cty qui định thống nhất sử dụng hình thức Kế toán trên máy vi tính. Tất cả các đơn vị phải mở hệ thống sổ kế toán tổng hợp để phản ánh các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh liên quan. Tùy theo điều kiện cụ thể để sử dụng hệ thống sổ kế toán tổng hợp theo một trong hai hình thức sổ kế toán nhật ký chung hoặc hình thức nhật ký chứng từ.

Căn cứ vào yêu cầu quản lý cụ thể, đơn vị tổ chức hệ thống sổ,  thẻ kế toán chi tiết nhưng phải đảm bảo yêu cầu theo dõi chi tiết bao gồm: kế toán vốn bằng tiền, hàng tồn kho, công nợ, các khoản đầu tư, TSCĐ, kết quả kinh doanh, nguồn vốn, quỹ.

Hệ thống báo cáo kế toán

Hệ thống báo cáo của TCty được xây dựng khá hoàn chỉnh nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý SXKD bao gồm ba hệ thống báo cáo chính là: Hệ thống  BCTC  (BCTC), hệ thống báo cáo quản trị (BCQT) và hệ thống báo cáo kiểm kê (BCKK).

Hệ thống  BCTC  được các đơn vị lập theo năm, ngoài ra các Cty xăng dầu trực thuộc còn phải lập báo cáo giữa niên độ. Đơn vị cấp trên có các đơn vị kế toán trực thuộc ngoài việc lập  BCTC  của đơn vị còn phải lập  BCTC  tổng hợp. Tcty, Các Cty, đơn vị có hoạt động đầu tư vào Cty con phải lập  BCTC  hợp nhất vào cuối kỳ kế toán năm. Hệ thống  BCTC  của Tcty được xây dựng phù hợp với  CĐKT  hiện hành, trong đó:

 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (LCTT) được áp dụng thống nhất toàn TCty theo mẫu "Báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo phương pháp trực tiếp". Ngoài ra, để phục vụ cho lập  BCTC  tổng hợp các Cty xăng dầu còn phải lập thêm phụ biểu “Các khoản LCTT nội bộ ngành ”.

Bản thuyết minh  BCTC  giữa niên độ được điều chỉnh một số nội dung để phù hợp với yêu cầu tổng hợp báo cáo và thuận lợi cho việc kế toán trên máy vi tính, đồng thời cung cấp thêm một số thông tin có tính chất quản trị nhằm làm rõ hơn các chỉ tiêu được phản ánh trên  BCTC , chẳng hạn: Bổ sung chi tiết cho các chỉ tiêu về tiền mặt, tiền gửi, tiền đang chuyển gồm: tiền Việt Nam; ngoại tệ, vàng bạc; kim khí, đá quí; Các chỉ tiêu phải thu nội bộ được bổ sung các chỉ tiêu chi tiết theo phạm vi phát sinh trong TCty và nội bộ Cty; Chỉ tiêu hàng tồn kho được bổ sung các chỉ tiêu chi tiết theo các ngành hàng chính là xăng dầu, hóa dầu, gas, bếp gas và phụ kiện, vỏ bình gas, hàng hóa khác.

Hệ thống  BCTC  tổng hợp sử dụng biểu mẫu của  BCTC . Nguyên tắc trình bày và lập báo cáo, trình tự lập  BCTC  tổng hợp theo hướng dẫn tại thông tư 23/2005/TT-BTC ngày 30/03/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Hệ thống  BCTC  hợp nhất được TCty quy định theo  CĐKT  hiện hành.  CĐKT  của TCty cũng xác định rõ trách nhiệm các đơn vị trong lập  BCTC  hợp nhất nhằm đảm bảo thông tin phục vụ cho quá trình lập báo cáo, đồng thời xác lập qui trình lập  BCTC  hợp nhất trong tập đoàn tránh lập trùng lắp hay bỏ sót các khoản đầu tư.

Hệ thống báo cáo quản trị được xây dựng theo mục đích quản trị, cụ thể bao gồm 3 nhóm:

Thứ nhất, nhóm báo cáo kết quả kinh doanh nhằm thuyết minh chi tiết kết quả kinh doanh và cung cấp các thông tin phục vụ cho  yêu cầu quản trị theo các loại hình và mặt hàng kinh doanh, trong đó:

Báo cáo chi tiết kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh chi tiết tình hình và kết quả kinh doanh theo loại hình kinh doanh như kinh doanh xăng dầu, dầu mỡ nhờn, hóa chất, nhựa đường, gas... dịch vụ khác. Trong báo cáo này chỉ tiêu hao hụt mất mát hàng tồn kho được tách riêng chi tiết trong giá vốn hàng bán do đặc thù quản lý mặt hàng xăng dầu. Chỉ tiêu tổng chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp tại các đơn vị kinh doanh xăng dầu được tập hợp theo từng hoạt động: Xăng dầu, dầu mỡ nhờn, hóa chất, nhựa đường, gas... dịch vụ khác và được tổng hợp chung trong một chỉ tiêu theo đặc thù quản lý nội bộ TCty mà không tách biệt thành các chỉ tiêu độc lập.

Thứ hai, nhóm báo cáo hàng hóa gồm các báo cáo về  tiêu thụ, cân đối nhập-xuất-tồn kho hàng hóa và các phụ biểu nhập, xuất đi kèm. Nhóm báo cáo này cung cấp các thông tin về tình hình tiêu thụ hàng hóa dịch vụ theo các phương thức, thuyết minh chi tiết biến động kho hàng hóa về: tình hình nhập hàng theo nguồn hình thành, tình hình xuất hàng hóa cho các mục đích và tình hình tồn kho.

Thứ ba, nhóm báo cáo thông tin bổ sung gồm các báo cáo để cung cấp các thông tin bổ sung cho các yêu cầu quản trị và phục vụ cho lập báo cáo tài tổng hợp như báo cáo công nợ; báo cáo điều động tài sản, nguồn vốn, quỹ; báo cáo tăng giảm nguồn vốn khấu hao; báo cáo đầu tư tài chính…

Hệ thống báo cáo kiểm kê được TCty xây dựng nhằm kiểm kê định kỳ hay đột xuất về tình hình tài sản, nguồn vốn của đơn vị kế toán hiện đang quản lý và sử dụng như tiền vốn, tài sản cố định, hàng tồn kho, hàng dự trữ quốc gia…. Trong đó, báo cáo kiểm kê hàng hóa tồn kho được xây dựng chi tiết theo từng mặt hàng kinh doanh kèm theo các phụ biểu về xử lý kết quả kiểm kê, hàng hóa ứ đọng kém mất phẩm chất…

 Nhìn chung, CĐKT của Tổng Cty xăng dầu Việt Nam được trình bày ngắn gọn, đơn giản, dễ hiểu, dễ áp dụng, thuận tiện cho kiểm tra đối chiếu và phù hợp với hình thức kế toán trên máy vi tính là hình thức kế toán là hình thức kế toán được áp dụng thống nhất tại TCty. CĐKT đã qui định những nghiệp vụ cơ bản có tính chất đặc thù phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của TCty. Bên cạnh hệ thống BCTC, CĐKT còn qui định hệ thống BCQTBCKK phục vụ cho yêu cầu quản lý đặc thù của TCty, đặc biệt CĐKT đã xác lập qui trình và phương pháp lập BCTC hợp nhất trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc, các yêu cầu của các chuẩn mực kế toán và phù hợp với đặc điểm tổ chức hoạt động của Tổng Công ty xăng dầu Việt Nam.


Nguyễn Quang Nghị


Ngày đăng:27/07/2010

Phản hồi
Tin mới cập nhật
Tin đọc nhiều nhất