KIỂM TOÁN MÔI TRƯỜNG CỦA ANH QUỐC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO KIỂM TOÁN MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
                                                                       TS. Phạm Đức Hiếu
TS. Đặng Thị Hoà
Trường Đại học Thương mại

Cùng với sự quan tâm của xã hội tới các vấn đề về chất lượng môi trường sống và sự khắt khe ngày càng gia tăng của hệ thống luật pháp đã dẫn đến đòi hỏi tất yếu về thông tin môi trường trong các doanh nghiệp. Trong những năm gần đây, kiểm toán môi trường được nhìn nhận như là một công cụ cung cấp các thông tin về môi trường, làm cơ sở cho các đánh giá khả năng rủi ro về môi trường mà doanh nghiệp gây ra, nghĩa vụ môi trường của doanh nghiệp, cũng như mức độ thoả mãn đối với các tiêu chuẩn hoặc luật lệ về môi trường. Sử dụng thông tin của kiểm toán môi trường là bản thân các doanh nghiệp, khách hàng, ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng, chính quyền (trung ương và địa phương), cũng như công chúng. Kiểm toán môi trường giúp giảm các rủi ro về môi trường cũng như rủi ro về sức khoẻ cộng đồng, và cải thiện công tác quản trị môi trường ở mức độ doanh nghiệp. Bài viết này giới thiệu mô hình kiểm toán môi trường của Anh, từ đó đưa rút ra những bài học kinh nghiệm cho kiểm toán môi trường tại Việt Nam.

Tổng quan về kiểm toán môi trường
Từ những năm 1970, một vài công ty ở Châu Âu và Nam Mỹ đã bắt đầu đánh giá một cách có hệ thống sự tương thích trong hoạt động của doanh nghiệp với các thể chế, luật pháp về môi trường. Trên thực tế kiểm toán môi trường lúc đó giống với kiểm toán tài chính trên nhiều điểm và nó được biết đến với tên gọi kiểm toán môi trường. Kiểm toán môi trường lan toả một cách nhanh chóng tại các nước công nghiệp do các luật lệ về môi trường ngày càng trở lên khắt khe hơn cũng như sự gia tăng trách nhiệm của tổ chức đối với các rủi ro liên quan đến môi trường và hệ sinh thái.
Vậy thế nào là kiểm toán môi trường?
Theo phòng Thương mại và Công nghiệp quốc tế (The International Chamber of Commerce - ICC), kiểm toán môi trường được định nghĩa như là việc kiểm tra có hệ thống sự tương tác giữa hoạt động của doanh nghiệp (tổ chức) với môi trường của doanh nghiệp đó. Việc kiểm tra bao gồm: kiểm tra chất lượng chất thải ra ngoài không khí, đất và nguồn nước; sự tuân thủ các quy định của luật pháp về môi trường, ảnh hưởng và tác động của doanh nghiệp tới cộng đồng, tới cảnh quan và hệ sinh thái; cũng như nhìn nhận và đánh giá của công chúng về hoạt động doanh nghiệp tại khu vực có nhà máy hoặc trụ sở.
Cũng theo ICC, điều kiện tiên quyết cho sự thành công của kiểm toán môi trường là cam kết của các nhà quản lý nhằm duy trì hoặc tiến tới thực hiện các hành động vì môi trường. Các cam kết và hành động này được thể hiện thông qua các chính sách trong hoạt động của doanh nghiệp, thái độ cũng như nhận thức và cam kết của nhân viên trong tổ chức đối với các vấn đề môi trường.
Một cách tổng quát, để thực hiện quá trình kiểm tra một cách có hệ thống các thông tin về môi trường trong hoạt động của doanh nghiệp hoặc tổ chức, kiểm toán môi trường yêu cầu:
- Thông tin có hiệu lực và thích hợp về hoạt động của một tổ chức hoặc một cơ sở kinh doanh.
- Các nguồn tài liệu thích hợp hỗ trợ cho quá trình kiểm toán
- Sự phối hợp thích đáng tưc phía đối tượng kiểm toán
- Hồ sơ kiểm toán (ví dụ: danh mục kiểm tra – checklist, hoặc các bảng câu hỏi – questionnaire…)

Mô hình kiểm toán môi trường của Anh
Tuy là một quốc gia thuộc liên minh Châu Âu (EU), nhưng kiểm toán môi trường ở Anh đã được thực hiện ở hầu hết các ngành công nghiệp từ những năm 1990 – trước dự án về quản lý và kiểm toán môi trường (EMAS) do liên minh châu Âu khởi xướng và có hiệu lực vào tháng 4/199511 Chi tiết xem “The Eco Management and Audit of the European Union – EMAS”.
Tại Anh kiểm toán môi trường giữ một vai trò ngày càng quan trọng trong tất cả các lĩnh vực công nghiệp và thương mại. Hiệp hội công nghiệp Anh quốc (CBI – Confederation of Biritish Idustry) đã kêu gọi tất cả các công ty thuộc liên hiệp Anh thực hiện kiểm toán môi trường. Cùng với EMAS, Uỷ ban Châu Âu đã phác thảo các luật lệ khuyến khích thực hiện và sử dụng kiểm toán môi tửờng tại các quốc gia thuộc cộng đồng Châu Âu. Tại Anh, thực tế là rất nhiều công ty lớn (có thực hiện kiểm toán môi trường) đã yêu cầu các nhà cung cấp và khách hàng của họ cả trong và ngoài nước Anh cũng phải thực hiện kiểm toán môi trường, hoặc đáp ứng được những yêu cầu nhất định về tiêu chuẩn môi trường trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Để thực hiện kiểm toán, trung tâm về môi trường và kinh doanh của Anh (CEBIS – Centre for Environment and Business in Scoland) đã có những hướng dẫn cụ thể về kiểm toán môi trường. Một cách tóm tắt, các hướng dẫn này bao gồm:
- Định nghĩa và giới thiệu tổng quan
- Quy trình kiểm toán môi trường
- Nội dung kiểm toán môi trường
- Một số loại kiểm toán môi trường chủ yếu
Trong phạm vi của bài viết này, chúng tôi xin trình bày tóm tắt những nội dung chính liên quan đến mô hình kiểm toán môi trường của Anh theo bản hướng dẫn nói trên.
Về phạm vi và mục tiêu của kiểm toán môi trường
Dựa trên kết quả khảo sát và phỏng vấn các doanh nghiệp đã thực hiện kiểm toán môi trường có thể tóm tắt những vấn đề về phạm vi và mục tiêu kiểm toán môi trường trong bảng dưới đây:
Bảng 1: Phạm vi và mục tiêu của kiểm toán môi trường
Lý do (tại sao rất nhiều công ty sử dụng kiểm toán môi trường như là một công cụ quản lý?)    - Đương đầu với những đòi hỏi ngày càng cao của hệ thống luật pháp của Anh cũng như của cộng đồng Châu Âu
- Trách nhiệm xã hội ngày càng tăng nhanh của doanh nghiệp cũng như của cá nhân
- Sự gia tăng nhanh chóng của chi phí về rác thải
- áp lực về cạnh tranh so với các Dn khác do những hành động về môi trường của họ
- Sự gia tăng áp lực của cộng đồng   
Mục tiêu kiểm toán môi trường (kiểm toán môi trường có thể làm những gì cho doanh nghiệp?)    - Đảm bảo rằng đối tượng kiểm toán tuân thủ các quy định của pháp luật (về môi trường)
- Cắt giảm chi phí về rác thải
- Giảm chi phí về nhiên liệu và vật liệu
- Cải thiện hình ảnh của DN
- Trợ giúp trong việc hình thành các chính sách về môi trường   
Phạm vi của kiểm toán môi trường (Kiểm toán môi trường liên quan đến những vấn đề gì?)    - Đánh giá khả năng liệu hoạt động của DN có thể được thực hiện một cách hiệu quả hơn ở góc độ sử dụng nguồn lực và quản lý chất thải hoặc ở khả năng giảm thiểu rủi ro về ô nhiễm
- Đánh giá cách thức ứng xử với vấn đề chất thải của quá trình sản xuất, tìm ra các cách thức tốt hơn đối với quản lý chất thải
- Xem xét các vấn đề liên quan đến nguyên liệu thay thế đặc biệt là các nguyên liệu sạch.
- Định hướng cho các kế hoạch về môi trường của DN   
Người tiến hành kiểm toán (Ai có thể tiến hành kiểm toán môi trường?)    - Nếu Dn có chuyên gia thích hợp có thể thực hiện kiểm toán nội bộ. Tuy nhiên, DN cũng có thể mới kiểm toán độc lập   
Các vấn đề sau kiểm toán    - Xác định mục tiêu của DN trên cơ sở kết quả kiểm toán và đưa vào các chính sách chính thức về môi trường của tổ chức (kế hoạch hành động)
- Thường xuyên kiểm tra việc thực hiện các chính sách về môi trường của DN
- Kết hợp yếu tố môi trường trong các chương trình đào tạo nhân viên cũng như trong các công bố thông tin ra bên ngoài.   

Về quy trình kiểm toán và nội dung kiểm toán
Nhìn chung, quy trình kiểm toán môi trường cũng được tiến hành theo ba giai đoạn: chuẩn bị kiểm toán; thực hành kiểm toán; kết thúc và theo dõi sau kiểm toán. Các bước và nội dung của một quy trình kiểm toán môi trường có thể tóm tắt bằng sơ đồ sau.
Sơ đồ 1: Trình tự và nội dung kiểm toán môi trường
Về phân loại kiểm toán môi trường
Dựa vào nội dung kiểm tra và các bảng câu hỏi của kiểm toán viên, kiểm toán môi trường có thể được chia thành 6 loại cơ bản sau:
Bảng 2: Các loại kiểm toán môi trường chủ yếu
Kiểm toán tuân thủ (legal compliance)    Kiểm toán chất thải (waste)   
Kiểm toán viên sẽ tập trung điều tra dựa vào các câu hỏi sau:
- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các quy định và chuẩn mực của liên hiệp Anh hoặc cộng đồng Châu Âu tới doanh nghiệp - đối tượng kiểm toán?
- DN có thực hành theo các yêu cầu của các chuẩn mực và quy định đó?
- DN có tính đến các tiêu chuẩn về môi trường trong tương lai khi lập kế hoạch cho các dự án mới?
- DN có biết đến các kỹ thuật mới nhất?
- DN có cập nhật các quy định về môi trường?    Kiểm toán viên sẽ tập trung điều tra dựa vào các câu hỏi sau:
- Những chất thải mà DN tạo ra và bằng cách nào để loại bỏ chúng?
- Liệu các chất thải của DN có thể hạn chế đến mức tối thiểu, tái chế hoặc loại trừ?
- DN có tham gia vào các dự án về trao đổi chất thải? (ví dụ bán chất thải cho DN khác để sử dụng như là nguyên liệu thô…)
- DN có tái chế các phế thải văn phòng?
- DN có quy trình cảnh báo đối với các tai nạn như tràn dầu hoặc rò rỉ khí ga…?   
Kiểm toán vận chuyển (Transport)    Kiểm toán nguyên vật liệu(Materials)   
- DN có lịch trình vận chuyển hàng hoá hiệu quả? (ví dụ tránh để phương tiện chở hàng bị rỗng)
- Những cảnh báo đặc biệt nào DN đã tiến hành khi vận chuyển những hàng hoá hoặc rác thải độc hại?
- DN thường xuyên bảo trì phương tiện nhằm giảm thiểu khí độc hại?
- DN có thể chuyển đối phương tiên chuyên chở với động cơ nhỏ hơn?
- DN có chiến lược giảm thiểu việc đưa đón nhân viên bằng phương tiện cơ giới, có chính sách khuyến khích sử dụng phương tiện thay thế như hỗ trợ cho những người dùng xe đạp?
    - DN có khả năng giảm việc sử dụng nguyên vật liệu? Ví dụ thay đổi kiểu dáng, kích thước để giảm chi phí vật liệu và bao bì
- DN có tái chế nguyên vật liệu khi có cơ hội?
- DN có thể sử dụng các loại vật liệu thân thiện hơn với môi trường? (ví dụ: nguyên vật liệu có thể tái chế, có thể tái tạo, và ít ô nhiễm
   
Kiểm toán sử dụng năng lượng
 (Enrgy use)    Kiểm toán tác động tới môi trường sống (Lanscapes & Habitats)   
- Số  năng lượng DN đã sử dụng? DN có thường xuyên kiểm tra việc sử dụng năng lượng của mình?
- DN có khả năng sử dụng kết hợp giữa nhiệt năng và điện năng?
- DN có khả năng tiết kiệm nhiên liệu?
Ví dụ có thể kiểm soát tốt hơn hệ thống chiếu sáng, hệ thống đối lưu không khí    - DN có hoạt động nào ảnh hưởng tới cảnh quan và môi trường sống?
- Các cơ sở sản xuất của DN có sạch sẽ, yên tĩnh và không có khói bụi như là chúng có thể?
- Cảnh quan của các cơ sở sản xuất có làm cho chúng thêm hấp dẫn?
- DN có bảo vệ môi trường tự nhiên quanh khu vực sản xuất trong một mức độ nhất định   

Kết quả to lớn của kiểm toán môi trường
Theo số liệu điều tra của Hiệp hội Công nghiệp Anh (CBI)quốc và Trung tâm về Môi trường và Kinh doanh của Anh (CEBIS), kiểm toán môi trường đã giúp cho các doanh nghệp và các lĩnh vực trong nền kinh tế thu được những kết quả đáng lưu tâm. Bảng sau đây trình bày số liệu về chi phí tiết kiệm hàng năm ở một số doanh nghiệp và tổ chức như là kết quả của kiểm toán môi trường.
Bảng 3: Lợi ích kinh tế do kiểm toán môi trường mang lại tại một số ngành, lĩnh vực
Lĩnh vực    Biện pháp thực hiện sau kiểm toán môi trường    Chi phí tiết kiệm hàng năm    Thời gian hoàn vốn   
Điện (truyền tải điện)    Giảm tổn thất nhờ thay thế dây dẫn mới bằng đồng    Ê 27,000    2 năm   
Luyện kim    Thu hồi các bụi kim loại trong sản xuất     Ê 76,000    3 tháng   
Công nghiệp thực phẩm (chế biến)    Sử dụng hiệu quả nguồn nước và xử lý hiệu quả chất thải lỏng tại một nhà máy đường    Ê 200,000    10 tháng   
Công cộng    sản xuất điện từ rác thải    Ê 70,000    2 năm   
Bán lẻ        Ê 32,000    22 tháng   
Thực trạng kiểm toán môi trường ở Việt Nam – kiến nghị và giải pháp
Thực trạng kiểm toán môi trường ở Việt Nam
Kể từ khi Việt Nam ban hành Luật môi trường lần đầu vào năm 1993 và Luật bảo vệ môi trường sửa đổi vào năm 2005, công tác quản lý và bảo vệ môi trường đã có những bước tiến đáng kể, đặc biệt là nhận thức của cộng đồng xã hội, vì cộng đồng doanh nghiệp trong việc bảo vệ môi trường sống, môi trường làm việc và môi trường kinh doanh. Thực tế là có rất nhiều doanh nghiệp, tổ chức đang hướng tới một quy trình sản xuất kinh doanh hoặc cung ứng dịch vụ theo tiêu chuẩn “xanh, sạch”, thân thiện với môi trường và phù hợp với chiến lượng phát triển bền vững. Công tác quản lý và bảo vệ môi trường được xã hội hoá với sự tham gia của nhiều tổ chức, cá nhân như các tổ chức bảo vệ môi trường, thanh tra môi trường, cảnh sát môi trường…
Tuy nhiên, bên cạnh những biến chuyển bước đầu, công tác quản lý bảo vệ môi trường ở Việt Nam vẫn còn những tồn tại nhất định. Có thể tóm tắt những nét chính sau:
- Công tác quản lý và bảo vệ môi trường mới chỉ dừng lại ở hình thức xử lý sự vụ, chưa có các kiến nghị cụ thể về công tác phòng chống ô nhiễm cũng như đánh giá kinh tế, hiệu quả, hiệu lực trong việc sử dụng các nguồn lực, nguồn kinh phí của quốc gia cũng như của doanh nghiệp.
- Công tác thanh tra, kiểm tra về môi trường chủ yếu được thực hiện thông qua các báo cáo đánh giá tác động môi trường của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động hoặc thành lập và triển khai dự án. Tuy nhiên các báo cáo này hoặc là không được lập hoặc chỉ là hình thức cho đủ thủ tục.
- Công tác tiền kiểm chưa nghiêm, công tác kiểm tra giám sát chưa chặt chẽ thậm chí bị buông lỏng nên chủ yếu là hậu kiểm và giải quyết hậu quả, điển hình như vụ của Công ty Vedan vừa qua.
- Chưa có sự phối hợp chặt chẽ các Bộ ngành, đặc biệt là Bộ tài nguyên và môi trường cũng như Bộ khoa học và công nghệ, Bộ thương mại cho việc cấp chứng chỉ cho các sản phẩm sạch và khuyến khích người dân và DN sử dụng sản phẩm hoặc nguyên liệu tái chế.
- Các chế tài luật pháp về môi trường chưa thực sự hiệu quả, chủ yếu là xử phạt hành chính dưới hình thức nộp phạt cho tồn tại22 Theo NĐ 81/2006/NĐ-CP “Về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường”, mức quy định phạt tiền đối với một hành vi vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là: 70.000.000đồng., nên việc tái phạm của doanh nghiệp là điều không tránh khỏi.
Nguyên nhân của những tồn tại
 Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó phải kể đến:
- Nhận thức về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility)33 Khái niệm trách nhiệm đối với xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility) được Milton Friendman nhà kinh tế học người Mỹ đoạt giải thưởng Nobel kinh tế năm 1976 đưa ra từ những năm 1970 với câu nói nổi tiếng: “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp sẽ làm tăng lợi nhuận của họ”., tổ chức đối với cộng đồng còn ở trình độ thấp. Nhân tố môi trường hầu như chưa được tính đến trong các phương án sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
- Các văn bản pháp lý và các tiêu chuẩn về môi trường trong hoạt động của doanh nghiệp còn thiếu và chưa đồng bộ.
- Việt Nam chưa xây dựng được một ngân hàng dữ liệu về môi trường quốc gia (thông tin về tài sản môi trường. Ví dụ: tài nguyên nước, khoáng sản, rừng; các công nghệ xử lý chất thải; các bộ tiêu chuẩn môi trường trong từng ngành, lĩnh vực, danh sách các công ty vi phạm và xử lý theo các chế tài về môi trường…) làm cơ sở cho các đối chiếu và kiến nghị của kiểm toán viên.
- Chưa có một văn bản pháp lý quy định rõ ai có chức năng kiểm toán môi trường (trong trường hợp doanh nghiệp, tổ chức bắt buộc phải kiểm toán)
- Công tác đào tạo các chuyên gia hoặc kiểm toán viên có kiến thức về kiểm toán môi trường còn rất hạn chế, do đó chưa xây dựng được một đội ngũ kiểm toán viên môi trường chuyên nghiệp.
- Hiệp hội nghề nghiệp về kiểm toán cũng chưa phối hợp với các cơ quan, tổ chức về môi trường để xây dựng được một quy trình, phương pháp riêng đối với kiểm toán môi trường.
- Chưa có những quy định hoặc hướng dẫn liên quan đến kế toán môi trường trong các DN, vì vậy thông tin phục vụ cho kiểm toán môi trường bị hạn chế.
- Đặc điểm của một nền kinh tế chuyển đổi, với tốc độ phát triển kinh tế cao, nhu cầu tiêu dùng cho cả sản xuất và sinh hoạt ở mứ độ lớn nên các tiêu chuẩn về môi trường thường bị xem nhẹ.
Các kiến nghị cho kiểm toán môi trường ở Việt Nam
Được nhìn nhận như là một công cụ trong quản lý, theo chúng tôi kiểm toán môi trường trong điều kiện cụ thể của Việt Nam hiện nay trước hết nên thực hiện ở hai mức độ: kiểm toán nội bộ (phục vụ cho công tác quản lý của DN) và kiểm toán Nhà nước (phục vụ cho công tác quản lý môi trường của Nhà nước ở tầm vĩ mô nền kinh tế). Và trên thực tế, kiểm toán Nhà nước về môi trường ở giai đoạn đầu, có thể sẽ là bắt buộc (theo luật định) đối với các doanh nghiệp, tổ chức. Khi đó, kiểm toán Nhà nước có thể xem xét lại các báo cáo kiểm toán môi trường do kiểm toán viên nội bộ DN tiến hành hoặc thực hiện một cuộc kiểm toán mới khi thấy cần thiết hoặc đối với các DN không có kiểm toán nội bộ.
Về nội dung, quy trình kiểm toán môi trường có thể tham khảo kinh nghiệm của các nước trong khu vực (ví dụ như các chính sách về kiểm toán môi trường của Indonesia), hoặc của các nước có trình độ kinh tế phát triển như mô hình kiểm toán môi trường của Anh vừa trình bày ở trên, có tính đến những nét đặc thù của Việt Nam.
Khi nhận thức về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đã được nâng cao, cùng với sự phát triển của kiểm toán nội bộ về môi trường, cũng như sự đồng bộ của các định chế luật pháp và các tiêu chuẩn môi trường, các DN có thể sử dụng dịch vụ kiểm toán môi trường được thực hiện bởi các công ty, hãng kiểm toán chuyên nghiệp bên cạnh kiểm toán báo cáo tài chính. Theo chúng tôi, đó chính là hướng cơ bản và lâu dài cho kiểm toán môi trường ở Việt Nam phát triển.

Tài liệu tham khảo
1.    Centre for Environment and Business in Scotland (CEBIS), 1991, Guidance on the Conduct of Environmental Audits
2.    Gray, B. et al, 1993, Accounting for the Environment: The Greening of Accountancy, Part II.Paul Chapman Publishing Ltd.
3.    Nguyễn Tuấn Trung, 2008, Kiểm toán môi trường và những thách thức đặt ra đối với Kiểm toán Nhà nước Việt Nam. Tạp chí nghiên cứu khoa học kiểm toán,  số 07, 04/2008, tr.19-23
4.    The International Chamber of Commerce (ICC), 1989, Environmental Auditing. Paris: ICC
5.    The World Bank, Environmental Auditing. http://www.worldbank.org
6.    The European Eo-Management and Audit Scheme. Http://ec.europa.eu/environment/emas/index__en.htm
7.    Phạm Đức Hiếu, 2008, Kế toán môi trường: Một góc nhìn từ khía cạnh trách nhiệm xã hội của tổ chức; Tạp chí Khoa học Thương mại, số 24. 06/2008, trang 33 – 37.



Ngày đăng:21/12/2009

Phản hồi
Tin mới cập nhật
Tin đọc nhiều nhất